Xáo
voi và vợ chồng Phạm Hồng Sơn
Dân chủ là cái quý báu
nhất của nhân dân, thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn
năng có thể giải quyết mọi khó khăn. (Hồ Chí Minh) Dân
chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. (Nông
Ðức Mạnh) Trăm voi không được bát nước xáo. (Tục ngữ
VN.) Tôi đã được nghe đến món xáo vạc và xáo cò, từ
thuở nằm nôi, qua những lời hát mẹ ru:
Cái cò, cái
vạc, cái nông,
Trong ba cái ấy vặt
lông cái nào ?
Vặt lông cái vạc
cho tao,
Tao xáo, tao xào, tao
lại nấu măng.
Con cò mày đi ăn đêm.
Ðậu phải cành mềm,
lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt
tôi nao.
Tôi có lòng nào,
ông hãy xáo măng
Xáo cò và xáo vạc, như
thế, đã có thời gian được coi là …món ăn (rất có thể)
được nhiều người ưa chuộng. Thời đó đã qua. Xáo vịt
đã thế chỗ xáo cò và xáo vạc. So với vịt, cò và vạc
(rõ ràng) yếu thế. Chúng nhiều xương và nhiều lông lắm.
Làm thịt mệt bỏ mẹ mà chả bõ bèn gì. Vịt thì chỉ cần
cắt cổ là đã có ngay một đĩa tiết canh. Vặt lông xong
là thấy liền trước mắt một đĩa thịt vịt chấm nước
mắm gừng đầy tú hụ. Cổ cánh, xương xẩu nấu măng (chắc)
vẫn mỡ màng và bùi béo hơn là nguyên cả một con cò hay
con vạc (gầy nhom) mang xáo.
Thế là cả cò lẫn
vạc (đành) mất việc. Xáo vịt, dù vậy, chưa chắc đã được
mọi người (nhiệt liệt) tán thưởng. Nó thường chỉ được
ái mộ ở những nơi âm thịnh dương suy - nơi mà đàn ông
không có tiếng nói, hoặc nói rất ít và (lắm khi) rất nhỏ.
Chớ (dd\\\mẹ) giữa Sài Gòn, vào buổi trưa hay một buổi
chiều nồng, xung quanh đầy nhóc bạn bè đang nói cười và
chửi thề rôm rả - sau khi đã nếm vài miếng thịt luộc
chấm với muối tiêu chanh, ngắt nhẹ mấy lá mơ để thử
món dồi, gặm năm ba cái chả chìa, ăn lưng chén rựa mận,
và đã uống lai rai chừng hai ba xị - thì một thường dân
có tư cách sẽ không đụng đũa vào xáo vịt. Phải xáo chó
cơ, "chúng ông" mới chịu. Nói cho đã miệng và đỡ ... thèm,
thế thôi. Chứ đó là chuyện đã qua, khi tôi còn (rất) trẻ,
ở Sài Gòn năm xưa, lúc chưa có ... biến! Mà xáo chó, nghĩ
cho cùng, có lẽ ở mọi nơi (và mọi thời) đều tuyệt diệu
như nhau: "Hà Nội cũng lại còn có một nhân vật đã đi vào
lịch sử của ... thịt chó: Me sừ Lâm Mặt Ðỏ - ở phố
Châu Long. Sở dĩ ông có cái hỗn danh ấy vì ông là chủ một
quán thịt chó. Khách tới ăn, ai cũng quý mến ông và người
nào cũng mời ông cụng ly. Thành thử mặt ông lúc nào cũng
đỏ gay như mặt trời. Các món ăn của quán ông đều được
giới 'ddả cấu tung hô vạn tuế: nhất là món dồi chó và
xáo chân chó. Vâng, chân chó được ninh nhừ tới mức những
cái gân của nó mềm ra chẩy nhựa, đến nỗi sau khi nó đã
trôi qua cổ họng mà dư vị vẫn còn đọng lại trên đầu
lưỡi" (Phan Nghị, "Thử Tản Mạn Về nghệ Thuật Ăn Thịt
Chó," Ngày Nay ,15 Jun 2003: B3). Và đã nhắc đến Hà Nội với
xáo chó thì tưởng cũng nên luận chơi (chút đỉnh) về món
xáo voi.
Ðây là một sản phẩm
thuần tuý quốc doanh, được quảng cáo và phổ biến khắp
nơi - hơn nửa thế kỷ qua - bằng khẩu hiệu, bích chương,
chiến dịch, phong trào, chỉ thị, nghị quyết, nghị định,
diễn văn, tuyên ngôn, tuyên cáo, tuyên bố \.\.., và bằng những
bài xã luận trên báo của Ðảng và Nhà Nước. Xin nếm thử
một thìa xáo voi, loại dành riêng cho nhi đồng, qua bài "Tổ
Chức Tốt Tháng Hành Ðộng Vì Trẻ Em", đăng trên báo Nhân
Dân (số ra ngày 1 tháng 6 năm 2003): "Ðiều đặc biệt ở đây
chính là sự hoà quyện truyền thống yêu thương con trẻ của
người Việt Nam với đường lối nhất quán của Ðảng, Nhà
nước về đầu tư phát triển con người, chăm lo đào tạo
thế hệ tương lai của dân tộc, của đất nước". Yêu thương,
chăm sóc, bảo vệ trẻ thơ là tình cảm tự nhiên của chung
cả nhân loại.
Chỉ riêng người Việt
mới tổ chức rầm rộ "Tháng Hành Ðộng Vì Trẻ Em", kéo
dài từ ngày 15 đến 30 tháng 6 hàng năm - theo \.\.. chỉ thị
của ban bí thư trung ương Ðảng CSVN (khoá 7), ban hành ngày
30 tháng 5 năm 1994. Cũng chỉ riêng ở Việt Nam - "với đường
lối nhất quán của Ðảng, Nhà nước về đầu tư phát triển
con người" - mới có những đứa bé thơ (từ 5 đến 9 tuổi)
đ ược đưa sang những nước láng giềng \.\.. làm điếm:
"Thirty seven Vietnamese girls - one as young as 5, and another nine of
them were under 10 - were rescued in the raids \.\.." - theo như tường
thuật của phóng viên Ker Munthit, thuộc hãng thông tấn AP,
vào ngày 1 tháng 4 năm 2003 - qua bản tin "Vietnamese Arrested in
Cambodian Brothel Raid". Cũng không nơi nào trên thế giới này,
từ hơn nửa thế kỷ qua, mà phụ nữ nhận được nhiều
lời vinh danh và ca tụng (nức nở) như ở Việt Nam - nhất
là vào những hôm Nhà Nước tổ chức kỷ niệm Ngày Phụ
Nữ Quốc Tế. Và cũng ở Việt Nam: "Có tới 70% phụ nữ ở
nông thôn miền Băc thường xuyên đi phun hoá chất, và nhiều
chị đang mang thai, đang có kinh nguyệt, đang cho con bú cũng
đi phun \.\.. Tỉ lệ xẩy thai ở những phụ nữ này lến tới
10%. Chị em bị tai nạn rất cao:130/10000 dân, trong đó 58% do
tai nạn lao động. Gần 90% không được khám sức khoẻ, 35%
mắc các bệnh phụ khoa, hô hấp, cảm cúm, suy nhược \.\.."
(Phương Anh,"Phụ Nữ Nông Thôn Quá Thiệt Thòi", Lao Ðộng,
8 Mar. 2003).
Những con số vừa nêu
giúp cho mọi người hiểu tại sao phụ nữ và trẻ con Việt
nam dễ \.\.. dụ. Chỉ trong một xã - xã Bình Thạnh Ðông,
huyện Phú Tân, An Giang, tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2003 -
đã có 210 phụ nữ và trẻ em bị dụ dỗ để bán qua biên
giới ! Nông thôn không dành "độc quyền" trong việc sản xuất
những "cánh hoa" bầm dập, tả tơi, te tua và tàn tạ ở V\.N.
Hồi tháng 10 năm 2002, trong một xí nghiệp ở Bình Chánh đã
xẩy ra một vụ ngộ độc khiến nhiều nữ công nhân thiệt
mạng. "Mãi sau này người ta mới biết nhiều chị đã tìm
cái chết để giải thoát cảnh nghèo đói. Ðồng lương xí
nghiệp quá thấp chỉ đủ để sống lây lất. Ði làm về
lại chen nhau 8, 9 người trong một phòng nhỏ xíu, thiếu thốn
đủ thứ. Lẽ ra với quĩ đất đai làm chủ, với quyền hạn
của mình, nhà nước có đủ điều kiện xây cất chung cư
cho công nhân thuê với giá rẻ để bảo đảm điều kiện
sinh sống cho tầng lớp đang chiếm đa số trong xã hội" (Phan
Kiến Quốc, "Những Nghiệt Ngã Của Tháng Năm," Việt Luận,
24 Jun. 2003). Có hàng vạn chuyện ("lẽ ra") như thế đã bị
phớt lờ ở Việt Nam. Sự "quan tâm sâu sắc của Ðảng và
Nhà Nước", nếu có, chỉ có trên \.\.. giấy má - giấy để
in nghị định, nghị quyết, diễn văn, chỉ thị \.\.. hoặc
những bài xã luận "vẽ voi" của báo Nhân Dân. Trăm voi không
được bát nước xáo ! Và xáo voi không chỉ dành dể phục
vụ những thành phần "nhẹ dạ" như nhi đồng hay phụ nữ.
Nó được phân phối đồng đều đến mọi người, và mọi
giới.
Ngày 4 tháng 3 năm 2002,
trong hội nghị lần thứ 5 của ban chấp hành trung ương Ðảng
khoá IX - ông Nông Ðức Mạnh, đương kim Tổng Bí Thư của
ÐCSVN, đã "khẳng định dân chủ là bản chất của chế độ
xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu là động lực phát triển
kinh tế - xã hội - đất nước được xác định rõ trong
chủ trương, đường lối hơn 72 năm qua của Ðảng" (Nhân
Dân 04/03/02). Qua ngày hôm sau, cũng tại hội nghị này, ông
vẫn ân cần và thiết tha nhắc lại ý này; đã thế, ông
còn trích dẫn thêm "đôi lời vàng ngọc" của chủ tịch Hồ
Chí Minh: "Dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân, thực
hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết
mọi khó khăn" - theo như tường thuật của báo Lao Ðộng,
số ra ngày 05 tháng 03 năm 2002. Ðược lời như cởi tấm lòng.
Một công dân Việt Nam,
ông Phạm Hồng Sơn, đã hân hoan coi đây là "Những Tín Hiệu
Ðáng Mừng Cho Dân Chủ Tại Việt Nam"- như tựa đề một
bài viết của ông, và bài viết này đã được cho phổ biến
khắp nơi, cùng với đề nghị (chí tình) rằng đảng CSVN
"hãy công bố góp ý, kiến nghị với đảng và nhà nước
của những nhân vật như Hoàng Minh Chính, Trần Ðộ, Nguyễn
Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Trần Khuê, cũng như nhiều ý kiến đóng
góp, thậm chí phê phán của những người Việt Nam định
cư ở nước ngoài". Ðề nghị này đã làm lộ bí mật quốc
gia. Nó đã khiến cho cả thế giới biết đ ược đường
lối và chính sách "trăm voi không được bát nước xáo" của
nhà nước Việt Nam.
Tội nặng đến thế
thì bị bắt vào tù là phải. Tôi chỉ thấy (hơi) băn khoăn
chút xíu, khi nghe câu trả lời của bà Phạm Hồng Sơn - với
phóng viên Ðinh Quang Anh Thái, của đài Little Saigon, sau phiên
toà ngày 18 tháng 6 năm 2003 - như sau: "Tôi cũng có một chút
suy nghĩ như thế này muốn bầy tỏ với cộng đồng người
Việt và cộng đồng người n ước ngoài, là từ khi chồng
tôi bị bắt đến nay, tôi đã nghe rất nhiều tổ chức lên
tiếng cảnh cáo chính quyền Hà Nội về sự vi phạm nhân
quyền của chế độ, mà cụ thể là trường hợp của bác
sĩ Phạm Hồng Sơn.
Quả thực là tôi mong
muốn mọi người phải có biện pháp gì đó hữu hiệu hơn
nữa. Chứ còn nếu cứ như từ trước đến nay thì mọi nỗ
lực chỉ là những lời cảnh báo đưa ra rồi lại rơi vào
một sự im lặng đáng sợ. Trong khi những người như anh Sơn
thì lại phải chịu một bản án, chịu một phiên toà bất
công như ngày hôm nay". Cứ theo như "một chút suy nghĩ" của
bà Phạm Hồng Sơn thì ở Little Saigon, và nhiều nơi khác nữa
trên thế giới, dường như, cộng đồng người Việt hải
ngoại cũng đang học cách nấu xáo voi - theo công thức "trăm
voi không được bát nước xáo" - của dân làng Ba Ðình, Hà
Nội!
Tưởng Năng Tiến
|