VIỆT
NAM NGÀY MAI
DÂN
CHỦ - TỰ DO - CÔNG BẰNG - TIẾN BỘ
HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH
TRỊ TÔN GIÁO VN
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HẢI
NGOẠI CHỦ TRƯƠNG
ĐẶC
SAN MÙA XUÂN SỐ 1
TUYÊN
BỐ CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VIỆT NAM
BẢN
HIẾN PHÁP HIỆN HÀNH CỦA NƯỚC CHXHCNVN
KHÔNG
CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ
HOÀNG MINH CHÍNH
* * *
TẦM QUAN TRỌNG CỦA
HIẾN PHÁP TRONG THỂ CHẾ CỘNG HÒA
Hiến pháp là luật cơ
bản của Nhà nước, là luật pháp tối cao của quốc gia,
có hiệu lực pháp lý cao nhất. Hiến pháp đề ra chính thể
của quốc gia. Hiến pháp chính là bản định hướng cho công
việc lập pháp và cho việc diễn giải pháp luật. Hiến pháp
chỉ định mục đích của Nhà nước, bảo đảm các quyền
của công dân và những giới hạn của Nhà nước, đồng thời
bảo đảm tính chất ổn định và hợp pháp của Nhà nước.
Do đó, hiến pháp phải được thượng tôn và không thể bị
thay đổi thường xuyên hay dễ dàng. Hiến pháp chỉ có giá
trị pháp lý khi được quốc dân chấp thuận và được thông
qua theo một thủ tục pháp lý nhất định. Thủ tục này tùy
theo qui định ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam , thủ tục thông
qua trong việc sửa đổi hiến pháp, cơ bản là: phải đưa
ra toàn dân phúc quyết khi đã được Nghị viện ưng chuẩn.
Thủ tục này được qui định tại Điều 70 của bản Hiến
pháp đầu tiên năm 1946. Quyền phúc quyết hiến pháp là nguyên
tắc thiết yếu của hiến pháp trong thể chế cộng hòa, là
quyền tối thượng của nhân dân.
HIẾN PHÁP NĂM 1946
LÀ HIẾN PHÁP NGUYÊN THỦY, CHÍNH DANH
Năm 1945, với công lao
của toàn dân, chủ quyền quốc gia đã thuộc về nhân dân.
Do vậy mới có cuộc tổng tuyển cử vào đầu năm 1946 bầu
ra Quốc hội đầu tiên của nước ta (Quốc hội khóa I). Đến
gần cuối năm 1946, Quốc hội đại diện cho toàn quốc, toàn
dân, thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Hiến pháp năm 1946
là bản Hiến pháp nguyên thủy, chính danh, hợp lòng dân và
văn minh thế giới. Sự chính danh của Hiến pháp năm 1946 cũng
được xác nhận bởi các Hiến pháp kế sau. Lời nói đầu
của Hiến Pháp 1959 có ghi: “Trong giai đoạn mới của cách
mạng, Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946
cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.” Lời
nói đầu của Hiến pháp năm 1980 có nhắc lại: “Kế thừa
và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959.”
Và lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992 ghi: “Qua các
thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp
năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.” Các
trích dẫn đó chứng tỏ các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992
đều chính thức thừa nhận Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp
nguyên thủy và chính danh kể từ đó.
NHỮNG THAY ĐỔI HIẾN
PHÁP HỆ TRỌNG MÀ NHÂN DÂN KHÔNG ĐƯỢC PHÚC QUYẾT:
Từ năm 1946 đến nay,
Việt Nam đã có bốn Hiến pháp. Đó là vào các năm 1946, 1959,
1980 và 1992. Rõ ràng, Hiến pháp Việt Nam là Hiến pháp bất
thường vì liên tục bị thay đổi và dễ dàng bị thay đổi.
Hiến pháp năm 1959 thay đổi chính thể từ ‘dân chủ
cộng hòa’ sang ‘dân chủ nhân dân’. Hiến pháp năm 1980
thay
đổi tên Nước thành Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam từ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tu chính Hiến
pháp năm 1992 thay đổi ý nghĩa của Nhà nước
từ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thành
Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân …. Các thay đổi trên là những việc
liên quan đến vận mệnh quốc gia, nhân dân phải được quyền
phúc quyết. Và quyền này cũng đã được qui định tại Điều
21 và Điều 70 Hiến pháp năm 1946. Thế nhưng không một cuộc
trưng cầu dân ý nào được tổ chức trong các lần sửa đổi
Hiến pháp. Như vậy, Nhà nước không tôn trọng nhân dân và
xem thường các quy tắc Hiến định cơ bản.
HIẾN PHÁP NĂM 1992
KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ:
Bản Hiến pháp hiện
hành công bố năm 1992, dù đã tu chỉnh năm 2001, nhưng vẫn
chưa phải là bản hiến pháp hợp lệ vì những lý do sau:
1. Nhiều điều luật
mâu thuẫn, không chuẩn mực trong bản Hiến pháp 1992 đã gây
bất ổn định chính trị kéo dài, gây bất công xã hội ngày
một gia tăng, khiến chính quyền đã phải lo sợ cho sự sụp
đổ của chế độ. Sau đây là vài điều tiêu biểu gây
bất bình nghiêm trọng trong xã hội: Điều 4 Hiến pháp quy
định : “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của
giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội …”. Không
một hiến pháp chuẩn mực nào lại khẳng định quyền lãnh
đạo tuyệt đối và vĩnh viễn cho một đảng! Khẳng định
quyền lãnh đạo của đảng CSVN trong Hiến pháp là tước
đoạt quyền làm chủ của nhân dân quy định tại điều 2
Hiến pháp. Quyền lực Nhà nước phải được nhân dân thỏa
thuận trao cho thông qua bầu cử tự do và công bằng. Việc
khẳng định quyền lãnh đạo đương nhiên của một đảng
đồng nghĩa với việc phủ nhận quyền làm chủ của nhân
dân. Chủ nghĩa Mác Lênin chỉ là một luồng tư tưởng trong
xã hội, quy định quyền lãnh đạo cho đảng CSVN cùng ý thức
hệ Mác Lênin trong Điều 4 là chống lại việc thực hiện
mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ qui định tại Điều
3 Hiến pháp. Vấn đề này gây chia rẽ trong xã hội, vi phạm
chính sách bình đẳng, chống lại nguyên tắc đoàn kết dân
tộc. Chưa kể chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị thực tế bác bỏ
ngay tại Đức, nguồn gốc của chủ nghĩa Mác, và tại Nga,
một thời là thành trì của chủ nghĩa xã hội. Điều 4 Hiến
Pháp vi phạm Luật Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc,
đặc biệt quyền dân tộc tự quyết quy định trong Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 21) và Công Ước Dân Sự
Chính Trị (Điều 1). - Điều 83 quy định “Quốc hội
là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập
pháp …”. Tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội lại
là đảng viên đảng CSVN. Như vậy, cùng với Điều 4, Điều
83 tạo cơ sở pháp lý cho chế độ độc đảng toàn trị.
Dựa trên hai điều khoản đó, đảng CSVN sử dụng Quốc hội
như một công cụ để tự cho mình quyền lực Nhà nước.-
Điều 147 Hiến pháp qui định chỉ Quốc hội mới có quyền
sửa đổi Hiến pháp, với hai phần ba tổng số đại biểu
Quốc hội biểu quyết tán thành. Với Quốc hội độc đảng
và thủ tục thông qua Hiến pháp đơn giản và dễ dàng như
vậy, việc sửa đổi Hiến pháp không khác gì việc thông
qua hoặc sửa đổi điều lệ của một đảng phái.
2. Hiến pháp năm
1992 đã không đề cập đến quyền phúc quyết hiến pháp
của nhân dân, một quyền cơ bản thiết yếu quy định tại
Điều 70 Hiến pháp đầu tiên năm 1946, một thủ tục pháp
lý không thể bỏ qua mỗi khi Quốc hội thông qua việc sửa
đổi hiến pháp. Thủ tục phúc quyết cần được hiểu là
sự phê chuẩn của nhân dân bằng lá phiếu qua cuộc trưng
cầu ý dân. Rõ ràng, thủ tục sửa đổi hiến pháp quy định
bởi Quốc hội đầu tiên đã không được các Quốc hội
kế tiếp tuân hành khi sửa đổi và thông qua hiến pháp.
Tất cả các vi phạm
nêu trên là nghiêm trọng, nhưng vi phạm nghiêm trọng hơn cả
là Hiến pháp năm 1992 đã loại bỏ hẳn quyền phúc quyết
hiến pháp của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 không hề được
nhân dân phúc quyết. Đó là cơ sở pháp lý chứng minh bản
Hiến pháp 1992 không có giá trị pháp lý. Tương tự, Hiến
pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980, với sự thiếu sót nghiêm
trọng này, cũng không thể được coi là hợp lệ. Bản tuyên
bố này nhằm mục đích nêu lên sự cấp thiết của một
bản Hiến pháp mới cho đất nước. Bản công bố được
để ngỏ cho sự đóng góp ý kiến của các chuyên gia, các
trí thức và toàn thể đồng bào.
Hà Nội, ngày 20 tháng
11 năm 2007
Tổng Thư Ký Đảng
Dân Chủ Việt Nam
Gs Hoàng Minh Chính
BS Phạm Hồng Sơn đại diện Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính
Trị &Tôn Giáo Việt Nam
đại diện tham dự buổi tang lễ cụ Hoàng Minh Chính.
|