Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Huỳnh Dung
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Việt Nam Ngày Mai
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết


Bài Mới Nhất



..

Máu và nước mắt 
trên lưng Trường Sơn.


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 1


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 2


Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm
Thơ Trần Thúc Vũ


Thơ chiến đấu của Hải Triều, 
Lê Khắc Anh Hào, Ý Yên, 
Trần Thúc Vũ.



VIỆT NAM NGÀY MAI
DÂN CHỦ - TỰ DO - CÔNG BẰNG - TIẾN BỘ

HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TÔN GIÁO VN
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HẢI NGOẠI CHỦ TRƯƠNG

ĐẶC SAN MÙA XUÂN SỐ 1



BA MƯƠI NĂM NGÀY QUỐC HẬN 
NHÌN LẠI LỊCH SỬ … 
PHẠM TRẦN ANH 

* * *

Kể từ khi Liên Xô và Khối Đông Âu xụp đổ, chủ nghĩa Cộng sản đã bị loài người vất vào giỏ rác của lịch sử thế mà cộng sản Việt Nam vẫn còn tồn tại như một thách thức không những của đồng bào Việt Nam chúng ta mà còn thách thức cả lương tri của nhân loại? Chúng ta phải nhìn lại lịch sử, nhân chân được sự thực lịch sử để từ đó chúng ta phải làm gì để sớm giải thể chế độ Cộng sản bạo tàn mang lại tự do dân chủ thực sự, ấm no hạnh phúc thực sự cho mọi người dân Việt Nam chúng ta. Vấn đề đặt ra là tại sao Cộng sản thành công trong khi các đảng phái Quốc gia lại thất bại và cho đến bây giờ nhiều người Việt Nam chúng ta chưa hiểu rõ bản chất của cuộc chiến Việt Nam nên vẫn bị Cộng sản tuyên truyền là họ có công giải phóng dân tộc như chính cựu Thủ tướng CS Võ văn Kiệt vẫn rêu rao? 

Chúng ta điểm lại những sự kiện lịch sử để có cái nhìn đúng đắn hơn, một khi mọi người rõ sự thật lịch sử thì kể cả những người cộng sản cuồng tín nhất, một khi đã thấy rõ sự thật lịch sử thì chắc chắn cũng phải đặt lại vấn đề. Thực vậy, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt Nam với Hồ chí Minh, một cán bộ của đệ tam quốc tế CS được đào tạo huấn luyện để bành trướng chủ nghĩa CS tại Đông Dương(1) thì quê hương ngập tràn tang tóc thê lương cho mãi tới bây giờ. Vấn đề đặt ra là tại sao Cộng sản “Cướp chính quyền” thành công trong khi các đảng phái Quốc gia được sự hậu thuẫn của Quốc Dân Đảng Trung Hoa lại thất bại? Đây là một sự thực lịch sử đau lòng đưa dân tộc ta vào một cuộc chiến ý hệ tương tàn khiến hàng triệu đồng bào Việt Nam vô tội đã hy sinh một cách oan uổng và mấy triệu đồng bào Việt Nam phải bỏ quê hương ra đi tìm cuộc sống tự do nơi đất khách quê người! 

Sau hiệp ước Patenôtre 1884, thực dân Pháp chính thức đặt ách đô hộ lên đất nước Việt Nam với 3 chế độ riêng biệt cho 3 miền: Đô hộ miền Bắc Tonkin, Bảo hộ triều đình Nguyễn ở miền Trung mà chúng gọi là An Nam và Miền Nam thuộc địa gọi là Nam Kỳ tự trị Cochinchine. Ba miền đây không phải là 3 miền của đất nước Việt Nam mà là 3 đơn vị trong 5 đơn vị hợp thành Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Sau khi vua Hàm Nghi và phong trào Cần Vương do các sĩ phu yêu nước đứng lên giúp vua cứu nước thất bại, các sĩ phu yêu nước thành lập các phong trào Duy Tân rồi Đông du để khơi mào cho phong trào toàn dân yêu nước chống Pháp từ Bắc vô Nam. Từ vụ “Trung Kỳ Dân biến” đến “Tiếng Bom Sa Điện” của Anh hùng Phạm hồng Thái đến 13 anh hùng Việt Nam Quốc Dân đảng anh dũng bước lên “Đoạn đầu đài” tại Yên Bái tháng 2 năm 1930 khiến nhân dân cả nước sục sôi lòng yêu nước.(2) Đất nước Việt Nam thời kỳ này đang bước vào một khúc quanh lịch sử đầy nhiễu nhương khốn khó. Thực dân Pháp thống trị dân tộc Việt đã hơn nửa thế kỷ với chủ trương đô hộ hà khắc bạo tàn để vơ vét tài nguyên phục vụ cho “mẫu quốc” đang suy kiệt.. Nhân dân ta lúc này đang chịu cảnh một cổ đôi tròng, cả thực dân Pháp lẫn quân phiệt Nhật ra sức vơ vét tích trữ lúa gạo phục vụ cho nhu cầu chiến tranh, nhân dân ta lâm vào nạn đói Ất Dậu 1 tháng 3 năm 1945 thê lương kinh hoàng nhất trong lịch sử với hơn 1 triệu rưỡi người dân vô tội phải chết đói. 

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân phiệt Nhật đảo chánh hất chân thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương. Ngày 11 tháng 3, vua Bảo Đại chính thức tuyên bố độc lập, ngày 17 tháng 4 nhà vua mời học gỉa Trần trọng Kim thành lập chính phủ nhưng không có quân đội nên không giải quyết được vấn đề cấp bách lúc đó. Tình hình thế giới biến chuyển bất ngờ thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, ngày 10 tháng 8, thành phố Nagasaki cũng bị bom nguyên tử khiến ngày 10 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngay khi Nhật đầu hàng, nhà vua Bảo Đại đã gửi điện văn tới nguyên thủ các nước đồng minh nhưng không được hồi đáp. Các đảng phái quốc gia lúc đó bao gồm thành phần trung lưu trong xã hội chỉ biết chờ đợi các lãnh tụ trở về, các lãnh tụ thì lại chờ quyết định của Quốc Dân Đảng Trung Hoa nên không thu phục được lòng tin của quần chúng nhân dân vốn đã chịu hơn ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Trong khi đó, Quốc tế CS đã nắm bắt thời cơ chỉ thị thành lập Đảng CS Đông Dương để bành trướng chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh do sự chỉ đạo của quốc tế CS, nắm được thời cơ quân phiệt Nhật đầu hàng lại khéo vận dụng lòng yêu nước của nhân dân dưới chiêu bài Việt Minh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc và nhất là Cộng sản Việt Nam biết lợi dụng sự thống khổ của quần chúng nhân dân sau nạn đói kinh hoàng, kích động lôi kéo thành phần bần cố nông vô sản vào hàng ngũ cộng sản. 

Nhận được chỉ thị của quốc tế cộng sản, đảng Cộng sản Đông Dương tiến hành tổng khởi nghĩa. Lợi dụng cuộc biểu tình của Tổng hội Giáo chức công chức Hà Nội tuần hành qua đường phố để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, cán bộ cộng sản trà trộn vào hàng ngũ biểu tình hô khẩu hiệu kêu gọi nhân dân nổi lên cướp chính quyền. Cuộc biểu tình của công chức biến thành của Việt Minh trong sự ngỡ ngàng của các đảng phái quốc gia lúc đó còn đang trông chờ lãnh tụ bên Trung Hoa trở về. Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 8, Việt Minh xách động quần chúng yêu nước biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ yêu cầu Khâm sai Phan Kế Toại từ chức. Ngày 19 tháng 8, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức tại nhà hát lớn Hà Nội, cán bộ Việt Minh xách súng lên cướp diễn đàn, hô to khẩu hiệu và giương cao cờ đỏ sao vàng. Quần chúng sục sôi lòng yêu nước rồi dưới sự xách động của Việt Minh, từng đoàn người kéo nhau đi chiếm đóng các cơ sở chính quyền của thực dân Pháp. Mãi đến ngày 22 tháng 8, mặt trận Việt Minh mới chính thức xuất hiện tại Hà Nội và Sài Gòn. Việt Minh gửi điện văn thông báo với triều đình Huế là họ đã cướp được chính quyền nên yêu cầu vua Bảo Đại xin hãy vì nền độc lập của nước nhà, xin Ngài thoái vị. Vua Bảo Đại trước tình hình biến chuyển bất ngờ đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân và dòng họ nên đã chính thức tuyên chiếu thoái vị. Nhận được tin vua Bảo Đại thoái vị, ngày 23 tháng 8, Hồ Chí Minh mới thành lập chính phủ lâm thời. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu về đọc “Tuyên ngôn Độc lập” tại quãng trường Ba Đình. Đặc biệt ngoài sự yểm trợ trực tiếp của Quốc tế CS, Hồ Chí Minh lại khôn khéo vận động sự trợ giúp của Hoa Kỳ qua chiêu bài đề nghị 5 điểm cải cách “Bầu cử một nghị viện” do “một toàn quyền Pháp làm chủ tịch và trả laị độc lập cho VN sớm nhất là 5 năm nhưng không quá 10 năm”. Điều này phù hợp với quan điểm của Tổng thống Roosevelt là muốn Pháp trao trả lại độc lập cho các thuộc địa cũ của Pháp. Cả Thiếu tá Archimedes “Al” Patti của toán OSS tại Đông Dương và sau này Trung tá Allison Thomas đều tin tưởng những gì Hồ Chí Minh đã cam kết với tướng Trương Phát Khuê Quốc Dân Đảng Trung Hoa rằng, mục tiêu trước mắt cuả ông ta là khôi phục độc lập tự do cho Việt Nam và  “… quả quyết rằng một xã hội cộng sản ở Việt Nam phải ít nhất 50 năm sau mới thành lập được”. 

Trong thôøi gian bò Quốc Dân Đảng Trung Hoa bắt giam, Hoà Chí Minh ñaõ tuyeân theä töø boû chuû nghóa Coäng saûn ñeå gia nhaäp Vieät Nam Caùch maïng Ñoàng minh hoäi laø moät lieân minh caùc ñaûng phaùi choáng thöïc daân Phaùp vaø phaùt xít Nhaät do Quoác daân ñaûng Trung Quoác hoã trôï. Họ Hồ viết bản dự thảo kế hoạch cải tổ cơ cấu kháng chiến và thành lập mạng lưới tình báo cho đồng minh ở VN nên tháng 9 năm 1943, Trương Phát Khuê mới thả Hồ Chí Minh và giao cho nhiệm vụ thực hiện kế hoạch với tư cách một thành viên dự khuyết trong Uỷ ban Điều hành Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội. Khi đưa ra đề nghị với Pháp, Hồ Chí Minh đã tính toán kỹ lưỡng biết rằng khi nhờ OSS chuyển đề nghị cho Pháp nhưng Pháp sẽ không trả lời nhưng đó là cái cớ cho Hoa Kỳ qua toán tinh báo chiến lược OSS tiến hành tiếp tế vũ khí đạn dược trang bị cho trung đội võ trang tuyên truyền đầu tiên mà hình chụp có cả họ Hồ và Võ nguyên Giáp mặc áo kaki vàng đeo súng lục Mỹ. Toán OSS huấn luyện 4 tuần cho khoảng 200 cán bộ chỉ huy bộ đội Việt Minh về cách sử dụng những vũ khí mới nhất và chiến thuật du kích chiến quân sự cho Việt Minh. Lợi dụng cơ hội này Hồ đã gộp luôn cả huấn luyện viên người Mỹ vào du kích quân và đặt tên là “Bộ đội Việt Mỹ”. Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh dưới tên gọi là Lucius, cộng tác viên của tình báo chiến lược OSS mới được gặp tướng Claire Chennault, tư lệnh phi đoàn “Cọp Bay” ở Côn Minh sau khi đã cứu được viên phi công Mỹ Rudolph Shaw năm 1944. Họ Hồ đã xin được chụp chung một tấm hình và được viên tướng Cọp Bay đề tặng. Chính tấm hình này cũng như bìa tờ báo Việt Minh vẽ hai bàn tay Mỹ-Việt nắm tay nhau đã khiến mọi người tham gia Việt Minh lúc đó tin tưởng rằng Hồ Chí Minh được Hoa Kỳ yểm trợ. Những lời tuyên bố của Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân Pháp, sự thành lập bộ đội Việt Mỹ từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ OSS và tấm hình tướng Cọp bay Chennault ký tặng Hồ Chí Minh ở Côn Minh đã được Việt Minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ họ.(3) 

Sau khi Nhật đầu hàng, quân Anh được giao cho nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật ở miền Nam, quân đội Trung Hoa giải giới quân Nhật ở miền Bắc. Chính phủ Anh cùng chủ trương “thực dân” nên đã cho quân đội Pháp theo chân vào miền Nam. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, sau Pháp cam kết giao trả các đặc quyền và nhượng địa đã chiếm đoạt từ thế kỷ trước nên Trung Hoa đã ký với Pháp thỏa ước Trùng Khánh, trong đó đồng ý cho quân đội viễn chinh Pháp ra Bắc thay thế quân đội Trung Hoa ở miền Bắc.. Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tướng Leclerc ra lệnh chiến hạm chuyển quân ra Bắc, Hồ Chí Minh đã vội vã chấp nhận các điều khoản trong Hiệp ước Sơ bộ trong đó qui định Việt Nam là một nước tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên Hiệp Pháp. Việt Nam có chính phủ riêng nhưng chỉ được chia 1 phần quyền cai trị về đối nội … nhưng họ Hồ vẫn chấp nhận vì nhiều lý do. Thứ nhất là loại vai trò của Bảo Đại ra khỏi chính trường lúc đó đang đề cập tới một giải pháp Bảo Đại nên họ Hồ sẵn sàng ký kết trực tiếp với Pháp sau đó đưa Bảo Đại sang Hồng Kông rồi không cho trở về nữa. Thứ hai là chấp nhận nhượng bộ Pháp thì quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa phải rút về nước để họ Hồ rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Điều này chính Võ nguyên Giáp thú nhận trong hồi ký là “Ngày 9.3.1946 Trung ương họp, chủ tịch Hồ Chí Minh phấn khởi báo tin ta đã ký được hiệp ước 6 tháng 3 năm 1946. Thắng lợi lớn của đảng đã đuổi khỏi đất nước 18 vạn tên chống cộng khét tiếng. Cách mạng đã gạt đi một kẻ thù hết sức nguy hiểm, trút đi một gánh nặng ...”. 

Sau khi sắp xếp xong mọi việc, ngày 30 tháng 5 năm 1946 Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp để chỉ đạo phái đoàn do Phạm văn Đồng cầm đầu tại hội nghị Fontainebleau. Việt Minh thành lập mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt. Mục đích của Mặt trận Liên Việt là để lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng trong chiến dịch tổng tấn công tiêu diệt các lực lượng đảng phái quốc gia. Chiến dịch cầm đầu bởi Võ Nguyên Giáp khi đó là Bộ trưởng bộ Nội vụ. Việt Minh trưng ra các bằng chứng ngụy tạo là cán bộ Việt Minh bị các đảng phái Quốc Gia thủ tiêu rồi Võ nguyên Giáp hạ lệnh đồng loạt tấn công bất ngờ tất cả các trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng minh Hội. Đảng kỳ, bảng hiệu bị tháo gỡ triệt hạ và cán bộ Việt Nam Quốc Dân đảng bị Việt Minh bắt giữ rồi thủ tiêu. Các chiến khu của các đảng phái quốc gia cũng lần lượt bị tiêu diệt. Các lãnh tụ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam phải bỏ chạy sang Trung Hoa, nhiều lãnh tụ các đảng phái khác bị Việt Minh bắt đi thủ tiêu như Trương Tử Anh (Đại Việt Quốc Dân Đảng), Lý Đông A (Duy Dân), Khái Hưng Việt Nam Quốc Dân Đảng ... Trong Nam, Hồ văn Ngà Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Huỳnh văn Phương, Dương văn Giáo, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký, ông Bùi Quang Chiêu lãnh tụ đảng Lập Hiến cũng bị thủ tiêu. Trước đó, ngay sau cách mạng tháng 8 những thủ lãnh phe Đệ tứ Quốc tế Cộng sàn như Phan văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan văn Chánh, Trần văn Thạch ... đều bi thủ tiêu.(4) Ngay cả những nhà lãnh đạo tôn giáo yêu nước không cộng sản cũng bị Việt Minh thủ tiêu như Đức Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ cũng bị thủ tiêu, năm 1947, Phối sư Cao Đài Thượng Vinh Thanh Trần Quang Vinh cũng bị bắt nhưng trốn thoát, sau 1975 Phối sư Trần Quang Vinh bị Cộng sản bắt và xử tử tháng 9 năm 1975. Theo tài liêụ của của hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo thì chức sắc, tín đồ và binh sĩ bị giết lên tới 20 ngàn người. 

Sau khi những cố gắng điều đình đã thất bại, trước khi về nước,  ngày 14 tháng 9 họ Hồ phải đến nhà riêng của Bộ trưởng thuộc địa Pháp Moutet vào lúc nửa đêm để xin ký bản Tạm ước mà nội dung còn tệ hại cho Việt Nam hơn là hiệp đinh sơ bộ 6 tháng 3. Điều này chứng tỏ những người Cộng sản sẵn sàng chấp nhận mọi thua thiệt cho quyền lợi của dân tộc miễn là họ nắm được quyền lực để thực hiện ý đồ của họ mà thôi. Sau khi trở về nước, tình hình ngày một căng thẳng với những vụ đụng độ lẻ tẻ nhưng đến ngày 20, trong lúc quân Pháp chặn bắt một chiếc tàu Trung Quốc thì bị bộ đội Việt Minh nổ súng. Pháp ra tối hâụ thư buộc bộ đội Việt Minh phải rút ra khỏi khu vực người Hoa và Hải quân Pháp pháo dữ dội khiến mấy ngàn người dân vô tội phải thiệt mạng. Quân Pháp đánh chiếm khu người Hoa, bộ đội Việt Minh chống cự không nổi … Biết không cứu vãn được tình thế nên đúng 8 giờ tối  ngày 19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”. Việt Minh phá nhà máy đèn, cả thành phố chìm trong bóng đêm. Dân quân tự vệ bất ngờ tấn công các cơ sở và cư xá Pháp, một số quân và thường dân Pháp bị giết chết, ngay cả Sainteny bị thương mãi 2 giờ sau mới được tải thương. Cuộc chiến tranh Pháp Việt bắt đầu kể từ đó … Hồ Chí Minh nhiều lần đề nghị đàm phán nhưng phiá Pháp chỉ muốn nói chuyện với chính phủ không Cộng sản nên nhiều nhân sĩ, đảng phái quốc gia sang Hồng Kông mời cựu hoàng Bảo Đại ra giúp nước kể cả Tổng lãnh sự Pháp ở Hồng Kông cũng tới thỉnh ý Bảo Đại.(5) 

Ngàý 31 tháng 5 năm 1948, Luật sư Trần văn Tuyên, phát ngôn nhân của Bảo Đại tuyên bố “Đức Bảo Đại xem việc thành lập chính phủ Nguyễn văn Xuân là một giai đoạn trong cuộc đàm phán Pháp-Việt nhưng lập trường của Ngài chỉ trở thành chính thức khi chính phủ Pháp công nhận một chính phủ trung ương của Việt Nam mà ngài sẽ nhân danh để điều đình. Đức Bảo Đại sẽ chỉ trở về Việt Nam sau khi được nước Pháp bảo đảm rằng những nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam được thừa nhận là thật sự thống nhất và độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp và Việt Nam phải được xem là một quốc gia liên kết một cách tự do với Liên Hiệp Pháp trong đó các dân tộc đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi”. Tình hình chính trị vào thời điểm này bước sang một giai đoạn mới khi Hồng quân Trung Cộng ngày một thắng thế và có mặt sát biên giới miền Bắc Việt Nam. Từ năm 1950 đến 1954, Mao Trạch Đông liên tiếp gửi Hồng quân sang Việt Nam gồm những đoàn cố vấn chính trị, hành chánh và quân sự, Hồng quân Trung Cộng mở trường đào tạo sĩ quan và viện trợ cho bộ đội Việt Minh mọi thứ vũ khí đạn dược …”. Nhân cơ hội này, Trung Cộng đã chủ tâm lấn dần vùng biên giới bằng cách cho gia đình binh lính định cư luôn tại các căn cứ của họ và sát nhập de facto những nơi này vào lãnh thổ Trung Quốc. (6) 

Thế giới tự do lo ngại hiểm họa Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á nên chính phủ Pháp phải ủng hộ một chính quyền chống cộng sản để nhận được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Cuối cùng, Hiệp định Hạ Long được sửa đổi và ngày 8 tháng 3 năm 1949, Đức Quốc Trưởng Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol cùng ký tên vào những văn kiện mới xác nhận Việt Nam là một nước độc lập và thống nhất trong khối Liên Hiệp Pháp trong đó Việt Nam có đại diện ngoại giao ở nước ngoài và có quân đội riêng … Tuy nhiên, chính phủ Pháp vẫn duy trì chính sách thực dân nên không giao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam mà tìm cách kiềm chế trong khuôn khổ giới hạn của Liên Hiệp Pháp. Thực dân Pháp đã làm giảm uy tín cuả chính phủ Quốc gia Việt Nam của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại và vô hình trung lại đẩy chính nghĩa sang phía Việt Minh.Trong khi đó, tình hình quân sự trên cả ba mặt trận Việt Miên Lào hoàn toàn bất lợi cho quân Liên Hiệp Pháp nhưng tại Hội nghị các quốc gia Liên kết tổ chức tại Pau miền Nam nước Pháp từ thánh 6 đến tháng 11 năm 1950, chính phủ Pháp vẫn muốn duy trì chính sách thực dân. Cả Quốc Trưởng Bảo Đại lẫn Quốc vương Cambodia Norodom Sihanouk đều công khai phản đối. Quốc vương Cambodia Sihanouk lên tiếng: “Nếu nước Pháp không thoả mãn những yêu sách của chúng tôi, chúng tôi sẽ đi đến chỗ hợp tác với Việt Minh ...!” 

Hội nghị Bộ trưởng các quốc gia không liên kết tháng 3 năm 1953 đã nhận định: “Đặc tính chủ yếu của chiến tranh Đông Dương là chiến đấu chống cộng sản quốc tế. Trên danh nghĩa đó, cuộc chiến tranh này không thể xem là riêng rẽ mà phải được xem là một tiền đồn giữa 2 khối”. Bộ trưởng ngoại giao Pháp Jean Letourneau đã kêu gọi Liên minh Bắc Đại Tây Dương hãy “đóng góp tài chánh và cam kết cụ thể hơn, phối hợp các chính sách và chiến lược để bảo vệ quân đội viễn chinh Pháp trong trường hợp có sự tấn công của Trung Cộng”. Trước những thất bại nặng nề về quân sự, Pháp cần Hoa Kỳ viện trợ nhiều hơn nữa nên phải tổ chức Hội nghị Toàn quốc ngày 14 tháng 10 năm 1953 gồm đại diện các đoàn thể chính trị và Tôn giáo để thảo luận về tình hình đất nước. Hai trăm đại biểu từ khắp nơi về Sài Gòn bầu sử gia Trần Trọng Kin, cựu Thủ tướng làm chủ tịch hội nghị. Ngày 16-10 Hội nghị đồng thanh quyết nghị: Xét rằng Liên Hiệp Pháp được thành lập theo Hiến pháp 1946 của nước Pháp trái ngược với nguyên tắc chủ quyền quốc gia. Hội nghị toàn quốc quyết định: “Nước Việt Nam độc lập không gia nhập Liên Hiệp Pháp. Sau khi được bàn giao mọi chức năng mà chính phủ Pháp còn nắm giữ, Việt Nam sẽ ký với Pháp một hiệp ước liên minh trên căn bản bình đẳng. Tuỳ theo nhu cầu của các bên kết ước và tuỳ trường hợp cần thiết trong một thời hạn do chính phủ Việt Nam quyết định”. Tổng Thống Pháp đề nghị Quốc Trưởng Bảo Đại về Sài Gòn để phủ nhận quyết định này nhưng một lần nữa, Bảo Đại chứng tỏ lòng yêu nước của mình đã dứt khoát từ chối lời yêu cầu này. Cuối cùng do sự can thiệp của Bửu Lộc và dàn xếp từ nhiều phía, mấy ngày sau quyết định được thêm vào một câu cho nhẹ nhàng hơn là “Việt Nam không gia nhập Liên Hiệp Pháp … trong hình thức hiện thời !” 

Tình hình Đông Dương thời điểm này chuyển biến mạnh. Trên chiến trường thì cả hai bên đang quyết giành thắng lợi để quyết định trên chính trường. Để có thể nhận viện trợ ào ạt góp phần quyết định chiến trường, chính phủ Pháp phải chấp nhận nhượng bộ Hoa Kỳ về phương diện chính trị trả lại nền độc lập thực sự cho chính phủ quốc gia Việt Nam để có thể phát huy chính nghĩa, vận dụng toàn dân trong công cuộc chống cộng.(7) Chính phủ Pháp thì không muốn Hoa Kỳ can thiệp vào công việc nội bộ của họ trong khi chính phủ Hoa Kỳ còn đang bận tâm vào cuộc chiến Triều Tiên nên vấn đề Đông Dương lúc đó được xem là thứ yếu. Về phía Hoa Kỳ thì một mặt muốn Pháp từ bỏ chính sách thực dân, mặt khác lại cần Pháp ủng hộ trên chính trường quốc tế ngăn chặn ảnh hưởng của Nga Sô ở Âu Châu khi chiến tranh chấm dứt. Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt mới tỏ ý chấp thuận cho Pháp trở lại Đông Dương trong vai trò bảo trợ với điều kiện là phải cho Đông Dương độc lập thực sự sau thời hạn nhất định. Không may cho VN, chính sách này chưa được qui định rõ rệt thì Roosevelt đã đột ngột qua đời, ba mươi ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương. Đến khi Truman lên làm Tổng thống thì ông ta chỉ quan tâm tới Âu Châu nên chỉ khuyến khích Pháp cởi mở hơn về chính trị và kinh tế với người dân bản xứ. Nhất là khi đó, Hoa Kỳ cần sự ủng hộ của Pháp trong việc thành lập Liên Hiệp Quốc cũng như cần sự hiện diện của Pháp trong Cộng đồng Phòng thủ Âu Châu nên đưa ra một lập trường mập mờ nước đôi như sau: “HK nhấn mạnh đên sự cần thiết có một tiến trình về chính phủ tự trị cho tất cả các dân tộc bị lệ thuộc mong muốn được độc lập trong tương lai hoặc được sát nhập vào một hình thức liên bang, tùy theo hoàn cảnh và khả năng nhận lãnh trách nhiệm của dân tộc đó”. Chính vì vậy, mãi đến năm 1951, HK mới thúc giục Pháp thành lập quân đội Quốc gia VN. Tháng 2-1951 Tân Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh De Lattre Tassigny hứa thành lập quân đội quốc gia và đến tháng 7, một số đơn vị quân đội quốc gia VN mới được tham dự cuộc diễn binh kỷ niệm ngày Quốc khánh Pháp 14/7 tại Hà Nội với quốc kỳ Việt Nam với ý nghĩa một quân đội đồng minh của Pháp. Mãi đến đầu năm, Hoa Kỳ mới chi viện 400 triệu dollars thì quân đội Quốc gia Việt Nam mới thật sự được thành lập nhưng đã qúa muộn để có thể huấn luyện trang bị hầu đảo ngược cuộc diện chiến trường. Mọi việc xem như đã ngã ngũ sau khi nội các chủ hòa cộng hòa Pháp được thành lập. Ngày 8 tháng 5 năm 1954, Hội nghị Genève khai mạc để giải quyết vấn đề Đông Dương sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 5 tháng 7 năm 1954 của bộ đội Việt Minh. 

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua trong thống khổ nhục nhằn, chúng ta cùng bình tâm nhìn lại lịch sử để từ đó sẽ có một nhận định toàn diện và đúng đắn về cuộc chiến Việt Nam. Từ những sự thật lịch sử, chúng ta mới nhận thức rõ về hoàn cảnh của đất nước Việt Nam và chúng ta phải làm gì để đưa dân tộc Việt vượt thoát lên sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới. Kể từ khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên đất nước thì nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên chiến đấu giành độc lập dân tộc. Nếu lấy mốc lịch sử kể từ ngày “Toàn quốc kháng chiến” 16 tháng 12 năm 1946 cho tới thời điểm Trung Công và Liên Xô công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 1 năm 1950 thì cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến giành độc lập Dân tộc. Sau khi Hoa Kỳ, Anh Quốc công nhận Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo thì cuộc chiến đã chuyển sang một thời kỳ lịch sử mới: cuộc chiến ý thức hệ đối đầu giữa 2 ý thức hệ Tư Bản và Cộng sản chứ không còn là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nữa, mặc dù cộng sản vẫn tuyên truyền rêu rao là “giải phóng dân tộc” là “chống Mỹ cứu nước”. Chính vì vậy, chúng ta phải hiểu rõ bản chất của cuộc chiến hay nói cách khác, hiểu rõ ý đồ của các thế lực quốc tế toan tính những gì trên xương máu mồ hôi và nước mắt của toàn dân Việt Nam chúng ta mới thấy rõ toàn bộ vấn đề. Như vậy kể từ tháng 1 năm 1950, cuộc chiến Việt Nam không còn thuần túy là cuộc kháng chiến chống Pháp nữa mà đã chuyển sang cuộc chiến tranh ý thức hệ mà ta thường gọi là chiến tranh lạnh giữa 2 khối tư bản và Cộng sản. Đây là một sự thật lịch sử về bản chất của cuộc chiến Việt Nam mà từ trước đến nay chúng ta mỗi người hiểu một cách. Thật vậy, đồng bào miền Bắc nhất là các đảng viên đoàn viên bị nhồi nhét tuyên truyền “Bác Hồ” là người yêu nước và đảng Cộng sản Việt Nam có công giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp. Đồng bào trong Nam thì hiểu là cuốc chiến tranh ý thức hệ ngăn chặn làn sóng đỏ, còn đa số quần chúng nhân dân thì hiểu đơn giản là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn. Thật vậy, đối với quần chúng và nhất là giới nghệ sĩ thì đó là một cuộc nội chiến tương tànBa mươi năm nội chiến từng ngày ...” nồi da xáo thịt “Người chết hai lần ... thịt da nát tan ...!” khiến mấy triệu đồng bào Việt Nam hi sinh cho một cuộc chiến vô nghĩa như các nhà văn từng sống trong chế độ Cộng sản miền Bắc đã phải ngao ngán viết lên những sự thật phũ phàng ...! 

Đối với Liên Xô và Trung Cộng thì ngoài mục đích bành trướng chủ nghĩa CS, họ còn dùng chiến tranh Việt Nam để tiêu hao sinh lực “đế quốc” Mỹ cho đến “người Việt Nam cuối cùng” trong cuộc chạy đua vũ trang giành quyền bá chủ thế giới. Trong nhiều năm dài, điện Kremli luôn luôn phủ nhận việc Liên Xô có quân đội tham chiến tại Việt Nam. Mãi đến khi Liên bang Xô viết sụp đổ vào năm 1991, giới chức Nga mới công nhận là có hơn 3.000 quân Liên Xô tham gia trận chiến chống quân đội Mỹ tại Việt Nam trước đây. Tháng 5 năm 1977, Võ Nguyên Giáp đã sang Liên Xô cám ơn về sự giúp đỡ của Liên Xô và gắn 800 huân chương chiến công và gần 1 ngàn bằng khen cho 3 ngàn quân nhân Liên Xô đã trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Đại sứ Liên Xô tại Hà Nội Ilya Shcherbakov từ 1964 đến 1974 ban đầu được giao nhiệm vụ coi chừng các hành động của chuyên gia quân sự Nga bị phát hiện. Đến thời Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, Tướng Vladimir Abramov được giao nhiệm vụ chỉ huy các sĩ quan và binh lính Xô Viết trong vùng Đông Nam Á. Việc lắp ráp hoả tiễn, radar và huấn luyện là do các chuyên gia Liên Xô chuyên gia về hậu cần, chuyên gia về hải quân, chuyên gia về tên lửa, chuyên gia về không quân, về các loại binh chủng … Nikolay Kolesnik được Russia Today trích lời, những quân nhân Nga như ông phải được nói đến cụ thể chứ không phải một cách chung chung: “Chính thức mà nói chúng tôi chỉ được coi là chuyên gia quân sự Nga. Cấp chỉ huy thì mang danh là chuyên gia cao cấp. Cũng không có đơn vị quân đội Nga nào ở Việt Nam. Điều duy nhất chúng tôi biết là mình thuộc nhân dân Liên Xô, là binh sĩ Liên Xô. Chúng tôi làm tất cả để ngăn các cuộc không kích”. Russia Today, các chuyên gia Xô Viết đã đóng vai trò trọng yếu trong việc huấn luyện các lực lượng Bắc Việt Nam, và tên lửa Xô Viết gây thiệt hại nặng cho các phi cơ Mỹ. Ngoài Liên Xô, Trung Quốc cũng có quân lính tham gia giúp Hà Nội trong chiến thắng Điện Biên Phủ 1953 và tích cực tham gia cuộc chiến chống Hoa Kỳ và đồng minh ở Việt Nam. Chính Trung Quốc ngay từ cuối thập niên 70 đã công khai vai trò của mình và nói tới con số hàng vạn quân nhân có mặt tại Bắc Việt Nam để giúp xây cất đường xá và phòng không. Đến năm 2001 thì Bắc Triều Tiên đến 2001 mới thừa nhận họ cũng đưa 200 phi công Bắc Hàn đã trực tiếp chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong các đợt tấn công của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Tháng Bảy 2001 Bình Nhöôõng vaø Haø Noäi môùi bốc mộ những phi công Bắc Hàn tử trận tại Việt Nam về Trieàu Tieân 

Phiá Hoa Kỳ và các nước Tây phương nhận thấy hiểm họa to lớn khi “Siêu đế quốc” Liên Xô kết hợp với “Siêu bành trướng” Trung Cộng sẽ là mối nguy cho toàn thể nhân loại. Chính vì vậy, sau Hiệp định Genève Hoa Kỳ đã chính thức thay thế Pháp trong cuộc chiến đối đầu với cộng sản để thử nghiệm các loại vũ khí mới, đồng thời phân hoá Liên Xô và Trung Cộng hầu giảm bớt nguy cơ CS nhuộm đỏ Đông Nam Á. Chính vì thế, sau chuyến ngoại giao bóng bàn và Hội nghị Trung Nam Hải giữa Nixon và Mao Trạch Đông, Trung Cộng đã mật ước với Hoa Kỳ nên người Đồng minh Hoa Kỳ đã làm ngơ khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa như một món qùa cho sự giao hảo giữa hai nước. Sự việc không chỉ ngưng ở đó, người bạn đồng minh của chúng ta còn bật đèn xanh cho CSVN xâm chiếm miền Nam ...! Đây là bài học lịch sử đầy máu và nước mắt cho những ai còn tin vào “tình nghĩa đồng minh” mà phải luôn nhớ rằng nỗ lực tự thân mới là yếu tố chính để sống còn. 

Sau khi CS xé bỏ hiệp định Paris xua quân xâm chiếm miền Nam ngày 30 tháng tư là ngày mất nước, ngày “Quốc hận” đối với đồng bào Việt Nam. Cộng sản Việt Nam thì vênh váo là “Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” là thống nhất đất nước! Thực tế lịch sử đã minh chứng hùng hồn những gì CS nói và làm là láo khoét là lừa dối là phỉnh gạt gạt nhân dân hơn nửa thế kỷ qua. Thật vậy, ngày 2 tháng 7 năm 1976, quốc hội được bầu ngày 25 tháng 4 tuyên bố thống nhất Việt Nam, đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thủ đô Hà Nội, cờ và hiến pháp là cờ đỏ sao vàng và hiến pháp của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa miền Bắc. Cái gọi là “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” âm thầm giải tán sau hàng loạt thanh trừng các nhân sĩ tướng lãnh trong hàng ngũ Liên minh Tranh thủ Hòa bình và giải phóng quân miền Nam ...! Ngày 20 tháng 12 năm 1976, Đảng Lao Động họp đại hội lần đầu để lấy tên lại là Đảng Cộng sản Việt Nam và Lê Duẫn làm Tổng bí thư. Tất cả sự thật đã được phơi bầy trắng trợn trước lịch sử. Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng sự kiện lịch sử sau: 

1. BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM: 

Từ trước tới nay, Cộng sản Việt Nam vẫn thường rêu rao họ chiến đấu để giải phóng dân tộc, giành lại độc lập dân tộc. Tất cả đã được phơi bầy khi Liên Xô và Trung Cộng công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Cộng sản Việt Nam là nhà nước Công-Nông, là thành trì của Xã hội chủ nghiã đầu tiên ở Đông Nam Á vào tháng 1 năm 1950. Chính vì vậy, tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã nhân danh thế giới tự do trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam. Nhân dân Việt Nam lâm vào thế trên đe dưới búa của một cuộc chiến tranh giữa 2 thế lực tư bản và cộng sản mà kết cục bi thảm là mấy triệu đồng bào Việt Nam đã hi sinh một cách vô nghĩa hết sức phi lý. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn là thế kỷ XX là thế kỷ chấm dứt chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bằng chứng cụ thể là Hoa Kỳ tự ý trả lại chủ quyền cho Phi Luật Tân (Philippine) năm 1946, Anh Quốc thừa nhận nền độc lập của Ấn Độ năm 1947, Hoà Lan giao trả độc lập cho Nam Dương (Indonesia) năm 1949 mà không phải hy sinh một ngươì dân nào. Thế thì tại sao, nhân dân Việt Nam phải hy sinh hàng triệu người để giành độc lập dân tộc? Đó chính là cốt lõi của vấn đề mà bất cứ ai cũng nhận thấy sau khi phân tích cụ thể rõ ràng. Chính vì Hồ Chí Minh là cán bộ đệ tam Quốc tế cùng với những Trần Phú, Lê Hồng Phong … đã rước voi Mác-Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc! Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước, dưới chiêu bài “Kháng chiến, giải phóng dân tộc” hy sinh hàng triệu người dân vô tội để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á. 

Lịch sử một lần nữa lại chứng tỏ CSVN là công cụ của quốc tế CS khi hy sinh công cuộc kháng chiến để ký kết hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954. Thật vậy, giữa lúc cao trào kháng chiến dâng lên cao, thực dân Pháp bị lâm vào thế bí dẫn đến sự thất bại hoàn toàn về quân sự thì CSVN bị áp lực của quốc tế CS phải vào bàn hội nghị Genève chia đôi lãnh thổ. CSVN đã biến kháng chiến thành thỏa hiệp chia đôi đất nước, một lần nữa Việt Nam lại chịu cảnh qua phân hai miền Nam Bắc. Tháng 12 năm 1960, CSVN lại dựng lên cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam” lợi dụng chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam. Sau khi xâm chiếm miền Nam, CSVN đã đổi tên đảng Lao Động là Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến, nhân dân Việt Nam yêu nước tham gia mặt trận Việt Minh để đánh đuổi thực dân Pháp chứ nhân dân Việt Nam không hề ủng hộ hoặc tham gia đảng CSVN. Chính lý thuyết gia Cộng sản Trần Bạch Đằng đã xác nhận khi phong trào Nam Kỳ Khởi nghĩa bùng lên, cơ sở đảng mới tổ chức được một vài nơi thì làm sao có đủ cán bộ để lãnh đạo phong trào. Do đó, công lao kháng chiến là của toàn dân là chứ không phải của đảng CSVN. Nếu nói rằng do đảng lãnh đạo thì trong lịch sử Việt, biết bao nhiêu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đâu cần có đảng CS lãnh đạo cũng chiến thắng quân thù. Ngược lại, sự thật đã chứng tỏ CSVN chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân VN để bành trướng chủ nghĩa CS mà thôi. Nếu Hồ Chí Minh không phải là cán bộ quốc tế cộng sản hoặc là bất kỳ một người Việt Nam nào khác thì Tổng Thống Roosevelt đã đặt Viêt Nam dưới sự ủy trị của Liên Hiệp Quốc rồi và đất nước Việt Nam đã độc lập tự do và giàu mạnh từ lâu. Sự thật lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh nói riêng và Đảng CSVN nói chung không hề có công mà ngược lại là có tội với nhân dân Việt Nam, họ mới chính là những “kẻ phản động” vì đã hành động ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam. 

Đối với tất cả người Việt Nam yêu nước thì ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “Quốc hận”. Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “mất nước” không phải do ngoại xâm mà là kẻ nội thù ngay trong lòng dân tộc và hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu nước chuộng tự do dân chủ đã phải bỏ nước ra đi. Hơn tám mươi triệu đồng bào Việt Nam đang sống quằn quại trong một nhà tù khổng lồ mệnh danh là nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do chính những người cộng sản Việt Nam thống trị. Những người cộng sản tuy là người Việt Nam nhưng họ đã bán linh hồn cho Các Mác-Lênin, họ không còn là người Việt Nam nữa mà là những cỗ máy vô hồn vô cảm kềm kẹp nhân dân mình. Giai cấp mới thống trị là lớp đảng viên được hưởng đặc quyền đặc lợi trở thành những cường hào đỏ, những tư sản đỏ, mặc sức vơ vét tài sản của nhân dân, cướp nhà cướp đất để làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân. Hàng triệu dân oan bị cướp nhà cướp đất, hàng triệu công nhân bị giai cấp thống trị cấu kết với tư bản nước ngoài bóc lột sức lao động của họ, hàng triệu công nhân đưa đi xuất khẩu lao động, hàng trăm ngàn phụ nữ phải bán rẻ thân xác để kết hôn với người nước ngoài để cứu bản thân và gia đình đang đói khổ. Thực chất cái gọi là xuất khẩu lao động, xuất ngoại kết hôn không khác gì cuộc bán buôn nô lệ người da đen sang tân lục địa mấy thế kỷ trước. Nếu có khác là thay vì những tên lái buôn nô lệ thì là nhà nước cộng sản đứng ra thu thuế lợi tức xuất khẩu và những con người khốn khổ đi khỏi đất nước vì nghèo nàn đói khổ lại phải sống khổ hơn người nô lệ da đen thời trước. Trong suốt trường kỳ lịch sử, chưa bao giờ người dân lại chịu cảnh đói khổ như bây giờ kể cả thời thực dân Pháp. Biết bao người đã phải tha hương chịu cảnh gia đình ly tán để đổi lấy một cuộc sống tốt đẹp hơn.  

2. AI THẮNG AI TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM ? 

Phải chăng Việt Nam Cộng hòa là người thua trận và Cộng sản Việt Nam là kẻ chiến thắng? Quân đội VNCH nói riêng và Miền Nam VN nói chung bị đồng minh bán đứng trở tay không kịp trong một ván bài quốc tế nên trở thành người chiến bại. Quân cán chính Việt Nam Cộng hòa đã làm hết sức mình, đã tận trung báo quốc nhưng không thể làm gì hơn khi tương quan lực lượng đã thay đổi: quân số CS gần gấp đôi quân lực VNCH sau khi Mỹ rút quân.Vũ khí đạn dược thua kém quân CS và nhất là Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho VNCH sau 1972 có 18 triệu dollars trong khi Liên Xô và Trung Cộng vẫn viện trợ cho Hà Nội 1 tỷ rưỡi dollars mỗi năm. Vả chăng, một khi thượng tầng chính trị đã xụp đổ với những tính toán sai lầm thì kéo theo sự tan rã của xã hội, kinh tế, quân sự là một tất yếu không thể tránh được. 

Trong khi ñoù, Cộng sản rêu rao là “Đại thắng mùa Xuân!” chính là sự thất bại không gì cứu vãn nổi cuả CSVN kể từ ngày 30-4-1975. Cộng sản đã để lộ bộ mặt thật giả nhân gỉa nghĩa của họ là một tập đoàn bán nước, một chế độ độc tài toàn trị tước đoạt mọi quyền tự do căn bản nhất của con người … Một chế độ rêu rao là Nhân dân làm chủ thực ra là làm chủ nhân dân, tước đoạt tài sản đất đai tư hữu của người dân, chế độ thuế khóa nặng nề, tham nhũng bóc lột nhân dân còn thậm tệ hơn chế độ phong kiến thực dân trước đây. Hơn tám mươi triệu đồng bào sống trong trại tù khổng lồ gọi là nhà nước CHXHCNVN và hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Cái gọi là thống nhất của Cộng sản Việt Nam chỉ là thống nhất tài sản nhân dân trong tay nhà nước quản lý mà thôi chứ không thống nhất được lòng người. Đứng trên quan điểm Dân tộc, một cuộc chiến mới bắt đầu: Cuộc chiến của “Toàn dân Chống cộng” cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều đứng lên chống lại chế độ bạo tàn phi nhân Cộng sản kể cả những đảng viên Cộng sản cao cấp từng bị lừa dối đã giác ngộ quyền lợi của dân tộc…Chính vì vậy, chưa bao giờ công luận quốc tế lại ủng hộ cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ của toàn dân Việt Nam. 

3. DÂN TỘC VIỆT NAM THẮNG 

Sau ngày mất nước, trong khi hàng trăm ngàn quân nhân viên chức chế độ VNCH phải lao động khổ sai trong các trại tù thì hàng trăm đoàn thể tổ chức tự phát đứng lên chống lại ách thống trị bạo tàn của Cộng sản. Hàng trăm tù nhân chính trị cầm đầu các tổ chức đã bị chế độ Cộng sản đem ra xử bắn để răn đe quần chúng trong đó có ít nhất 2 phụ nữ và 2 linh mục. Cộng sản tưởng rằng dùng bạo lực cách mạng trấn áp được sự nổi dâỵ của quần chúng nhưng họ đã thất bại khi quần chúng nhân dân không thể chịu đựng được nữa đã vượt qua nỗi ám ảnh sợ hãi … Từ trong nước vang ra những lời thề “phục quốc” dội ra đến hải ngoại, rồi từ Hải ngoại lại “chuyển lửa” về quê nhà. “Lời kêu gọi Dân chủ cho Việt Nam” ngày 21-2-2001 của Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ âm vang như một Tuyên ngôn Dân chủ, một bức thông điệp lịch sử gửi tới toàn dân phá tan bức màn vô minh ám chướng, vượt thoát mọi u mê sợ hãi để giành lại quyền sống làm người. Cả nước sục sôi lòng yêu nước đã can đảm đứng lên đòi lại quyền sống làm người. Khởi đi từ vụ “ Thái Bình nổi dậy” rôì “Gia Kiệm vùng lên” tới sự ra đời của hàng loạt tổ chức đấu tranh cho dân chủ nhân quyền Việt Nam như khối 8406, đảng Dân chủ XXI, đảng Dân chủ Nhân Dân, Hội Ái hữu Tù nhân chính trị Việt Nam, Hội Dân Oan, Hiệp hội Công Nông Việt Nam, đảng Thăng Tiến … Phong  trào đấu tranh cho Dân chủ Việt Nam nở rộ năm 2006 với các chiến sĩ dân chủ công khai trực diện với chế độ CS bạo tàn như Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Thiện Minh, Linh mục Nguyễn văn Lý, Linh mục Chân Tín, Linh mục Phan văn Lợi, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Nguyễn văn Đài, Luật sư Lê thị Công Nhân, Luật sư Bùi Kim Thành, Nguyễn Khắc Toàn, Kỹ sư Trương Minh Nguyệt, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, kỹ sư Nguyễn Phương Anh …. 

Cùng với dân oan cả nước, công nhân bị bóc lột biểu tình khiếu kiện đòi lại tài sản ruộng vườn, đòi lại quyền sống tối thiểu làm một con người. Đặc biệt gần đây thanh niên sinh viên văn nghệ sĩ đã thể hiện lòng yêu nước nhiệt tình chống Trung Cộng xâm lược nhưng đã bị nhà cầm quyền CS, công cụ tay sai của bành trướng Bắc Kinh cấm cản bắt bớ là một điều lạ lùng chưa từng thấy trên trái đất này. Bộ mặt thật của Cộng sản giả nhân gỉa nghĩa đã phơi bầy lộ ra chân tướng của một tập đoàn thống trị vô nhân phi nghĩa bóc lột trắng trợn, cường hào đỏ tư bản đỏ cấu kết với mafia đen, với tư bản nước ngoài làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của quần chúng nhân dân. Đã thế, Cộng sản Việt Nam lại “mãi quốc cầu vinh” cam tâm bán nước dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Quốc, hòng duy trì địa vị, chức quyền để tiếp tục vơ vét bóc lột đến tận xương tủy của người dân đen thấp cổ bé miệng. Một khi tất cả đồng bào oan khiên, tất cả công nhân nghèo đói, tất cả thanh niên sinh viên yêu nước, tất cả tôn giáo từ Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin lành cùng nhất loạt nắm chặt tay nhau ngồi cầu nguyện cho tự do tôn giáo, đòi lại tài sản giáo hội. Một cuộc đấu tranh giành lại quyền sống tự do dân chủ, quyền làm chủ đất nước trong ôn hòa bất bạo động, bất hợp tác đã và đang diễn ra trên cả nước.Thanh niên sinh viên học sinh bãi khóa, công nhân đình công, tiểu thương bãi thị cho đến khi cộng sản phải thoả mãn yêu cầu chính đáng của nhân dân thì ngày đó là ngày thắng lợi của Dân tộc Việt Nam. Bằng không, lòng dân muôn người như một đứng lên giành lại quyền sống làm người đến, tất cả u uất căm hờn tự bao năm sẽ gom lại như ngoïn soùng thaàn một lúc nào đó sẽ trào dâng như thác đổ thành bão táp cách mạng seõ cuoán troâi taát caû theá löïc phaûn daân toäc, nhöõng raùc röôûi cuûa chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân xuống hố thẳm của lịch sử. 

Một khi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhất loạt đứng lên chống lại bạo quyền cộng sản thì mùa Xuân Dân tộc sẽ trở về trên quê hương yêu dấu của chúng ta trong một ngày rất gần, rất gần đây để nhân dân được sống trong dân chủ tự do ấm no hạnh phúc như đại danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo”: 

“Đại nghĩa thắng hung tàn ..
Chí nhân thay cường bạo ..!” 

Tổ Quốc Việt Nam trường tồn,
Dân tộc Việt Nam tất thắng. 

  • PHẠM TRẦN ANH 


CHÚ THÍCH

(1)  Nguyễn Tất Thành sau nay đổi tên là Nguyễn Ái Quốc, Lý Thuỵ rồi Hồ Chí Minh là người Việt Nam theo cộng sản đầu tiên khi sang Pháp năm 1911 rồi lưu vong sang các nước Phi Châu, Á Châu, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Anh Quốc. Năm 1917 trở về Pháp hoạt động với các đảng viên đảng xã hội Pháp và theo luật sư Phan văn Trường, chí sĩ Phan Chu Trinh và những trí thức quốc gia yêu nước chống thực dân Pháp ngay trên đất Pháp. Những trí thức yêu nước chân chính này vì sống ngay tại thủ đô Pháp nên không xuất hiện công khai và thường dùng một tên chung là Nguyễn Aùi Quốc để viết bài chống Pháp và Nguyễn Tất Thành được họ hướng dẫn học tập và giao nhiệm vụ tuyên truyền vận động công khai chống Pháp với tên Nguyễn Ái Quốc. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là Hồ chí Minh có thực sự là người yêu nước hay không? Có một thực tế là trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị thì bất cứ người Việt Nam nào lại không yêu nước, lại không căm thù thực dân Pháp đến tận xương tủy. Sau nhiều năm sống ở ngoại quốc, Hồ Chí Minh lại nộp đơn vào xin học trường thuộc điạ và bị từ chối. Nếu được thu nhận thì con đường hoạn lộ hẳn sẽ thênh thang và không biết Hồ Chí Minh sẽ đi về đâu, một viên quan cai trị chắc chắn sẽ thẳng tay trấn áp các phong trào VN yêu nước? Đảng CS vẫn tuyên truyền là “Bác” vui mừng khi thấy con đường giải phóng thuộc địa … và chỉ qua quốc tế CS để giải phóng dân tộc. Tài liệu mới nhất “Văn kiện Đảng” toàn tập vô hình trung lại tiết lộ “Bác” chính là một cán bộ đệ tam quốc tế CS sang Liên Xô chờ lệnh về Trung Quốc và hàng tháng vẫn nhận tiền lương của Quốc tế CS để thực hiện công tác của quốc tế CS. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên Nguyễn Aùi Quốc trong đại hội của đảng xã hội để trở thành một trong những sáng lập viên của đảng cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga và được huấn luyện về tổ chức cách mạng. Trong lá thư gửi Quốc tế CS chứng tỏ họ Hồ là cán bộ của Quốc tế CS, ăn lương của Quốc tế CS để bành trướng chù nghĩa CS ở Đông Dương ... chính họ Hồ thú nhận trong lá THƯ GỪI BAN CHẤP HÀNH QUỐC TẾ CỘNG SẢN.

Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc . Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu:

1.Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.- Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này. 

2.Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và 

3.Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền. Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu? - Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v.. Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga - Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé). Ngày 11-4-1924. (Hồ Chí Minh Toàn Tập - tập 2) Sau đó được cử làm việc trong Ban phương Đông của quốc tế CS viết tắt là Comitern. Cuối năm 1924, Quốc được cử sang Trung Quốc làm việc cho hãng thông tấn Sô Viết Rosta dưới sự điều động của Mikhail Borodin, trưởng đoàn cố vấn Comintern cho Quốc Dân đảng Trung Hoa của Tôn Dật Tiên với tên Lý Thuỵ và ký mật danh là Nilovskii trong những báo cáo về quốc tế CS. Năm 1925, Nguyễn Aùi Quốc kết hợp với nhóm Tâm Tâm xã của Lê Quang Đạt, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu. Tổ chức này lấy chủ nghĩa Marx, chủ thuyết cách mạng thế giới của Lenin và chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên để tuyên truyền huấn luyện cán bộ. Nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước chạy sang Trung Quốc gia nhập vào tổ chức thanh niên này mà không ngần ngại nghi ngờ gì cả.

(2)  Chính cộng sản cũng không phủ nhận được được ý nghĩa và vai trò cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trong một tài liệu kỷ niệm cuộc cách mạng Yên Bái ngày 9 tháng 2 năm 1931, đảng CS đã phải thừa nhận là Làn sóng cách mạng bắt đầu từ cuộc bạo động ở Yên Bái do Quốc Dân Đảng tổ chức và chỉ huy như sau “Hỡi anh chị em công nông, chúng ta nên lấy ngày 9 tháng 2 làm một ngày kỷ niệm cách mạng Đông Dương. Thế nhưng ta chớ hiểu lầm ta kỷ niệm Yên Bái là ta tán đồng quốc gia chủ nghĩa và hoàn toàn kính phục những lãnh tụ của VNQDĐ đâu. Ta nên nhân dịp ngày kỷ niệm này để giải tỏ trước mặt quảng đại quần chúng công nông trong toàn xứ biết rằng cộng sản chủ nghĩa với quốc gia chủ nghĩa là một trơì một vực và không bao giờ hai chủ nghĩa ấy có thể dung hợp được với nhau ...”. Theo Hoàng văn Đào trong VNQDĐ: Lịch sử tranh đấu cận đại 1927-1954 thì chính đảng CS đã tung ra hàng nghìn tờ truyền đơn kêu gọi dân chúng nổi dậy để cho chánh sở mật thám Pháp L. Marty biết rõ ngày giờ khởi nghĩa nên VNQDĐ đã thất bại. Sau đó, CSVN cũng cướp ngay 3 mục tiêu tranh đấu của chủ nghĩa Tam Dân là Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc  của Việt Quốc Dân Đảng làm mục tiêu tranh đấu!

(3)  Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng bộ Tư pháp trong chính phủ Trần Trọng Kim nhận được tin là Đại úy Landsdale, phụ tá Thiếu tá Archimèdes Patti, trưởng đoàn OSS ở vùng Đông Nam Á … thay vì tiếp tế cho những nhóm quân Pháp còn đang chiến đấu chống Nhật trong vùng rừng núi biên giới thì lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt Minh để trang bị cho 1 tiểu đoàn đầu tiên và phái Aoron Bank tới huấn luyện cho bộ đội Việt Minh …. Sau này theo tiết lộ của trung tướng Chu văn Tấn thì trong đoàn quân từ Pắc Pó trở về Hà Nội có các sĩ quan OSS người Mỹ và chính Thiếu tá A Patty là người giúp họ Hồ viết bản Tuyên ngôn và chính Trung tá Allison viết tối hậu thư bằng tiếng Anh buộc quân Nhật ở Lạng Sơn đầu hàng. Một sự thực lịch sử nữa vừa mới được công bố là chính Hoa Kỳ chứ không ai khác đã góp phần quan trọng trong cái gọi là “cách mạng mùa Thu 19-8” “Tuyên ngôn độc lập” 2 tháng 9 năm 1945. Tổng thống Roosevelt lúc đó muốn Pháp phải trả lại độc lập cho Việt Miên Lào và đặt dưới chế độ Ủy trị của Liên Hiệp quốc nên ông ta đã chỉ thị cho các cấp quân đội Mỹ không cho thực dân Pháp mượn phương tiện trở lại Đông Dương, chính vì vậy tướng Cọp bay chỉ cho trưởng phái bộ quân sự Pháp là Sainteny lên phi cơ về Hà Nội sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 thì mọi việc xem như đã xong rồi ...! Hồ Chí Minh công bố chính phủ Lâm thời bao gồm các đảng phái nhưng Việt Minh tức CS nắm phần chủ động, họ Hồ còn khôn ngoan mời vua Bảo Đại làm cố vấn rôì sau đó tìm cách đưa Bảo Đại sang Hồng Kông rôì không cho về lại Việt Nam nữa .… Sau khi “chớp thời cơ, cướp chính quyền” họ Hồ bắt đầu nghĩ tới việc loại bỏ các đảng phái quốc gia sau khi bị áp lực của Quốc Dân đảng Trung Hoa phải thành lập chính phủ Liên hiệp Lâm thời và phải chia 20 ghế cho VNCMĐMH và 50 ghế cho VNQDĐ còn lại 280 ghế là của CS. Để che mắt quần chúng nhân dân, ngày 11 tháng 11, Đảng CS Đông Dương tuyên bố tự giải tán và thay thế bằng Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Karl Marx ở Đông Dương. Đây chỉ là một chiến thuật lùi vào bóng tối nhưng trên thực tế họ vẫn tiếp tục hoạt động dưới danh nghĩa mặt trận Việt Minh cho đến năm 1951, họ lại chính thức hoạt động dưới cái tên mới nhẹ nhàng hơn là Đảng Lao Động Việt Nam. Ý đồ qủi quyệt này của Hồ Chí Minh đã được Võ Nguyên Giáp viết lại trong hồi ký như sau: “Đâù tháng 9, bác ra mắt nhân dân với danh hiệu chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bí danh mà Bác đã dùng mấy năm trước để che mắt bọn Quốc dân đảng Trung Hoa. Những người cách mạng đã về sống giữa đồng bào nhưng mọi hoạt động của đảng vẫn tiến hành theo phương thức bí mật. Cán bộ đảng chưa ra làm việc công khai. Hầu hết đảng viên đều công tác dưới danh nghĩa cán bộ Việt Minh …. Rất nguy hiểm là bọn VNQDĐ và VN Cách mệnh Đồng minh hội, chúng cố tìm cách kích động quần chúng bằng khẩu hiệu “Không điều đình với ai hết. Thắng hay là chết”. Chúng muốn phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp”.

(4)  Theo jean Lacouture trong tác phẩm Hồ Chi Minh do Penguin Books 1969 thì khi Hồ chí Minh sang dự hội nghị Fontainbleau, một đảng viên đảng xã hội Pháp hỏi họ Hồ về việc Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu thì Hồ Chí Minh tỏ ý đau buồn về cái chết của “Nhà đại ái quốc này” nhưng không giấu được ý đố, họ Hồ nói tiếp “Tất cả những người không theo đường lối mà tôi vạch ra đều sẽ bị đập tan . Nhà báo BernardFall:  “Chiên tranh bùng nổ đã đơn giản hóa những khó khăn về chính trị của ông Hồ. Họ Hồ không cần đối phó vơí phe đối lập bằng bàn tay bọc nhung nữa và cứ việc gọi họ là Việt gian, cứ trói lại từng chùm rồi thả xuống sông cho trôi ra biển …”.

(5)  Ngày 5 tháng 7, tờ báo L’Union Francaise ở Sài Gòn đăng lời tuyên bố của Bảo Đại: “Nếu tất cả mọi người Việt Nam tin tưởng nơi tôi và nếu sự hiện diện của tôi có thể giúp cho việc thiết lập lại các quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân Việt và Pháp, tôi sẽ vui lòng trở về nước Tôi không ủng hộ nhưng cũng không chống lại Việt Minh. Tôi không thuộc đảng nào cả. Hòa bình sẽ trở lại mau chóng nếu người Pháp nhận thức được rằng tinh thần dân tộc chúng tôi ngày nay không còn giống như cách đây 10 năm. Tôi không cần nói thêm về điều này vì chính phủ Pháp bây giờ đã biết những đòi hỏi của tôi. Đề nghị của tôi là tôi chỉ đóng vai trò trung gian giữa nước Pháp và tất cả các đảng phái ở Việt Nam …”. Thật ra trước khi Bảo Đại ký hiệp định Élysées với TT Pháp Vincent Auriol thành lập quốc gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, Bảo Đại làm Quốc trưởng ... thì ngày 18-1-1949, Trung Quốc đã thừa nhận chính phủ VNDCCH và ngày 31-1-1949, Hồ Chí Minh gửi công hàm thừa nhận chính phủ Trung Quốc. Ngày 1 tháng 10, sau khi chiếm Bắc Kinh, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Cuộc diện chính trị Việt Nam thay đổi chuyển sang một khúc quanh lịch sử khi Trung Cộng sau khi chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, ngày 14 tháng 1 năm 1950 Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc gửi công hàm thừa nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á và chính thức viện trợ những vũ khí tối tân cho Việt Minh. Ngày 31 tháng 1 năm 1950, Liên Xô gửi công hàm chính thức thừa nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Thế giới tự do lo sợ trước nguy cơ đe dọa bành trướng của CS nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ và Anh quốc chính thức thừa nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo. Đây là một điểm mốc đánh dấu khúc quanh lịch sử từ một cuộc chiến “ Giải phóng Dân tộc” sang một cuộc chiến “Ý thức hệ”.

(6)  Việt Nam 1945-1975 của Lê Xuân Khoa tr 100. Theo Qiang Zhai, China & The Vietnam wars, 1950-1975 (Chapel Hill: The North Carolina University Press,2000), 13 thì Việt Minh và quân đội giải phóng của Mao Trạch Đông đã bắt đầu hợp tác không chính thức ở vùng biên giới từ năm 1946. Từ tháng 3 năm 1946, Đệ nhất Trung đoàn của Hồng quân Mao đã được phép sử dụng phần đất của Việt Nam ở biên giới để làm hậu cứ để tấn công quân đội Tưởng Giới Thạch. Một ngàn quân của Trung đoàn này được Việt Minh tiếp tế lương thực và thuốc men. Để đáp lại, các sĩ quan Trung quốc huấn luyện bộ đội Việt Minh ở Thái Nguyên và Bắc Giang từ tháng 6 năm 1946. Năm 1947, 1,000 binh lính người Việt gốc Hoa cũng được huấn luyện và sát nhập vào bộ đội Việt Minh (Qiang Zhai, 11-12)

(7). Năm 1942, trong một phiên họp cuả Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dương gồm Trung Hoa-Phi Luật Tân-Úc-Tân Tây Lan và Canada, TT Roosevelt cho biết là ông không muốn thấy chế độ thuộc địa Pháp được phục hồi ở Đông Dương. Đặc biệt, trong lá thư gửi cho Bộ Trưởng Ngoại giao Cordell Hull ngày 24-1-1944 Roosevelt viết: Đông Dương không nên bị trả cho Pháp mà cần được đặt dưới sự ủy trị của quốc tế. Pháp chiếm đóng xứ này đã gần một trăm năm mà dân chúng ở đây còn khổ cực hơn lúc ban đầu ...! Nhân dân Đông Dương có quyền được hưởng những điều kiện tốt đẹp hơn ...”. Tuy nhiên ý định này bị Thủ tướng Churchill chống đối, Churchill tuyên bố rằng ông không bao giờ đồng ý cho bốn, năm chục nước thọc tay can thiệp vào sự tồn tại của đế quốc Anh. Sau Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Roosevelt bực dọc nói: Stalin thích ý kiến này, Trung Hoa cũng tán thành, Anh Quốc không ưa vì sợ đế quốc của họ tan vỡ …”. Ngay từ năm 1919, Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn Tự trị và các quyền căn bản cho VN gửi TT HK Wilson, ngày 17 tháng 10 năm 1945 Hồ Chí Minh tìm gặp Đại sứ HK Caffery ở Paris trong thời gian dự hội nghị Fontainbleau để chuyển thư đến TT Truman. Tài liệu Bộ Ngoại giao HK cho biết thì HCM đã từng mong muốn Việt Nam được đặt dưới sự Bảo hộ của Mỹ như trường hợp Phi Luật Tân khi trước (Schulzinger 19, Duiker 340) Toán OSS cũng tường trình như sau: Đối với người An Nam, sự hiện diện của chúng ta là biểu tượng không phải cho sự giải phóng khỏi nạn chiếm đóng của Nhật mà giải phóng khỏi hàng chục năm dưới chế độ thuộc địa. Chính phủ VN xem Hoa Kỳ là nhà vô địch bênh vực cho quyền của các dân tộc nhược tiểu ... (Hess,178-179) 
 

Trang Bìa 
Ðầu trang