Tiếng
Nấc Của Rừng
The
Vietnamese really think that the best kind of Montagnard is a dead one.
(Lionel Rosenblatt)
"Tôi đã sống
bẩy năm trên vùng thượng du của tỉnh Thanh Hoá, bên bờ
con sông Mã, và đã bẩy mùa xuân chứng kiến những kỳ diệu
của đất trời, núi sông và lòng mình. Ðấy là một nơi
hiểm trở, trại đóng ngay bên sườn núi trông xuống sông,
bên kia sông là một bình nguyên nho nhỏ, rồi lại tiếp tục
núi. Hai đầu sông được chắn bởi núi, bốn phiá toàn núi,
gần xa đậm nhạt khác nhau".
Chữ "trại" trong
đoạn văn vừa dẫn là một trại tù, và người say mê mô
tả cảnh "kỳ diệu của đất trời núi sông" là một tù
nhân. Một người tù "quắt queo đói lạnh, tả tơi đứng
bên sông núi"- suốt từ năm này sang năm khác - mới cảm nhận
hết được lẽ chuyển đổi vi diệu của đất trời, để
ghi lại được một đoạn văn diễm lệ:
"Mùa thu núi bỗng
mơ màng. Bầu trời trong xanh hơn và núi như phủ mờ một
làn suơng khói mỏng. Trời càng se lạnh núi càng xa cách, càng
rời xa vẻ thực tế tầm thường để tự biến mình thành
huyền ảo. Vào mùa thu sông Mã đã thôi gầm lên khúc độc
hành, vẻ đục ngầu dữ tợn của mùa hè đã trôi mất, bây
giờ lặng lẽ trong xanh để hoà hợp với dáng núi đang trong
một chuyển cung yểu điệu. Trời, núi, sông và người cùng
vào một cơn ngất ngây buồn như tiên cảm một nỗi lạnh
tê đầy bất trắc. Các ruộng bắp ven sông đã úa vàng. Công
việc thu hoạch mùa màng vào những buổi chiều mùa thu mang
một vẻ đẹp cổ điển với ánh nắng vàng xiên xiên, lá
bắp khô xào xạc, và bếp lửa nấu nước ở bờ ruộng vuơn
cột khói lên cao..." (Phạm Xuân Ðài. "Nét Xuân Sơn". Hà Nội
Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ, Hoa Kỳ1994, 57-58).
Tôi sống xa nhà
đãù lâu, lâu đến độ tình hoài hương tưởng chừng đã
chết; vậy màø bỗng thấy bâng khuâng khi chợt gặp lại
được nét đẹp tiêu sơ, của những buổi chiều thu êm đềm,
nơi quê cũ.
Tôi lái xe vượt
hàng ngàn cây số, đến tận nơi tạm cư của nhà văn Phạm
Xuân Ðài, với hy vọng được nghe thêm chút đỉnh về Thanh
Hóa- nơi mà ông đã sống hàng chục năm trời, và tôi thì
chưa bao giờ có dịp ghé qua. Ông rộng lòng tiếp tôi nhưng
sự hiểu biết quá hạn hẹp của ông về Thanh Hoá khiến
tôi vô cùng thất vọng.
- Thế thành phố
Thanh Hoá có nét gì đặc biệt không anh?
- Tụi này hình
như không có dịp đi vào thành phố!
- Anh nói "hình
như" có nghĩa là sao?
- Vào đến Thanh
Hoá thì đã giữa khuya. Phần thì buồn ngủ, phần thì xe bị
họ che kín bít bùng nên không biết là có đi qua thành phố
hay không?
- Người dân Thanh
Hoá có dễ mến không anh?
- Ờ...thì chắc
cũng phải có nhiều người dễ mến chớ. Có cái là tụi
này cũng chưa có dịp tiếp xúc...
- Trời, bẩy năm
ở Thanh Hoá mà anh không gặp một người nào hết trơn hết
trọi sao?
- Lâu lâu cũng
có thấy vài người, ở tuốt đằng xa. Chắc là người Mường.
Tụi tui không được phép đến gần nên cũng... hơi khó nói!
Tôi quầy quả
bỏ về (xém chút xíu dám quên luôn đôi lời từ biệt) với
ít nhiều giận dỗi mà không biết rõ ràng là mình đã giận
ai. Vừa đi, tôi vừa dò dẫm chính mình và chợt khám phá
ra rằng tôi đã giận tất cả - không chừa ai, kể cả chính
mình.
Nói cho đúng ra
thì nhà văn Phạm Xuân Ðài không hề được sống ở Thanh
Hoá. Ông bị nhốt ở nơi này. Ông từng có mặt ở đó mà
gần giống như không. Ðó chỉ là một cách hiện hữu âm
thầm, mờ nhạt, mơ hồ và thoi thóp. Thanh Hoá- đối với
ông- không là gì khác ngoài một khoảng đâùt trời "bốn
phiá toàn núi", và (thương ơi) chấm hết!
Nhưng nghĩ cho
cùng thì ông Phạm Xuân Ðài, và những người tù như ông,
vẫn còn được coi là may mắn. Họ không hoàn toàn bị bỏ
quên. Sau những mùa đông quắt queo vì đói lạnh (nếu còn
sống sót) họ còn có cơ may được cho về, trở lại miền
xuôi; sau đó, còn có hy vọng "chạy" thoát khỏi cái phần
quê hương tù ngục của chính mình để làm lại cuộc đời
- dù muộn. Phạm Xuân Ðài đã có cơ may như vậy, và ông
tin rằng mình được đồng loại quan tâm một cách chí tình
- "như các thành viên của một gia đình lo cho nhau". ("Từ Giã
Việt Nam", sđd, 152).
Dù hoàn toàn chia
sẻ niềm tin yêu và sự lạc quan của nhà văn Phạm Xuân Ðài
về tình nhân loại, tôi không khỏi băn khoăn khi nghĩ đến
những người còn ở lại nơi núi rừng Thanh Hoá- những người
Mường mà nhà văn Phạm Xuân Ðài đã nhìn thấy, từ xa, khi
còn ở trại tù.
Họ vẫn còn ở
đó, vẫn tiếp tục sống trong đói lạnh trên những bản
làng xa. Họ đã sống âm thầm, tả tơi như thế từ rất
lâu rồi nhưng không mấy ai để ý. Lý do: chỉ vì họ ở
... quá cao!
Nếu không có
dịp nói chuyện với nhà văn Phạm Xuân Ðài, có lẽ tôi cũng
đã quên luôn những đồng bào cùng khổ của mình nơi chốn
cũ.
Và đó là nguyên
do khiến tôi hờn giận. Tôi giận dỗi vì sự vô tình của
chính mình. Và những kẻ vô tình như tôi thì … (ôi thôi)
nhiều vô số. Xin đơn cử vài thí dụ, từ xa đến gần:
Trước hết hãy
nói qua về tác phẩm Shadows And Wind của Robert Templer, do Penguin
xuất bản năm 1999. Nó được không ít người ca ngợi. Riêng
tờ The Guardian đã khen tặng đây là "Một cuộc khảo sát
tỉ mỉ và hấp dẫn về hiện trạng của Việt Nam (A meticulous
and fascinating investigation into the reality of life in contemporary
Vietnam). Lời khen ngợi này không có gì quá đáng. Cuốn sách
để cập đến mọi vấn đề (nếu không muốn nói là ngõ
ngách) và mọi giới người trong xã hội Việt Nam, từ cổ
chí kim - chỉ trừ những người sắc tộc, ở cao nguyên.
Nói tình ngay thì
Robert Templer cũng có nhắc đến những địa danh như Buôn Ma
Thuột khi bàn về ... cà phê cứt chồn, đến Ðà Lạt khi
viết về khách sạn Palace, và Sơn La như là nơi mà nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp đã sống thưở hàn vi - khi còn là một cậu
giáo viên miền ngược.
Chỉ có một nhân
vật duy nhất, thuộc sắc tộc Nùng, tên Nông Thị Xuân, được
nói đến (ở trang 40) vì cuộc tình đẫm máu của cô sơn
nữ này với ông Hồ Chí Minh. Nói là đẫm máu vì theo những
tài liệu mà Robert Templer thu thập được thì bà Nông Thị
Xuân đã bị tình nhân cho xe ... cán chết!
Cùng với Shadows
and Wind, một cuốn sách khác nữa viết về Việt Nam cũng cần
được đọc là một tác phẩm mới của nhà văn Lê Thị Huệ.
Sau gần mười chuyến trở về Việt Nam vào những dịp hè
và cuối năm, đến năm 1999 bà đã ở hẳn lại một năm để
đi nghiên cứu nhiều sinh hoạt văn hoá và thăm thú hầu hết
các tỉnh phía Bắc. Chắc chắn nhà văn Lê Thị Huệ có dừng
chân nơi miền sơn cước vì thấy có hình của tác giả, chụp
chung với những trẻ em miền núi, ở bìa sau cuốn sách.
Tuy vậy, Lê Thị
Huệ đã không viết một dòng chữ nào về những nguời dân
sắc tộc trong suốt 260 trang sách của tác phẩm này. Theo bà
Huệ, Việt Nam "là một xứ sở được nuôi dưỡng bởi tôm
cá của biển cả và lúa gạo của đồng ruộng, dân tộc
Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hoá biển và văn hoá đất."(...)
"Văn hoá đất, hay còn gọi là 'văn hoá lúa nước' của nguời
Việt thường biểu lộ tính chống chọi, be bờ, bám trụ,
bảo vệ khép kín." (Văn Hoá Trì Trệ Nhìn Từ Hà Hội Ðầu
Thế Kỷ 21. Văn Mới, Hoa Kỳ 2001, 135-136). Nó khép kín và
be bờ đến độ không những chỉ bài ngoại mà còn ... bài
nội. "Văn hoá lúa nước" dường như không chịu chấp nhận
"văn hoá lúa rẫy", nơi miền sơn cước!
Ở Việt Nam có
một hiện tuợng khiến nhà văn Lê Thị Huệ rất phiền lòng
là "...cây xanh Hà Nội buồn làm sao ấy. Cây xanh Hà Nội biền
biệt tiếng chim."(sđd 258). Hà Nội (nói riêng) và những thành
phố ở Việt Nam (nói chung) không chỉ thiếu sự bao dung đối
với loài chim. Chúng khắt khe luôn cả với loài người. Chúng
không có chỗ cho những người thuộc sắc tộc thiểu số.
Họ cũng "biền biệt" nơi nào ấy.
Tôi không nghe
bất cứ ai nhắc đến họ và có lẽ cũng chả ai bận tâm
về sự thiếu vắng này. Trước Robert Templer và Lê Thị Huệ
không lâu, một người cầm bút khác - sau một chuyến viếng
thăm Việt Nam ngắn ngủi - đã viết những dòng chữ bịn
rịn (muốn rơi nước mắt) như sau, khi từ biệt: "Hai tuần
về bên kia quá ngắn, chưa đủ cho chúng tôi thấy hết đất
nước Việt Nam và những con người sống chen chúc trên mảnh
đất ấy. Từ một góc phố Biên Hoà tôi không thể biết
đến nỗi niềm của người Bình Ðịnh ở miền Trung, không
thể hiểu đuợc vui buồn của người Bắc Giang ở miền Bắc,
và cũng không thể nghe được tâm sự của người Bạc Liêu
ở miền Nam (Hoàng Mai Ðạt, Giữa Hai Miền Mưa Nắng. Văn
Nghệ, Hoa Kỳ1999, 287).
Tấm lòng của
ông đủ rộng để ôm ấp tất cả mọi người, thuộc đủ
ba miền đất nuớc. Nhà văn Hoàng Mai Ðạt chỉ quên có vài...
triệu người dân ở miền cao. Mà họ cũng là người Việt,
cũng "vui buồn", cũng có "nỗi niềm" và "tâm sự" chớ bộ?
Tại sao như thế
nhỉ ? Vì "xa mặt" nên "cách lòng" chăng? Mà theo Encarta (http://encarta.msn.com)thì
có đến năm mươi sắc dân miền núi khác nhau, với ngôn ngữ
và phong tục dị biệt, chiếm đến một phần bẩy dân số
Việt Nam chứ đâu có ít. Không lẽ gần một chục triệu
nguời sơn cước đó không bao giờ bước xuống miền suôi?
Họ làm gì mà cứ ở miết nơi những bản làng heo hút đó
kìa? Bộ trên núi "vui" dữ vậy sao?
Sự cô lập này
(không dưng) khiến tôi liên tưởng đến những ngày tháng
lưu đầy của người tù Phạm Xuân Ðài. Ông từng sống ở
Thanh Hóa mà cũng như không. Sự hiện hữu của Phạm Xuân
Ðài ở nơi này rất mơ hồ, âm thầm, mờ nhạt và thoi thóp.
Những người dân miền núi , dường như, cũng thế. Họ không
sống ở Việt Nam. Họ chỉ bị giam hãm ở nơi này.
Nếu thỉnh thoảng
có những nguời tù trốn trại thì đôi lúc cũng có vài nguời
dân miền núi lạc xuống đồng bằng. Người thứ nhất tên
Pờ Diệu Ninh. Ðây là cô "học trò nữ đầu tiên của
dân tộc Hà Nhì, xã Xính Thầu được xuống huyện, xuống
tỉnh để học."
Thứ hai là em Vừ Thị Xy, người dân
tộc Mông, ở bản Pó Chạ, tỉnh Sơn La. "Cả bản Pó Chạ
chỉ có mỗi mình Xy đi học...và em là một trong 4 học sinh
dân tộc theo học ở trường trung học phổ thông Năng Khiếu
của thị xã Sơn La."
Những dòng chữ
in nghiêng, và được để trong ngoặc kép ở đoạn văn dẫn
thượng, được trích từ bài phóng sự "Những Bông Hoa Của
Núi Rừng" của báo Nhân Dân (số ra ngày 18 tháng 4 năm 2001,
đúng bẩy mươi sáu ngày, sau khi có cuộc nổi dậy - lần
thứ hai - để dòi quyền sống của những người dân cao nguyên).
Trước đó không
mấy khi người ta đọc được một bài phóng sự có cái tựa
văn hoa, mỹ miều, và "đậm đà bản sắc dân tộc" như thế
ở tờ báo thổ tả này. Thường chỉ là những mẫu tin lạnh
lùng và khô khốc - đại khái như sau, về số lượng học
sinh thuộc dân tộc thiểu số được tuyển chọn vào đại
học:" Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê
Ðăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn.
Ðáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào,
La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào
học các trường đại học, cao đẳng" (nhật báo Nhân Dân
số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000).
Tôi vốn tính
không biết lo xa; dù vậy, sao cứ thấy rùng mình khi nghĩ đến
tương lai của những nhóm người sắc tộc thiểu số ở Việt
Nam, qua những mẫu tin tương tự. Nửa thế kỷ qua, người
cộng sản đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác đối với
dân tộc Việt; riêng với tội diệt chủng những người dân
thiểu số ở cao nguyên, tôi trộm nghĩ, họ không phải là
những kẻ duy nhất chịu hoàn toàn trách nhiệm. Chúng ta cũng
sẽ bị kết án là can tội đồng loã. Im lặng trước tội
ác là đồng loã, chớ còn gì nữa?
Tưởng Năng Tiến
|