THƯ
ÐỘC GIẢ
Kính gửi
qúi vị chủ nhiệm và chủ bút,
Thưa qúi vị, trong mục
"Ý Kiến Ðộc Giả" của bán tuần báo Việt Luận - phát hành
từ Melbourne, Australia, số ra ngày 15 tháng 12 năm 2000 - tôi
may mắn đọc được một bức thư ngắn, của ông Lê Trung
Dũng ở Victoria, nguyên văn như sau:
"Suốt một tuần qua
tôi mua gần hết những báo nào có liên quan đến vụ tranh
đấu ở giáo xứ Nguyệt Biều cũng như theo dõi thật kỹ
những đài phát thanh ở Sydney cũng như Melbourne. Tôi đã đọc
đi đọc lại nhiều lần các lá tâm thư của linh mục Nguyễn
Văn Lý và không kềm được nỗi xúc động trước thái độ
can trường của ông. Tôi cũng xin nói thêm, tôi không phải
là người công giáo, nhưng tôi vô cùng ngưỡng phục tinh thần
tranh đấu của linh mục Lý. Từ lâu tôi vẫn tin rằng nếu
chúng ta gạt bỏ được những tị hiềm về tôn giáo, cùng
sát cánh với nhau để tranh đấu cho quyền tự do của dân
tộc, trong đó quyền tự do tín ngưỡng là điều vô cùng
thiêng liêng, thì chắc chắn đất nước chúng ta sẽ cởi
bỏ được chế độ phi nhân đang đè đầu cưỡi cổ toàn
dân. Nhưng điều đáng buồn là suốt một tuần qua, tôi vẫn
chưa nghe thấy là có ai khác trong giáo hội Công Giáo Việt
Nam lên tiếng để ủng hộ hay yểm trợ tinh thần cho vị
linh mục can đảm ấy. Không lẽ những vị như HT Quảng Ðộ,
Huyền Quang, Nguyễn Văn Lý tiếp tục chiến đấu lẻ loi mãi
sao?"
Năm hôm sau, qua bức
Thỉnh Nguyện Thư - viết ngày 20 tháng 12 năm 2000 - của một
số tín đồ công giáo ở hải ngoại gửi đến Hội Ðồng
Giám Mục Việt Nam, tôi cũng tìm được những lời thỉnh
cầu rất gần với tâm trạng của ông Lê Trung Dũng. " Với
tất cả lòng kính trọng tuyệt đối, chúng con tha thiết mong
mỏi Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam sẽ chính thức lên tiếng
về những đòi hỏi đúng đắn và can đảm của con cái Chúa
tại Nguyệt Biều..." "Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không thể
đứng mãi bên lề lịch sử."
Kế tiếp là Bức Tâm
Thư (viết ngày 10 tháng 1 năm 2001) của "những người trẻ
Việt Nam tha hương, lưu lạc sống khắp nơi trên thế giới"
gửi đến Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, với nội dung gần
tương tự :
" Với sự kính trọng
và mong đợi chúng con thỉnh cầu Hội Ðồng Giám Mục Việt
Nam chính thức lên tiếng hổ trợ cho những đòi hỏi hợp
tình hợp lý và can đảm của Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các
con cái Chúa tại giáo xứ Nguyệt Biều…"
"Nhân đây chúng con xin
kính gửi đến Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam bản Ký Tên
Bảo Vệ Linh Mục Nguyễn Văn Lý và Giáo Dân Nguyệt Biều
với danh sách hơn 17 ngàn chữ ký mà trong hơn ba tuần qua chúng
con khắp nơi trên thế giới đã cùng nhau vận động đồng
bào hổ trợ ký tên."
Sau đó, sau khi linh mục
Nguyễn Văn Lý bị bắt giam vào ngày 17 tháng 5 năm 2001, mười
lăm linh mục công giáo người Việt (ở Ðài Loan) cũng đã
viết một bức thư chung gửi đến Ðức Hồng Y Chủ Tịch
Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam - ngày 22 tháng 5 năm 2001- bầy
tỏ sự " đau đớn thống khổ và tủi nhục trước sự im
lặng hoàn toàn một cách khó hiểu của HÐGMVN nói chung và
từng vị Giám Mục Việt Nam nói riêng".
Kính thưa qúi vị
Cũng như ông Lê Trung
Dũng, tôi là một người ngoại đạo nên không dám lạm bàn
gì về thái độ của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam hay của
Giáo Hội Công Giáo. Tôi chỉ có vài ý kiến thô thiển, liên
quan đến những biến động (trong thời gian gần đây) ở
quê nhà, ước mong được quí báo đăng tải để rộng đường
dư luận, như sau:
Khi một người bị bức
bách đến độ phải dùng đến tính mạng của mình làm vũ
khí, để tranh đấu cho "tự do hay là chết", như trường hợp
tu sĩ Nguyễn Văn Lý thì có lẽ họ đã không còn trông chờ
gì nhiều vào sự đồng tình hay ủng hộ của bất cứ ai.
Kính thưa qúi vị
Dù cũng rất băn khoăn
về sự an nguy của linh mục Nguyễn Văn Lý, tôi cảm thấy
bất an không kém khi nghĩ đến tỉnh cảnh và số phận của
hàng ngàn người khác nữa - cũng chỉ vì chiến đấu cho tự
do và công lý - đã bị bắt giữ hay đang bị săn đuổi như
thú vật bởi quân đội và công an của cộng sản Việt Nam.
Trong phần tin tức của
Ðài Phát Thanh Á Châu Tự Do, nghe được hôm 12 tháng 5 năm
2001, có đề cập đến chuyện "Nhà cầm quyền Việt Nam đã
treo giải thưởng để săn bắt người sắc tộc thiểu số
đang lánh nạn ở Cambodia...Theo tin từ Senmonoron những người
sắc tộc Mnong,
Rhadé và Jarai trốn chạy
sự đàn áp ở Tây Nguyên hồi tháng 2, đã lánh nạn ở hai
khu rừng rậm biên giới Cambodia cho đến khi cơ quan cao ủy
LHQ đặc trách tị nạn tìm thấy họ... Hồi đầu tuần này
một gia đình 7 người Hmong đang ở dưới sự bảo vệ của
cơ quan cao ủy LHQ đã mất tích ở Mondulkiri. Người ta trông
thấy những người này bị đẩy lên xe tải của cảnh sát
Cambodia."
Mấy hôm sau - tờ Việt
Báo phát hành từ California, ngày 21 tháng 5 năm 2001- loan tin
về một đợt trục xuất khác, với nhiều tình tiết hơn:
"Các nhân chứng kể
lại trong đợt trục xuất ngày 15 tháng 5 năm 2001, cảnh sát
Ratanakiri, Cam Bốt giải 2 xe vận tải chở 14 người Thượng
từ Việt nam - trong đó có 5 phụ nữa và 3 trẻ em - tới biên
giới VN, và bàn giao cho công an CSVN- Khi bị công an CSVN còng
tay, nhiều người Thượng đã khóc và bị dẫn đi."
Kính thưa qúi vị
Có thể vì hơi nhậy
cảm nên tôi cũng ... khóc khi đọc bản tin vừa dẫn, và nuớc
mắt của tôi đã rơi nhiều lần như thế vì những bản tin,
với nội dung tương tự - được phổ biến trong tháng 5 vừa
qua.
Ba hôm sau nữa - theo
tin tức của AFP, gửi đi từ Phnom Penh, lúc 5 giờ 43 phút chiều
ngày 24 tháng 5 năm 2001 - có thêm hàng tá người Việt thuộc
sắc tộc thiểu số trốn tránh sự đàn áp của chính phủ
ở cao nguyên trung phần đã được tìm thấy đang trốn tránh
tại một vùng đất hẻo lánh phía đông bắc nước Cam Bốt,
làm nẩy sinh sự quan ngại của quốc tế về số phận của
họ
(Dozens of Vietnamese ethnic
minority people fleeing a government crackdown in the central highlands
have been found hiding in remote northeastern Cambodia, sparking growing
international concern over their fate).
Bản tin này cũng đề
cập đến con số 89 người đã bị xua đuổi hay lùng kiếm
ở Cam Bốt và một bức thư ngỏ của Cao Ủy Tị Nạn Quốc
Tế gửi thủ tướng Hun Sen, thúc dục Nam Vang ngăn chận việc
bắt người của Hà Nội. Bức thư cũng tố giác rằng "Việt
Nam đã làm cho vấn đề trở nên tệ hại hơn khi gửi công
an qua biên giới để săn đuổi người tị nạn và bắt họ
về nguyên quán." (Vietnam has made the problem worse by sending military
police officials accross the border to hunt down refugees and bring them
back to Vietnam).
Kính thưa qúi vị
Có thể vì thiếu sót
(trong trường hợp này tôi xin được mọi người lượng thứ)
nên tôi đã không thấy bất cứ một ai bầy tỏ sự quan ngại
về số phận của những đồng bào Thượng đang bị săn đuổi
như thú vật ở Cao Miên. Trước đó, tôi cũng không hề được
nghe một tổ chức hay đoàn thể nào lên tiếng ủng hộ cuộc
đấu tranh đòi quyền sống của đồng bào mình nơi miền
sơn cước. Sao tất cả chúng ta đều đồng lòng giữ một
thái độ im lặng khó hiểu và vô tình đến thế?
Tôi viết đôi lần hai
chữ "đồng bào" trong đoạn văn dẫn thượng mà không khỏi
nghẹn ngào. Tôi dùng chữ sai chăng? Cũng có thể như thế
lắm vì tôi sống đời tha phương cầu thực quá lâu nên khả
năng sử dụng Việt ngữ không còn chính xác. Hoặc giả, trước
giờ, chúng ta vẫn gọi những người sống ở miền sơn cước
Việt nam là "đồng bào Thượng" cho nó vui miệng thế thôi
- nhưng tự thâm tâm không người Kinh nào nghĩ vậy? Chứ lẽ
nào chúng ta có thể lạnh nhạt, hờ hững và dửng dưng đến
thế trước sự an nguy của những nguời cùng sinh ra từ một
bọc với mình?
Qua nhật báo Thời Luận-
phát hành từ Los Angeles, số ra ngày 6 tháng 2 năm 2001- tôi
có đọc được bài phỏng vấn của đặc phái viên Nguyễn
Khanh (Ðài Á Châu Tự Do) và luật sư Trần Thanh Hiệp (Chủ
Tịch Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền). Xin ghi lại đây,
đôi dòng, để trình qúi vị.
Hỏi :" Luật sư nghĩ
thế nào về sự lo ngại của dư luận trước việc mới đây
nhà cầm quyềnViệt Nam, không còn e dè, đã ra mặt đàn áp
các tu sĩ công giáo và phật giáo là cha Nguyễn Văn Lý, Hoà
Thượng Quảng Ðộ, Thượng Toạ Thích Không Tánh ?"
Ðáp: " ...lực lượng
so sánh quá chênh lệch giữa chính quyền cộng sản Việt Nam-
với bộ máy đàn áp rất hùng hậu của nó - và thiểu số
trí thức dân chủ tiến bộ, tu sĩ vô úy bất khuất - chỉ
có bộ óc và hai bàn tay không, để đương đầu với bạo
quyền, đương nhiên không cho phép bất cứ ai bình tâm khoanh
tay đứng ngoài cuộc".
Dù "lực lượng so sánh
quá chênh lệch" như vậy, một phần dân tộc - những người
dân ở miền sơn cước đã tích cực tham dự vào cuộc đấu
tranh chống lại bạo quyền và đang bị bách hại - vẫn không
được kể là người "trong cuộc". Và đây, như đã thưa,
dường như không phải là quan niệm hay thái độ của riêng
một cá nhân nào - như nhận xét chua chát sau đây, của một
chính khách Việt Nam:
"Ðất nước Việt Nam
được coi như là đất của một sắc tộc, sắc tộc Kinh.
Văn hóa của ta là văn hoá của người Kinh. Ðạo đức của
ta là đạo đức của người Kinh, pháp luật của ta là pháp
luật của người Kinh. Lịch sử của ta cũng chỉ là là lịch
sử của người Kinh. Tất cả đều là của người Kinh, các
sắc tộc khác hoàn toàn bị bỏ qua". (Tổ Quốc Ăn Năn, Nguyễn
Gia Kiểng, Tập Họp Dân Chủ Ða Nguyên, Paris, 2000, 124).
Thưa qúi vị
Tôi trộm nghĩ đãù
đến lúc chúng ta nên "xét lại" chứ không thể tiếp tục
"bỏ qua" mãi như thế nữa. Trong cảnh an bình, phú túc mà
cư xử vô tình hay tệ bạc với anh em mình đã là chuyện
không nên không phải; huống chi, chúng ta đều đang trong ở
trong hoàn cảnh hoạn nạn và cùng có chung một kẻ thù!
"Khi bọn bành trướng
Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân
tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt
ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả
của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc [Lý Hồng
Xuân, Nhận Diện Chân Dung NhàVăn, (California: Văn Nghệ 2000),
177]. Chắc chắn không ai "làm tay sai cho ngoại bang" nếu được
đối xử một cách bình đẳng, và không bị ruồng rẫy trên
quê hương của chính mình.
Họa cộng sản sẽ và
sắp đi vào dĩ vãng. Một trong những điều phải bận tâm
trong những ngày tháng tới của dân tộc Việt là "tình hữu
nghị" với những lân bang. Ngoài bờ biển ra, phần biên giới
còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân
tộc thiểu số - tự ngàn xưa. Như thế, tương kính và đùm
bọc lẫn nhau không phải chỉ là một quan niệm sống nhân
bản mà còn là một thái độ khôn ngoan để sinh tồn. Thế
giới hôm nay e không còn đất sống cho những dân tộc có
đầu óc hẹp hòi.
Tôi xin dứt lời, và
xin chân thành cảm ơn qúi vị.
Vô cùng trân trọng và
kính mến ,
Ký Tên
|