Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Huỳnh Dung
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Việt Nam Ngày Mai
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết


Bài Mới Nhất



..

Máu và nước mắt 
trên lưng Trường Sơn.


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 1


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 2


Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm
Thơ Trần Thúc Vũ


Thơ chiến đấu của Hải Triều, 
Lê Khắc Anh Hào, Ý Yên, 
Trần Thúc Vũ.



VIỆT NAM NGÀY MAI
DÂN CHỦ - TỰ DO - CÔNG BẰNG - TIẾN BỘ

HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TÔN GIÁO VN
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HẢI NGOẠI CHỦ TRƯƠNG

ĐẶC SAN MÙA XUÂN SỐ 1



TUYÊN BỐ CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VIỆT NAM
BẢN HIẾN PHÁP HIỆN HÀNH CỦA NƯỚC CHXHCNVN
KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ
HOÀNG MINH CHÍNH

* * *

TẦM QUAN TRỌNG CỦA HIẾN PHÁP TRONG THỂ CHẾ CỘNG HÒA 

Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, là luật pháp tối cao của quốc gia, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Hiến pháp đề ra chính thể của quốc gia. Hiến pháp chính là bản định hướng cho công việc lập pháp và cho việc diễn giải pháp luật. Hiến pháp chỉ định mục đích của Nhà nước, bảo đảm các quyền của công dân và những giới hạn của Nhà nước, đồng thời bảo đảm tính chất ổn định và hợp pháp của Nhà nước. Do đó, hiến pháp phải được thượng tôn và không thể bị thay đổi thường xuyên hay dễ dàng. Hiến pháp chỉ có giá trị pháp lý khi được quốc dân chấp thuận và được thông qua theo một thủ tục pháp lý nhất định. Thủ tục này tùy theo qui định ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam , thủ tục thông qua trong việc sửa đổi hiến pháp, cơ bản là: phải đưa ra toàn dân phúc quyết khi đã được Nghị viện ưng chuẩn. Thủ tục này được qui định tại Điều 70 của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946. Quyền phúc quyết hiến pháp là nguyên tắc thiết yếu của hiến pháp trong thể chế cộng hòa, là quyền tối thượng của nhân dân. 

HIẾN PHÁP NĂM 1946 LÀ HIẾN PHÁP NGUYÊN THỦY, CHÍNH DANH 

Năm 1945, với công lao của toàn dân, chủ quyền quốc gia đã thuộc về nhân dân. Do vậy mới có cuộc tổng tuyển cử vào đầu năm 1946 bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước ta (Quốc hội khóa I). Đến gần cuối năm 1946, Quốc hội đại diện cho toàn quốc, toàn dân, thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp nguyên thủy, chính danh, hợp lòng dân và văn minh thế giới. Sự chính danh của Hiến pháp năm 1946 cũng được xác nhận bởi các Hiến pháp kế sau. Lời nói đầu của Hiến Pháp 1959 có ghi: “Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.” Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980 có nhắc lại: “Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959.” Và lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992 ghi: “Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.” Các trích dẫn đó chứng tỏ các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đều chính thức thừa nhận Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp nguyên thủy và chính danh kể từ đó. 

NHỮNG THAY ĐỔI HIẾN PHÁP HỆ TRỌNG MÀ NHÂN DÂN KHÔNG ĐƯỢC PHÚC QUYẾT: 

Từ năm 1946 đến nay, Việt Nam đã có bốn Hiến pháp. Đó là vào các năm 1946, 1959, 1980 và 1992. Rõ ràng, Hiến pháp Việt Nam là Hiến pháp bất thường vì liên tục bị thay đổi và dễ dàng bị thay đổi. Hiến pháp năm 1959 thay đổi chính thể từ ‘dân chủ cộng hòa’ sang ‘dân chủ nhân dân’. Hiến pháp năm 1980 thay đổi tên Nước thành Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tu chính Hiến pháp năm 1992 thay đổi ý nghĩa của Nhà nước từ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thành Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ….  Các thay đổi trên là những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, nhân dân phải được quyền phúc quyết. Và quyền này cũng đã được qui định tại Điều 21 và Điều 70 Hiến pháp năm 1946. Thế nhưng không một cuộc trưng cầu dân ý nào được tổ chức trong các lần sửa đổi Hiến pháp. Như vậy, Nhà nước không tôn trọng nhân dân và xem thường các quy tắc Hiến định cơ bản. 

HIẾN PHÁP NĂM 1992 KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ:

Bản Hiến pháp hiện hành công bố năm 1992, dù đã tu chỉnh năm 2001, nhưng vẫn chưa phải là bản hiến pháp hợp lệ vì những lý do sau: 

1. Nhiều điều luật mâu thuẫn, không chuẩn mực trong bản Hiến pháp 1992 đã gây bất ổn định chính trị kéo dài, gây bất công xã hội ngày một gia tăng, khiến chính quyền đã phải lo sợ cho sự sụp đổ của chế độ. Sau đây là vài điều tiêu biểu gây bất bình nghiêm trọng trong xã hội: Điều 4 Hiến pháp quy định : “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội …”. Không một hiến pháp chuẩn mực nào lại khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối và vĩnh viễn cho một đảng!  Khẳng định quyền lãnh đạo của đảng CSVN trong Hiến pháp là tước đoạt quyền làm chủ của nhân dân quy định tại điều 2 Hiến pháp. Quyền lực Nhà nước phải được nhân dân thỏa thuận trao cho thông qua bầu cử tự do và công bằng. Việc khẳng định quyền lãnh đạo đương nhiên của một đảng đồng nghĩa với việc phủ nhận quyền làm chủ của nhân dân. Chủ nghĩa Mác Lênin chỉ là một luồng tư tưởng trong xã hội, quy định quyền lãnh đạo cho đảng CSVN cùng ý thức hệ Mác Lênin trong Điều 4 là chống lại việc thực hiện mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ qui định tại Điều 3 Hiến pháp. Vấn đề này gây chia rẽ trong xã hội, vi phạm chính sách bình đẳng, chống lại nguyên tắc đoàn kết dân tộc. Chưa kể chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị thực tế bác bỏ ngay tại Đức, nguồn gốc của chủ nghĩa Mác, và tại Nga, một thời là thành trì của chủ nghĩa xã hội. Điều 4 Hiến Pháp vi phạm Luật Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, đặc biệt quyền dân tộc tự quyết quy định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 21) và Công Ước Dân Sự Chính Trị (Điều 1). - Điều 83 quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp …”. Tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội lại là đảng viên đảng CSVN. Như vậy, cùng với Điều 4, Điều 83 tạo cơ sở pháp lý cho chế độ độc đảng toàn trị. Dựa trên hai điều khoản đó, đảng CSVN sử dụng Quốc hội như một công cụ để tự cho mình quyền lực Nhà nước.- Điều 147 Hiến pháp qui định chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp, với hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Với Quốc hội độc đảng và thủ tục thông qua Hiến pháp đơn giản và dễ dàng như vậy, việc sửa đổi Hiến pháp không khác gì việc thông qua hoặc sửa đổi điều lệ của một đảng phái.

2. Hiến pháp năm 1992 đã không đề cập đến quyền phúc quyết hiến pháp của nhân dân, một quyền cơ bản thiết yếu quy định tại Điều 70 Hiến pháp đầu tiên năm 1946, một thủ tục pháp lý không thể bỏ qua mỗi khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi hiến pháp. Thủ tục phúc quyết cần được hiểu là sự phê chuẩn của nhân dân bằng lá phiếu qua cuộc trưng cầu ý dân. Rõ ràng, thủ tục sửa đổi hiến pháp quy định bởi Quốc hội đầu tiên đã không được các Quốc hội kế tiếp tuân hành khi sửa đổi và thông qua hiến pháp.

Tất cả các vi phạm nêu trên là nghiêm trọng, nhưng vi phạm nghiêm trọng hơn cả là Hiến pháp năm 1992 đã loại bỏ hẳn quyền phúc quyết hiến pháp của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 không hề được nhân dân phúc quyết. Đó là cơ sở pháp lý chứng minh bản Hiến pháp 1992 không có giá trị pháp lý. Tương tự, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980, với sự thiếu sót nghiêm trọng này, cũng không thể được coi là hợp lệ. Bản tuyên bố này nhằm mục đích nêu lên sự cấp thiết của một bản Hiến pháp mới cho đất nước. Bản công bố được để ngỏ cho sự đóng góp ý kiến của các chuyên gia, các trí thức và toàn thể đồng bào. 

Hà Nội, ngày 20  tháng 11 năm 2007
Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ Việt Nam
Gs Hoàng Minh Chính


BS Phạm Hồng Sơn đại diện Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị &Tôn Giáo Việt Nam 
đại diện tham dự buổi tang lễ cụ Hoàng Minh Chính.


 
Trang Bìa 
Ðầu trang