VIỆT
NAM NGÀY MAI
DÂN
CHỦ - TỰ DO - CÔNG BẰNG - TIẾN BỘ
HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH
TRỊ TÔN GIÁO VN
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HẢI
NGOẠI CHỦ TRƯƠNG
ĐẶC
SAN MÙA XUÂN SỐ 1
GIỖ
TỔ HÙNG VƯƠNG
QUỐC VIỆT
* * *
Hàng năm cứ vào ngày
mồng mười tháng ba Aâm lịch nhân dân cả nước nô nức
kéo về đền Hùng để dự lễ giỗ Tổ Hùng Vương, người
khai mở nước Văn Lang xa xưa của Việt tộc. Truyền thống
uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây đã đi
vào tâm thức Việt như một nguồn suối tâm linh làm phong
phú thêm đời sống tinh thần của người Việt. Ngay tự thuở
xa xưa, người Việt cổ đã có một đời sống tâm linh siêu
vượt. Người Việt cổ đã sớm nhận thức được cuộc
sống thường nhật để tìm ra lẽ sống của cả một đời
người nên không chỉ tin vào thần thánh mà còn tin vào chính
con người. Chính vì vậy, từ xa xưa người Việt ngoài việc
thờ cúng thần linh giúp cho cuộc sống còn thờ cả nhân thần
là những người khi còn sống đã giúp dân giúp nước, giúp
ich cho địa phương. Đặc biệt người Việt có truyền thống
thờ cúng Tổ tiên, ông bà cha mẹ là những người trực tiếp
sinh đẻ ra mình, nuôi dưỡng mình thành người. Ngay cả ông
Trời, đối với người Việt là cư dân sống bằng nghề
nông nên tôn thờ ông trời đã ban cho những giọt nước mưa
tưới xuống đất để hạt giống nảy mầm, cây cối đâm
chồi nảy lộc. Ông trời được dân gian Việt kêu cầu đến
“Trời ơi” mỗi khi gặp sự đau buồn, dân gian còn nhân
cách hoá ông trời thân thương từ chân trời, lưng trời đến
mặt trời và nếu cần thì sẵn sàng bắc thang lên hỏi ông
trời ... chứ không thần thánh hoá kiểu Hán tộc là có một
ông Ngọc Hoàng Thượng đế toàn quyền ban phát, toàn quyền
sinh sát trên thượng giới và cả ở dưới trần gian nữa.
Một nhà Việt Nam học người Pháp Léopold Cadìere đã nhận
định về tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người
Việt Nam như sau: “Với người Việt, Trời không phải là
một vị thần, ít nhất là trong quan niệm dân gian. Đó là
ông Trời, đấng hình như thuộc về thế giới siêu việt.
Hoàng đế tế trời một cách trọng thể còn dân gian thì
cầu trời, kêu trời hàng ngày bằng ngôn ngữ thông thường.
Ý niệm trời thấm sâu vào tâm tư người Việt và được
biểu lộ thường xuyên mỗi ngày qua ngôn ngữ một cách minh
nhiên đến nỗi ta không thể thấy rằng ý niệm trời chính
là một nguyên lý cơ bản và cao cả nhất đối với đời
sống tín ngưỡng của người Việt”. Trong khi phương Tây
với nền văn minh hết duy thần, duy linh , duy tâm, duy lý rồi
duy vật. Nền văn minh vật chất thái quá khiến con người
cảm thấy bất an nên thường đặt ra những vấn nạn như
chúng ta từ đâu đến rồi chết sẽ đi về đâu? Chính những
câu hỏi xa vời không bao giờ giải đáp được nên con người
trở nên vô thần hoặc phải tìm đến tôn giao chấp nhận
một cách vô thường.
Với niềm tin đơn giản
chân chất của người Việt cổ thì Tổ Tiên, ông bà cha mẹ
đã sinh ra mình chứ không phải do một thần linh nào từ trên
trời. Chính vì thế phải biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng
dục mình nên người. Bổn phận con người là phải hiếu
thảo với cha mẹ, anh chị em thương yêu đùm bọc lẫn nhau
vì cùng một mẹ mà ra. Huyền thoại Rồng Tiên với Bố Lạc
mẹ Aâu của Việt tộc, chúng ta cùng một bào thai mẹ Aâu,
trăm họ cũng cùng từ một gốc Bố Rồng mẹ Tiên mà ra cả.
Trên thế giới duy nhất chỉ có dân tộc ta mới có hai chữ
“Đồng bào” nên đối với tha nhân chúng ta cũng dùng tình
thân mà đối xử, mới gọi nhau là bà con cô bác như trong
một nhà vậy. Khi sống phải biết tri ân thờ cúng ông bà
cha mẹ để mai này khi ta có chết đi thì cũng về với ông
bà cha mẹ mà thôi. Người Việt có một đời sống tinh thần
tâm linh sâu thẳm, thể hiện tình cảm thiêng liêng cao cả
mà không một dân tộc nào có được. Từ ý thức tôn thờ
Quốc tổ Hùng Vương và các anh hùng dân tộc, danh nhân văn
hoá đến ông bà tiên tổ đã tập đại thành ý thức cao
độ về lòng yêu nước thương nòi, tạo cho mỗi con dân đất
Việt niềm tự hào về dòng dõi con Rồng cháu Tiên của Việt
tộc. Hiện nay ở Việt Nam vẫn còn tôn thờ nhân thần và
đạo thờ cúng ông bà vẫn còn trân trọng bảo lưu, đó chính
là bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc và cũng là
đạo lý làm người của Việt tộc. Truyền thống cao đẹp
này trải qua hơn sáu ngàn năm lịch sử vẫn thấm đậm
trong lòng dân tộc với bao thăng trầm biến đổi của dòng
vận động lịch sử. Cho tới nay và mãi mãi về sau, hàng
hàng lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam vẫn tưởng nhớ về
cội nguồn dân tộc với tất cả lòng hãnh diện tự hào
Việt Nam. Tự xa xưa, tiền nhân ta đã chọn ngay mồng mười
tháng ba là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Tháng 3 là tháng Thìn,
tháng của bố Rồng và ngày 10 là ngày của mẹ Tiên vì giỗ
quốc mẫu Aâu Cơ vào ngày mồng 5 tháng 5 hàng năm.*
Đền Hùng nằm trên
núi Nghĩa Lĩnh còn có tên là núi cả, núi cao nhất 175 mét
trong quần thể 100 ngọn núi ở Vĩnh Phú. Theo Hùng triều Ngọc
phả, Thần phả xã Tiên Lát huyện Việt Trì tỉnh Hà Bắc
thì đến đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huý
Đức Quân Lang mới dời đô xuống Việt Trì, Phong Châu.
Hùng Tạo Vương trị vì từ năm Tân Dậu 660 TDL đến năm
Nhâm Thìn 569 TDL ngang với thời Chu Linh Vương đời Đông Chu.
Theo học giả Trần Quốc Vượng thì Việt Trì và vùng xung
quanh Vĩnh Phú là đỉnh cao nhất của tam giác châu sông Hồng.
Sông Hồng là tên gọi muộn màng ở cuối thế kỷ thứ XIX
do màu nước của sông này. Sách Thuỷ Kinh chú ở thế kỷ
thứ VI gọi nó là Tây Đạo, cái tên chữ” Han Việt này
là sự phiên âm từ một tên Tày cổ : Nậm Tao mà tên Việt
hiện nay còn giữ được ở Việt Trì là sông Thao. Tam giác
châu sông Hồng được giới hạn bởi dải núi Tam Đảo ở
rìa Đông Bắc và dải núi Tản Viên ở rìa Tây Nam. Nói theo
ngôn ngữ Phong thuỷ cận địa lý học thì đất tổ với
trung tâm điểm Việt Trì ở ngã ba Bạch Hạc ngoảnh mặt
hướng biển hậu chấm xa là dải Hoàng Liên Sơn chất ngất
trời Nam, tay “Long” là dải Tam Đảo với dưới chân nó
là sông Cà Lồ. Tay “ Hổ” là dãy Tản Viên với dưới
chân nó là sông Tích, sông Đáy. Trước mặt là sự “ Tụ
thuỷ” rồi “ Tụ nhân” trên đôi bờ nhị thuỷ với các
đầm lớn trũng lầy như đầm Vạc Vĩnh Yên, ao Vua, suối
Hai Sơ Tây … Thế đất đó bảo đảm một viễn cảnh phát
triển ngàn năm, hơn bốn ngàn năn nếu tính từ người Việt
cổ Phùng Nguyên đến ngày nay. Bao quanh điểm Việt Trì là
những núi đồi lô nhô như bát cơm mà tư duy vũ trụ luận
dân gian hình dung thành bầy voi trăm con mà tới 99 con chầu
về đất tổ.
Đền Hùng gồâm Đền
Hạ, Đền Trung, Đền Thượng và Lăng vua Hùng. Từ dưới
đi lên qua cổng Đền cao 8m1, nóc cổng hình dáng tám mái,
hai bên là phù điêu hình 2 võ sĩ cầm đao và chuỳ bảo vệ
đền. Bước lên 225 bậc đá lên đến đền Hạ. Tương truyền
nơi đây mẹ Aâu đã sinh ra bọc trăm trứng sau nở thành trăm
người con trai. Bước thêm 168 bậc thang đá là đến Đền
Trung toạ lạc ngang sườn núi Nghĩa Lĩnh, theo tương truyền
thì đây là nơi Lang Liêu đã gói bánh dày bánh chưng dâng
vua cha để cúng tiên tổ nhân ngày Tết. Chính tại nơi đây,
vua Hùng thường hội các Lạc Hầu Lạc Tướng để bàn việc
nước. Đền Trung thờ phượng các vua Hùng và dòng dõi, có
cả bệ thờ công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. Ngay ở gian giữa
đền Trung treo bức đại tự “Hùng Vương Tổ miếu” nghĩa
là miếu thờ Tổ Hùng Vương, gian bên phải treo một bức
đại tự “Triệu Tổ Nam bang” nghĩa là Tổ muôn đời của
nước Nam, gian bên trái treo bức “Hùng Vương Linh tích”
nghĩa là Huyền tích linh thiêng của vua Hùng. Bước thêm 132
bậc thang đá nữa là tới đền Thượng. Đền Thượng có
4 nếp nhà: Nhà chuông trống, nhà Đại Bái, nhà Tiền Tế,
Cung thờ. Trên vòm cung cửa chính ra vào được trang trí phù
điêu hình 2 vệ sĩ phương phi làm nổi bật bức hoành phi
4 chữ “Nam Việt Triệu Tổ” nghĩa là Tổ muôn đời của
nước Việt. Trong nhà Đại bái có câu đối bất hủ:
Thác thuỷ khai cơ,
Tứ cố sơn hà qui bản tịch …
Đăng cao vọng viễn,
quần phong la liệt tự nhi tôn … !
“Mở lối đắp nền
bốn hướng non sông về một mối
Lên cao nhìn rộng,
nghìn trùng đồi núi tựa đàn con …”
Trong nhà Tiền tế đặt
một Hương án trên để tráp thờ bên trong đặt một triện
gỗ hình vuông có khắc 4 chữ: “Hùng Vương tứ phúc”. Đặc
biệt có treo một bức hoành phi trong đó có câu: “Quyết
sơ dân sinh” nghĩa là cuộc sống của nhân dân là điều
quyết định đầu tiên của người lãnh đạo. Ngay từ thời
vua Hùng đã lấy dân làm gốc: “Tất cả vì dân, do dân và
của nhân dân” còn giá trị mãi đến muôn đời. Bên phải
đền Thượng là cột đá thề của An Dương Vương, bên trái
đền Thượng là Lăng vua Hùng nhìn về hướng Đông Nam, kiến
trúc theo hình khối vuông, trên có cổ diêm 8 mái, đỉnh chóp
đắp hình rồng uốn lượn nổi lên 3 chữ khắc chìm: Hùng
Vương Lăng. Trên mỗi mặt tường đều đắp mặt hổ phù,
thành bậc đắp kỳ lân, cửa chính của Lăng nổi lên 2 câu
đối tri ân Quốc Tổ Hùng Vương:
“Lăng tẩm tự năm
nào, núi Tản sông Đà, non nước vẫn quay về đất Tổ …
Văn minh đương buổi
mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mồ ông
… !”
Hàng năm vào ngày mồng
mười tháng ba là ngày lễ hội Hùng Vương được xem như
Quốc lễ của cả một dân tộc. Thời xưa đích thân nhà
vua đứng chủ tế với đủ nghi thức tế lễ long trọng.
Lễ vật gọi là lễ “Tam sinh” gồm nguyên một con heo, một
con bò và một con dê. Bánh chưng và bánh dày là lễ vật không
thể thiếu được cũng như khi cử hành tế lễ phải có đầy
đủ bộ nhạc cụ đặc biệt là chiếc trống đồng độc
đáo của Việt tộc. Sau phần tế lễ là phần lễ hội với
“cuộc rước bánh dày bánh chưng và rước cỗ chay”, “Rước
voi” và cuối cùng là lễ “Rước kiệu bay” truyền thống
của dân gian các làng xung quanh vùng đất Tổ. Mỗi làng đều
đem theo kiệu riêng của làng mình từ các làng do vị bô lão
dẫn đầu rồi đến thanh niên trai trẻ mặc võ phục thuở
xưa tay cầm đủ loại cờ quạt sắc màu rực rỡ. Tất cả
tề tựu dưới chân đền chờ cử hành tế lễ tạo nên một
rừng người, rừng cờ hoa với đủ sắc màu. Mọi người
nô nức dự lễ hội, già trẻ rộn rã tiếng cười nhưng
khi tiếng chiêng tiếng trống khai lễ thì không khí trang nghiêm
u mặc bao trùm cả một vùng đất Tổ. Sau phần tế lễ rước
kiệu là phần hội hè với đủ mọi trò vui chơi cho nam thanh
nữ tú tham dự thưởng ngoạn. Mở đầu là cuộc thi đua thuyền
truyền thống của các đội thuyền Rồng của các làng trong
hồ Đá Vao ngay cạnh chân núi. Dọc bờ hồ vòng quanh ven chân
núi đủ các trò vui chơi nào là những rạp tuồng chèo, những
cây đu tiên, những trò chơi dân gian như đánh cờ người,
trò “tung còn” giữa thanh niên thiếu nữ ngày xuân, những
phường “hát Xoan” của các nơi về tụ hội tổ chức hát
Xoan với những làn điệu dân ca truyền thống mỗi độ xuân
về.
Việt tộc là cư dân
nông nghiệp nên thường tổ chức lễ tết hội hè quanh năm
suốt tháng nhưng lễ hội đền Hùng mang một ý nghĩa hết
sức cao đẹp. Dự lễ hội đền Hùng chính là cuộc hành
hương trở về nguồn cội dân tộc trong tâm thức mỗi con
dân đất Việt. Lễ hội đền Hùng không đơn thuần là cuộc
chơi xuân với những hội hè đình đám mà để chúng ta hướng
vọng về Quốc tổ Hùng Vương, người truyền thừa sự sống
và khai mở đất nước Văn Lang cho tất cả chúg ta. Trên thế
giới ngày nay, có lẽ chỉ có dân tộc Việt Nam có Quốc tổ
để tôn thờ và có một huyền thoại Rồng Tiên đẹp như
áng sử thi để chúng ta có quyền tự hào gọi nhau là đồng
bào, là anh em ruột thịt cùng một Bố Lạc Mẹ Âu sinh ra:
“Bọc điều trăm
họ thai chung,
Đồng bào tiếng
gọi vô cùng Việt Nam”
* Theo cách tính ngày
tháng Việt Lịch của dân tộc, thì tháng 3 là tháng Thìn,
và đếm từ Tý trong 12 con giáp, thì ngày 10 là ngày Dậu.
Theo 12 địa chi, Dậu là gà, cũng thuộc loài chim, và chim là
biểu hiệu của Tiên. Cũng vậy, địa chi Thìn (Rồng) đã
mang nghĩa là Rồng. Ngày 10 tháng 3 là ngày Tiên, tháng Rồng.
Ngày 10 tháng 3 được Tổ Tiên chọn chính là để giúp con
cháu dễ dàng nhận thức về nguồn gốc dân tộc của mình:
Con Rồng cháu Tiên.
ĐỀN THỜ QUỐC TỔ
HÙNG VƯƠNG
Theo Ngọc phả Đền
Hùng do Hàn lâm viện Đại học sĩ Nguyễn Cố phung soạn vào
năm Hồng Đức nguyên niên 1470, sau được Hàn lâm Thị Độc
sao lại năm Hoàng Đinh Nguyên niên 1600 thì Đền Trung tức
Hùng Vương Tổ miếu được xây vào thế kỷ XIV, bị quân
Minh phá huỷ vào thế kỷ XV. Đến thời Lê ( 1427-1573) đền
được xây dựng lại theo bố cục hình chữ nhất cùng với
Gác chuông và Thiền Quang Tự nay chỉ còn 2 phần tiền tế.
Đền Thượng cũng được xây dựng vào thời kỳ này. Đến
thế kỷ XVII-XVIII đền Hạ mới được xây dựng. Năm 1823,
vua Minh Mạng cho xây dựng Miễu “Lịch đại Đế vương”
ngay tại kinh thành Huế. Nhà vua đã bà bạc kỹ lưỡng với
bộ Lễ để đưa các nhân vật lịch sử vào thờ trong miếu.
Bản tâu trình của bộ Lễ lên vua Minh Mạng như sau: “Kinh
Dương Vương, Lạc Long Quân thực là thuỷ tổ của nước
Việt ta. Thế thì từ ngoại kỷ trở về trước phải lấy
các vị sáng thuỷ mà thờ. Từ nhà Đinh về sau thì giềng
mối mới rõ. Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ,
Trần Thái Tông, Lê Thái Tổ thừa vận lần lượt nổi lên,
đều là vua dựng nghiệp một đời. Trong khoảng ấy, anh chúa
trung hưng như Trần Nhân Tông ba lần đánh bại quân Nguyên,
hai lần khôi phục xã tắc. Lê Thánh Tông lập ra chế độ,
mở rộng bờ cõi, công nghiệp rạng rỡ vang rền … đều
nên liệt vào miếu thờ”. Đến năm Tự Đức thứ 27 (1874)
ra sắc chỉ sửa chữa lại đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh
và cho khắc 2 bia đá dựng tại khu đền thờ. Năm Duy Tân
thứ sáu (1912) cho trùng tu cung trong điên ngoài qui thứ như
ngày nay. Năm Khải Định thứ 7 (1922) lại cho sửa sang thêm
Lăng mộ và trùng tu đền Giếng thờ 2 công chúa Tiên Dung
con vua Hùng thứ 3 lấy Chử Đồng Tử và công chúa Ngọc Hoa,
con vua Hùng thứ 18 lấy Cao Sơn tức Sơn Tinh (Thánh Tản Viên).
Năm 1935, vua Bảo Đại cho trùng tu và mở rộng thêm diện
tích đền và cho dựng bia đá ngày 10 tháng 3 năm Canh Thìn
do Bùi Ngọc Hoàn soạn ngày 15-4-1940 nội dung như sau: “Đền
vua Hùng là nơi thờ các vua họ Hồng Bàng trong lịch sử tối
cổ của nước Việt ta”. Thời xưa, hàng năm tổ chức
quốc lễ vào mùa Thu nhưng đền đời vua Khải Định năm
1917, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc xin bộ Lễ lấy
ngày mồng 10 tháng 3 Aâm lịch hàng năm làm Quốc lễ, trước
ngày
giỗ vua Hùng thứ 18 một ngày.*
(Theo Lê Xuân Diệm trong
LSVN tập 2 trích dẫn Lê Tư Lành “Văn học đề vịnh Đền
Hùng”. Năm 2003, trong chuyến hành hương về thăm đất Tổ,
tơi cĩ gặp một ông cụ nguyên là tiên chỉ trong làng ngay
tại đền Hùng được cụ cho biết nơi viết câu hết sức
lộng ngôn vô liêm sỉ của Hồ Chí Minh “Vua Hùng có công
dựng nước, bác cháu ta có công giữ nước.” trước là
bảng ghi công bà Nghĩa Lợi, người có công tu bổ Đền Hùng,
sau bị dỡ đi để thay vào bảng ghi câu nói vong ân bội nghĩa,
bất nhân ! Trong bài thơ “Vịnh Đền Đức Thánh Trần”
sau đây của Hồ Chí Minh đã chứng tỏ cái bản chất vô
thần, vô tổ quốc, vô gia đình, bất nhân vô đạo khi dám
so sánh với Đức Thánh Trần:
Cũng cờ cũng biển
cũng anh hùng,
Tôi bác cùng chung
nợ kiếm cung ...
Bác diệt quân Nguyên
thanh kiếm bạc,
Tôi trừ giặc Pháp
ngọn cờ hồng …
Bác đưa một nước
qua nô lệ,
Tôi dẫn năm châu
tới đại đồng ..!
Bác có linh thiêng
cười một tiếng,
Mừng tôi cách mạng
sắp thành công ..!
|