VỊN
MỘT CÂU THƠ
Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!
Phùng Quán
Tương tự như Phùng Quán, tôi "cũng"
có làm thơ; và có vô số lúc (chứ không phải "phút") ngã
lòng. Khác với Phùng Quán, thơ của tôi ‘’chưa‘’ được
ai tán thưởng; và vào những lúc ngã lòng - có lúc kéo dài
đến chục năm - tôi lục lọi mãi thơ mình mà không tìm ra
được một câu, dù chỉ một câu thôi, để...vịn!
Vịn câu thơ mà đứng dậy!
Thơ không còn là món trang điểm
đua tranh sức chói lọi nơi cung đình. Thơ không còn là món
đưa cay trong những cuộc say túy lúy. Thơ không còn là cái
áo giáp cho ngươì ta phùng xòe trước đám đông và che dấu
những thân thể suy nhược. Thơ không còn là khẩu hiệu cho
những cuộc biểu dương lực lượng...Thơ là chiếc nạng
vững chắc cho người gìa, là chỗ dựa cho những người thất
thế từ đó đứng lên làm lại cuộc đời...
Những giòng chữ in nghiêng mà bạn
vừa đọc không phải do tôi viết đâu nha. Ðó là lời giới
thiệu của ông Nguyễn Mộng Giác về tập Thơ Khoa Hữu,
do tạp chí Văn Học xuất bản hồi cuối năm 97. Nếu không
nhờ ông Giác, ai mà dè thơ lại có nhiều công dụng dữ dằn
và quá đất, quá trời như vậy!
Cũng cứ theo y như lời của ông
Nguyễn Mộng Giác : "Khoa Hữu là Ðỗ Phủ của thời hiện
đại, ở một đất nước liên tiếp đau thương suốt nửa
thế kỷ nay. Những lời Phùng Quán viết về thơ Ðỗ Phủ
rất đúng với thơ Khoa Hữu (Thơ ai như thơ ông/ Mỗi chữ
đều như róc/ Từ xương thịt cuộc đời/ Từ bi thương phẫn
uất)."
Nếu những điều ông Phùng Quán,
ông Nguyễn Mộng Giác vừa lớn tiếng nói về thơ đều đúng
thì thiệt là kẹt cho tôi, và - không chừng - dám kẹt... luôn
cho bạn; nếu như, bạn không biết làm thơ hoặc - cũng như
tôi - bạn chỉ chuyên môn làm những câu thơ quặt quẹo, nghĩa
là không thể vịn được, dù là chỉ vịn để ...ngồi (chơi).
Như thế,vào "những phút ngã lòng",
những kẻ lạng quạng cỡ tôi và bạn phải làm sao ?
Khi kẹt tiền chúng ta đi muợn;
lúc kẹt thơ (e) cũng vậy thôi. Tính chất tư hữu của thơ,
nhờ Trời, rất mơ hồ và chưa bao giờ được luật pháp
thừa nhận một cách đàng hoàng nghiêm chỉnh. Thơ đã làm
xong, đã in ra, đã lỡ dại ngâm nga giữa chốn đông người
... là kể như rồi. Chuyện tác quyền hay bản quyền vớ vẩn
gì đó coi như là chấm hết!
Bạn có thể mượn thơ mà không
cần credit, và cũng khỏi mất công điền đơn. Chúng
ta cứ khơi khơi mang thơ của qúi vị thi sĩ tặng người này,
cho người nọ; hoặc mượn thơ của họ để vịn mà đứng
dậy khi ngã lòng, ngồi chơi khi rảnh rỗi, tán đào khi cao
hứng, và …leo trèo khi hữu sự.
Không bằng luật nhưng theo lệ,
bạn cần phải rõ ràng và sòng phẳng khi mượn thơ người
khác à nha. Ngoài ra, cẩn trọng cũng là một yếu tố quan
trọng khác nữa trong việc lựa thơ để mượn - nhất là
khi bạn cần mượn câu thơ để vịn mà đứng dậy, trong
những phút ngã lòng; nếu không, bạn sẽ tiếp tục té nữa,
sẽ té đau, sẽ nằm lâu, và - không chừng - dám nằm luôn
tới...chết (chớ đừng tuởng là tới sáng thôi đâu) !
Xin kể bạn nghe vài câu chuyện
nhỏ để minh thị đôi điều tôi vừa ồn ào xác định.
Trước hết là chuyện liên quan đến sự đàng hoàng và minh
bạch.
Cách đây hai mươi năm - năm 1978
- một hôm, có thằng bạn chung tù với tôi vừa cầm tờ báo
lên xem đã bực dọc chửi thề:
- Ð.M., sao "mâm" nào cũng có thằng
chó đẻ này hết vậy cà?
Tôi quên tên tờ báo, chỉ nhớ
trang đầu có in hình ông Hồ Chí Minh đang điều khiển một
dàn nhạc. Ba chữ "thằng chó đẻ" trong câu chửi thề của
thằng bạn tôi vừa dùng để ám chỉ ông ta - một lãnh tụ
anh minh lỗi lạc, một người quyền biến hùng biện, một
nhà văn có tài, một thi sĩ ngoại hạng...Những điều mà
thiên hạ đều biết và đều tán tụng. Thằng bạn tôi chợt
biết thêm là ông Hồ còn có khả năng điều khiển « nguyên
cả » một giàn nhạc giao hưởng nữa. Chuyện này, tự nhiên,
khiến nó bị … quê ngang! Thay vì xuýt xoa tán thưởng sự
đa dạng của một thiên tài, nó lại thốt ra một câu chửi
thề bực dọc y như là đụng phải... thiên tai vậy!
Không bao lâu sau thằng em tự dưng…
cái qua đời - lúc mới ngoài hai mươi, trong một đêm học
tập, mắt trợn trừng, máu trào thất khiếu - ngay sau khi nghe
quản giáo bình những câu thơ bất hủ « của bác Hồ ».
Từ đó, không ai bảo ai, từ cán bộ đến trại viên, chúng
tôi "kiêng" nói đến thơ của Bác.
Vài năm sau - khi đã ra khỏi trại,
có dịp tìm đến nhà thằng bạn để báo tin buồn - tôi mới
hiểu tại sao bạn mình chết không nhắm mắt. Thân phụ nó
là một người tinh thâm Hán Học nên ngay từ khi còn nhỏ
thằng em đã được dậy thuộc lòng vô số thơ Tầu. Nó biết
là ông Hồ đã mượn nhiều câu thơ của thiên hạ để vịn
mà leo trèo, và lỡ quên tên tác giả, thế thôi.
Vài năm sau nữa, tôi lại biết
thêm rằng ông Hồ không phải là người anh minh lỗi lạc
như đã tự viết sách - làm bộ đề tên người khác - để
ca tụng mình. Ổng chỉ sài bạc giả. Ông Hồ gạt được
nhiều người, trong nhiều năm, vì ông ta được sự đồng
lõa bởi cả một băng đảng chuyên môn làm bạc giả - Ðảng
Lao Ðộng Việt Nam.
Tôi xin lỗi vừa đi hơi xa vấn
đề. Như bất cứ một người Việt bình thường nào khác,
khi đề cập tới ông Hồ và cái đảng thổ tả của ông
ta, tôi khó giữ bình tĩnh nên đã có nói năng hơi lung tung
chút đỉnh. Câu chuyện vưà kể chỉ để nói lên tính chất
quan trọng của sự lương thiện trong việc mượn thơ thôi.
Ðiều cần thiết thứ hai, như đã
thưa trước, là sự cẩn trọng. Vì quá mến mộ một thi sĩ,
và vì cái tật ba chớp ba nháng, tôi đã lựa lầm câu thơ
sau đây để vịn trong những lúc ngã lòng:
Ta làm gì cho hết nửa đời sau?
Ðây thiệt tình là một câu thơ
quá đã, đã nhất là đọc hết luôn cả bài, đọc trước
mặt năm ba "tráng sĩ", khi rượu sắp cạn chai, vào lúc trời
đã gần về sáng.
Sáng thức dậy miệng đắng, môi
khô, đầu óc bần thần, váng vất, cơ thể rã ruợi, mệt
nhừ ...Nắng len vào phòng từ lâu, chiếu một vệt dài vàng
xẫm trên thềm. Lại một ngày nữa bắt đầu, thêm một ngày
lảng xẹt sắp qua. Vào những lúc chán đời như chưa bao giờ
chán thế, và như không thể nào chán hơn được nữa, tôi
hay vịn vào câu thơ "ta làm gì cho hết nửa đời sau" để
đi chậm chậm đến tủ rượu - hay tủ lạnh (nếu nhà hết
rượu) - tìm bia ...uống nữa!
Tôi lại té, tất nhiên. Nhiều năm
qua, tôi té hoài theo kiểu đó. Lỗi, chắc chắn, không do tác
giả - ông Cao Tần. Lỗi, đương nhiên, ở tôi - kẻ chỉ vì
vịn trật có mỗi một câu thơ nên...tha hồ té!
Vẫn cứ theo như lời ông Nguyễn
Mộng Giác khi viết tựa cho tập Thơ Khoa Hữu thì thơ
"là
lời mẹ ru dành cho đứa con ốm đau, là lời cầu kinh cho
người sắp từ giã cõi đời..." Nói cách khác, tôi xin
"diễn giảng" như sau: thơ khi dùng đúng câu, hợp cách, trúng
chỗ, và phải lúc thì công dụng kể như là...hết xẩy!
Bạn vừa nhíu mày, phải không ?
Bạn có quyền không tin tôi, không tin ông Giác - một người
làm thơ dở và một người chưa hề làm được một câu thơ
nào, dù dở. Bạn nghi ngờ là phải. Chuyện đó không có gì
đáng trách. Tuy nhiên, bạn sẽ trở nên đáng trách - hoặc
đáng chết luôn nữa, không chừng - nếu như vẫn còn bán
tin bán nghi vào sự vạn năng của thơ phú, sau khi đã đọc
qua câu chuyện sau đây, về một câu thơ :"Cổ lai chinh chiến
kỷ nhân hồi" (Xưa nay chinh chiến mấy ai về). Chuyện này
tôi đã đọc lóm được trong cuốn Thư Về Bloomington, Illinois
của ông Lê Tất Ðiều:
***
Phi tuần khu trục vừa xuất hiện
thì cả một bầu trời biến thành biển lửa. Số lượng
phòng không không biết là bao nhiêu cây, nhưng dòm hướng nào
cũng chỉ thấy lửa và lửa. Trời đã về chiều nên những
viên đạn lửa bay vút lên cao càng được thấy rõ ràng hơn.
Phi tuần đầu nhào lên nhào xuống mấy lần vẫn không làm
câm họng được mấy cây pháo vì phòng không và trời quá
xấu. Những đám mây ...phản quốc vẫn chình ình khắp nơi.
Khó khăn lắm họ mới kiếm được cái lỗ chui xuống, bay
giữa những loạt đạn phòng không trùng điệp để tới mục
tiêu, bấm rớt bom rồi kéo lên. Còn hai trái cuối cùng, người
phi công A-1 'để' vào ngay trên ổ súng chính xác như để
bi vào lỗ. Ầm một tiếng vang lên rồi tiếp theo là nhiều
tiếng nổ phụ. cha con nó đang đền tội. Xong một cây. Anh
Ngọc hướng dẫn phi tuần thứ hai đánh cây thứ nhì.
Phi tuần đang làm ăn thì tôi
nghe tiếng gọi:
"Bạch Ưng đây Thanh Trị."
"Nghe năm bạn."
"Báo bạn biết hầm chỉ huy tôi
xập rồi. Tôi ra giao thông hào với mấy đứa con."
"Bạn nhớ giữ liên lạc với
tôi nghe bạn..."
Không có tiếng trả lời. Tôi
hoang mang. "Ra giao thông hào với mấy đứa con", vậy là bi
đát lắm rồi.
Anh Ngọc bảo tôi:
"Anh đang bận hướng dẫn khu
trục, em qua FM gọi thẳng trung tâm hành quân xin gấp cho anh
ít nhất là hai phi tuần nữa lên liền lập tức. Nếu không
kịp tụi nó sẽ 'over run' Daksaeng trong vòng nửa tiếng đồng
hồ.
Tôi đổi tần số FM... Tôi gọi
máy và có kết quả ngay. Anh Ngọc mừng rú khi được thông
báo có một phi tuần F-4 của Hải Quân Mỹ sẽ cất cánh ngay
từ hàng không mẫu hạm bay vào làm việc.
Giọng nói từ dưới đất bây
giờ nghe có vẻ hốt hoảng:
"Bạch Ưng đây Thanh Trị."
"Nghe bạn năm."
"Bạn cho mấy con chim sắt về
đánh quanh đồn gấp đi bạn. Tụi nó đang 'à lát sô' lên."
***
Ðang đánh ngon lành thì tôi nghe
tiếng gọi từ dưới đất: Bạch Ưng đây Thanh Trị. Giọng
nói lúc này không còn vẻ hốt hoảng mà bình tĩnh lạ thường.
Anh Ngọc bấm máy:
"Nghe bạn năm. cho biết tình hình
đi bạn."
"Tôi yêu cầu Bạch Ưng đánh
bom ngay vào trong đồn"
Cả hai chúng tôi giật nẩy mình,
chỉ hy vọng rằng mình nghe... lộn. Chúng tôi sững sờ không
trả lời được. Người chỉ huy phía dưới xác nhận lại:
"Bạch Ưng, tôi xác nhận lại
tôi xin bạn đánh xuống đầu tôi"
"Bạn nói bạn xin đánh thẳng
vào đồn?"
" Ðúng năn. Hết hy vọng rồi
bạn ơi. Cứ đánh vào đây để tụi nó chết chùm luôn với
chúng tôi"
"Bạn suy nghĩ kỹ chưa?"
Giọng dưới đất lúc này nghe
đã có vẻ hết kiên nhẫn:
"Không còn lựa chọn nào khác
bạn ơi. Bạn đánh lẹ giùm. Chúc bạn may mắn. "Cổ lai chinh
chiến kỷ nhân hồi" mà bạn..."
Ðó là những tiếng nói cuối
cùng tôi nghe được từ đồn Dakseang. "Cổ lai chinh chiến
kỷ nhân hồi."
***
Chỉ có vậy thôi là đồn Dakseang
biến thành một biển lửa sau hai đợt bom salvo của mấy chiếc
Phantom... Những thịt, nhũng xương, những máu của các anh
hùng Dakseang đã tung bay khắp nơi rồi rớt xuống lẫn lộn
với những bụi, những sắt để nằm yên trên mặt đất.
Cũng trên mặt đất này của quê hương, ở một nơi nào đó,
những vợ, những con, những bà con thân bằng quyến thuộc
của các anh đâu có biết người thân mình vừa anh dũng đền
xong nợ nước...
(Ðất Khách Trời Quê - Trường
Sơn Lê Xuân Nhị)
Mà không phải chỉ có thơ mới
vịn được đâu nha. Văn, khi ngã lòng hay đứt ruột, vịn
cũng đỡ lắm.
Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu "văn" mà đứng dậy
!
Sở dĩ Phùng Quán không viết như
thế chỉ vì ổng có lòng đố kỵ với văn xuôi, hoặc chỉ
vì chưa có dịp đọc đoạn văn sau đây của ông Võ Phiến
:
Và một hôm, cạnh cái khách sạn
ở bãi Kapaa trên đảo Kauai tôi thấy một cảnh ấm áp đau
lòng. Ở một góc tường bên ngoài khách sạn có bụi chuối
nhỏ, dăm sáu cây gì đó. Một bên là tường, một bên là
sân cỏ, chia cách bằng một lối đi đúc xi- măng. Người
qua kẻ lại rần rần. Thế mà vào khoảng tám giờ tối, đi
ngang qua đó tôi chợt để ý đến một đôi cu giữa các gốc
chuối. Bước chân có khua động giấc ngủ bất an, có làm
chim cựa quậy vu vơ, có lẽ vì thế mà làm tôi chú ý. Ơ
kìa, chim sao lại ngủ gốc chuối, ngủ bên lối đi của người
ta ?
Lát sau, tôi chợt nhớ ra vào
một lúc nào đó trong ngày có trông thấy một con cu mất đuôi
kiếm ăn giữa sân cỏ. Lần hồi tôi dựng lên một giả thuyết:
đó là một con chim cu bị mèo vồ hụt. Nó tàn tật, mất
thăng bằng, mất phương hướng, không bay được. Bạn đời
không rời bỏ nó trong hoạn nạn, cho nên đêm đêm cả hai
kề nhau nép vào gốc chuối sát mặt đất, bất chấp hiểm
nguy.
Chim chóc không có thói ái ân
lén lút về đêm. Chim ngủ chay. Vậy thì sự cận kề đầy
hi sinh mạo hiểm ở đây ...không phải vì sinh lý, chỉ cần
sự "hiện diện".
Chao ôi, vì một sự hiện diện
bên nhau con chim nọ liều mình vì con chim kia. Hai con chim, chỉ
còn một cái đuôi. Ngủ nghê như thế, nội đêm nay hay đêm
mai một chú mèo tình cờ dạo ngang qua, rất có thể đi đứt
luôn cái đuôi nữa. Ấy là may mắn. Không may, dám mất toi
cả hai tính mệnh lắm.
Mất đuôi, mất mạng gì cũng
được, quí hồ hiện diện bên nhau. Con cu Hạ- uy - di như
thế, không thương nó được sao?
(Cái Lạnh Nửa Người - Võ
Phiến)
Nếu bạn cũng đang có một cuộc
sống lứa đôi hơi lọng cọng, và nếu bạn cũng chỉ vì
sự bất ổn cỏn con đó mà phải dựa vào thơ Cao Tần để
lê đến tủ rượu cả ngàn lần trong gần mười năm qua -
hy vọng - bạn cũng sẽ vịn được vào hình ảnh cảm động
của đôi chim cu Hạ Uy Di để mà gượng dậy, như tôi đang
lom khom đứng dậy đây.
Tôi cảm ơn ông Võ Phiến biết
mấy. Tôi cũng cảm ơn ông Lê Tất Ðiều vô cùng. Bằng tác
phẩm Thư Về Bloomington, Illinois ông ấy đã cho tôi có
dịp đọc lóm nhiều đoạn văn "chấn động sâu xa đến tận
đáy tâm hồn". Ông ấy cũng chỉ tôi thấy được sự hùng
vĩ của thiên nhiên qua Grand Canyon; và sự cao cả thầm lặng
của con người qua những chiến binh anh dũng của đồn Dakseang
- hay qua những nhân vật bình thường như ông ông Lưu, ông
Phan, ông Nguyễn...Tất cả đã giúp tôi nhận ra nỗi bận
tâm nhỏ nhen của mình trong nhiều năm qua. Tôi cũng vừa đọc
xong tập Thơ Khoa Hữu với cùng tâm trạng ấy. Tâm trạng
của một kẻ chợt nhận ra là mình ti tiểu khi cảm được
nỗi bất hạnh cùng cực của tha nhân.
Coi: tôi buông viết cả chục năm,
khỏe re. Nẫy giờ mới ngồi vào bàn gõ lóc cóc vài tiếng
đồng hồ đã thấy mình mắc nợ cả đống nguời. Hai tiếng
"cảm ơn" xuông, trong nhiều trường hợp, nghe thiệt tình không
ổn. Làm sao cho mọi chuyện ổn thỏa hơn thì (nói thiệt tình)
tôi chưa biết!
Tưởng Năng Tiến
|