Tấm
Lòng Con Bẩy Ðưa Ðò
Ngày
xưa, tại vàm Cái Cau có một cô gái nổi tiếng vì nhan sắc,
thùy mị và hò hay. "Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi
cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc,
cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông
trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển
rung mặt nuớc. (Sơn Nam. "Con Bẩy Ðưa Ðò". Hương Rừng
Cà Mau). *
Tài sắc, cũng như đức
hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những
kẻ sống trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không
may và (hoàn toàn) không hạnh phúc.
Thuở còn con gái, tình
cờ cổ gặp rồi thương một người trên sông Cái Lớn. Chàng
đẹp trai, đứng đắn, từng trải và lịch thiệp. Chỉ có
điều đáng tiếc là người ta không "thuộc diện" ... thường
dân, không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lưá và sống
an phận thủ thường - như những đám lục bình trôi nơi ao
hồ sông rạch. Nói gì thì nói, chàng vẫn nhứt quyết lên
đường - nằng nặc đi theo tiếng gọi của non sông.
"Lúc chia tay, con Bẩy
nói:
-
Bao giờ chàng trở
lại em xin chờ.
"Chàng cười mà đáp:
-
Lời em hứa là chắc.
Hay là chàng không tin
nơi lời nguyền của gái đưa đò.
-
Ðâu phải vậy. Chỉ
sợ tôi không giữ đúng lời hứa...Chí trai bốn biển là
nhà. Không có sức như chim bằng, như cá kình chớ phận con
se sẻ, con tép, con tôm này cũng học đòi ngao du trong vòng
đất nước nhỏ hẹp.
"Dứt lời chàng đứng
dậy cất mái chèo. Con Bẩy xúc động rưng rưng nước mắt.
Duyên may một đời chưa chắc gặp hai lần."
-
Vậy thì xin chàng dậy
cho em một hai câu hò để em nhớ đời.
-
Cô hò đã hay mà lại
có duyên. Tôi còn biết gì mà dậy thêm. Họa chăng chỉ có
một tấm lòng này...
"Một tấm lòng!" Con
Bẩy mãi suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại
thì chàng đã khuất dạng trong lớp sương khuya."
Cô Bẩy chờ hoài, chờ
hủy nhưng người xưa không bao giờ trở về bến cũ. Thời
gian thì đâu có chịu đợi ai. Tuổi đời khiến cô Bẩy Ðưa
Ðò phải bỏ nghề và xoay ra bán thịt heo bên hông nhà lồng
của chợ Vàm. Thịt luộc của dì Bẩy nổi tiếng là "ngon
hết biết" luôn.
Một hôm, có người
năn nỉ xin chỉ cho cách luộc thịt heo. Dì Bẩy thoáng ngậm
ngùi:
-
Cái việc hò hát cũng
như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách
thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.
-
Công phu là thế nào
dì Bẩy?
-
Ở đây, hồi đó có
người nói là cần "một tấm lòng".
Tấm lòng của dì Bẩy,
của chàng trai mà dì đã trao duyên - đối với nhau, cũng như
đối với đất nước non sông - sao mà thiết tha và cao đẹp
quá chừng, quá đỗi. Một đất nước đầy nhóc những con
dân với tấm lòng quả cảm và vị tha như thế thì "kẻ thù
nào mà không đánh thắng, khó khăn nào mà không vượt qua",
và mọi người đều có quyền đặt nhiều kỳ vọng ở tương
lai của dân tộc chớ - đúng không?
Tưởng vậy mà không
phải vậy đâu nha! Từ hơn nửa thế kỷ qua, sau khi được
động viên để đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù
khác, rồi bị kéo lê kéo lết qua hết trở ngại này đến
trở ngại kia, người dân Việt in tuồng như kiệt sức. Tấm
lòng của họ đối với tha nhân cũng như đối với xã hội
và tổ quốc (chắc) không còn nữa.
"Một cái gì đó đã
phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố
gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải
có bổn phận phải giữ gìn các công trình xã hội để mình
và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện
để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá
để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… Con người
đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã
đối xử với họ tệ quá
(Phạm Xuân Ðài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ,
Hoa Kỳ 1994, 32-33).
Và những chuyện "thô
bạo" hay "tệ quá" như thế không phải chỉ xẩy ra ở Hà
Nội mà thôi. Ðó là "chuyện thường ngày vẫn xẩy ra ở
huyện" và là tình trạng chung của cả nước mà.
"Tổ quốc đã trở
thành đao phủ...Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và
chết chóc...Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người.
Tổ quốc hăm hoạ, khống chế bằng công an thành, công an
tỉnh, công an huyện, công an phường...Tổ quốc hành động
như bọn giặc cướp...Tổ quốc đểu cáng và lật lọng.
Tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc
sách nhiễu từng ngày… nguời dân phải chịu đựng hết.
Vì tổ quốc có súng." [Nguyễn Gia Kiểng. Tổ Quốc
Ăn Năn. Paris 2001, 570 - 571).
"Chịu đựng" mãi, hết
thế hệ này sang thế hệ khác, khiến luân lý và đạo đức
của người dân Việt cứ suy yếu dần và có nguy cơ phá sản."
Ý thức xã hội rất thấp, trước một khó khăn chung thì
phản xạ ứng xử là tìm lối nhỏ để thích nghi riêng. Lâu
ngày nhược điểm ấy phát triển thành thói vị kỷ, vô cảm
và trơ trơ trước nỗi đau chung" ("Dắt Tay Nhau Ði Dưới
Những Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ." Tuyển Tập
Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000
và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 201).
Thản hoặc, có vài
ba người chịu không nổi "trước nỗi đau chung" lên tiếng
đòi hỏi những cải cách đổi thay tối thiểu để cải thiện
tình trạng "tệ quá" của xã hội thì lần luợt đều bị
hăm dọa, khống chế, sách nhiễu, đấu tố, quản thúc, tù
đầy…trước sự dửng dưng ("vô cảm và trơ trơ") của những
người còn lại!
Chỉ trong vòng tháng
10 năm 2002, đã có mấy chuyện kỳ dị như sau xẩy ra ở Việt
Nam - xin ghi lại theo thứ tự thời gian:
Ngày1 tháng 10 năm 2002,
cả đài VOA lẫn hãng thông tấn DPA cùng loan tin hai công dân
Việt Nam là ông Phạm Trọng Sơn và bà Nguyễn Thị Thảo đã
bị kết án 3 năm và 8 tháng tù vì tội "biểu tình gây rối
trật tự công cộng".
Ngày 22 tháng 10 năm 2002,
tại thành phố Ban Bê Thuộc, tỉnh Ðắc Lắc ba công dân khác
(ông Y Tim Ê Ban 34 tuổi, Y Coi B Krông 30 tuổi, và Y Tho Mas Ê
Ya 47 tuổi) bị kết án tám năm tù và hai năm quản chế vì
tội… "ép buộc người khác trốn đi nước ngoài" - nếu
ghi theo như nguyên văn bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam
và nhật báo Nhân Dân, số ra ngày 24 tháng 10 năm 2002.
Còn theo bản tin của
Xinhua News Agency, phát đi ngày 30 tháng 10 năm 2002, ba nhân vật
vừa nêu bị kết tội "kích động dân chúng địa phương
trốn ra khỏi nước" (The defendents were found guilty of inciting
local people to flee the country). "Kích động" (incite) và "ép buộc"
(force) là hai hành động hoàn toàn khác hẳn nhau.
Làm thế nào để có
thể "ép buộc người khác đi nước ngoài", có lẽ, là điều
mà những thông tín viên ngoại quốc không thể nào hiểu nổi.
Do đó, họ "đành" phải chuyển ngữ "sai ý" của viện Kiểm
Sát Nhân Dân tỉnh Ðắc Lắc!
Mà ba ông Y Tim Ê Ban,
Y Coi B Krông và Y Thomas Ê Ya đã "xúi dục hay khích động"
dân chúng cách nào vậy cà? Họ cho cán bộ đóng chốt trong
nhà nạn nhân rồi tuyên truyền rỉ tai hay chõ loa phóng thanh
vào nhà con người ta và nói ra rả suốt ngày rằng:"đừng
ở với ‘bọn xấu, bọn ác, bọn bất lương, bọn khốn
nạn’ đó nữa và bằng mọi cách phải chạy khỏi ‘tụi
khốn nạn, tụi chó đẻ…’ đó đi…" - hay sao?
Cứ cho là ba ông Y Tim
Ban, Y Coi B Krông và Y Thomas Ê Ya có làm đúng như thế chăng
nữa, việc khuyến khích hay kêu gọi người khác bỏ đi khỏi
một vùng đất mà "nếu cái cột đèn có chân nó cũng không
chịu ở" thì cũng là chuyện "tốt thôi", chớ đâu phải là
một cái "tội" - hả Trời? Căn cứ vào hình luật nào để
nhà đương cuộc Hà Nội kết án ba người dân Ban Mê Thuộc
8 năm tù và 2 năm quản chế?
Cũng thế, ông Phạm
Trọng Sơn và bà Nguyễn Thị Thảo (hai cư dân ở Phú Nhuận,
Sài Gòn) đã lãnh một bản án gần 3 năm tù, chỉ vì đã
biểu tình phản đối chính sách giải toả nhà đất bất
công của nhà cầm quyền địa phương - sau khi điền sản
của họ bị tịch thu và đãõ làm đơn khiếu nại nhiều
lần không có kết quả!
Chưa hết đâu, cuối
tháng 10, vào ngày 30, báo Nhân Dân lại hân hoan sung sướng
loan tin "Hai Tên Tội Phạm Ra Ðầu Thú". Hai ông Y Sú Nie (58
tuổi) và Y Khai (không rõ tuổi) - cả hai đêàu là cư dân
của huyện Ma Ðrac, tỉnh Ðăùc Lắc - đã ra "đầu thú" và
đã nhận tội "móc nối với những thế lực phản động
ở nước ngoài để hoạt đông chống phá nhà nước Việt
Nam"!
Cách đây chưa lâu -
vào khoảng tháng tư 1988, nếu tôi nhớ không lầm - giới truyền
thông của làng Ba Ðình, Hà Nội cũng hớn hở chạy một bản
tin tương tự về một nhóm Fulro ra "đầu thú" tại tỉnh Lâm
Ðồng. Cái đuợc mô tả là nhóm Fulro kể trên gồm có ...
năm người: hai đứa bé (có đứa mới mười mấy tháng),
một ông già, một phụ nữ, và một người đàn ông trung
niên có trang bị vũ khí - một cái... cung!
Nhóm người này, may
mắn, không bị kết án "móc nối" với bất cứ ai. Lý do,
tôi trộm nghĩ, vì Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Lâm Ðồng
không đủ bằng chứng để buộc tội. Cung và tên không thể
dùng để khều hay móc bất cứ cái gì. Khi "ra đầu thú",
ngoài cung tên và xà gạc trên vai ra, tôi sợ rằng hai ông
Y Sú Nie và Y Khai đã trót dại cầm theo một hay hai cái …
cù nèo gì đó!
Làm sao để "lôi kéo,
ép buộc người khác trốn đi nước ngoài" (nếu ghi nguyên
văn theo tiêu đề của báo Nhân Dân http://www.nhandan.org.vn/vietnamese/20021024/bai-tsdem24.html)
là chuyện mà tôi e rằng chỉ có Trời hay Yàng mới biết.
Còn làm cách nào để "móc nối với những thế lực phản
động quốc tế" bằng những cái cù nèo thì chắc có lẽ
ngay cả đến Yàng và Trời, cùng với Phật Chúa thánh thần
các thứ hợp sức lại, cũng phải chào thua thôi!
Có thể vì không hoàn
toàn am tường tiếng Việt (nhất là cái thứ xảo ngữ của
những "toà án nhân dân" ở miền xuôi) và vì thấp cổ bé
miệng nên những đồng bào miền núi đành chấp nhận những
những tội danh và những bản án dành cho họ. Chuyện không
đành lòng là thái độ dửng dưngï của cả hàng triệu triệu
người Việt khác trước những lời buộc tội ngang ngược
và xấc xược như thế của nhà đương cuộc Hà Nội.
Mền nắn rắn buông
hay được chân lân đầu là thái độ và chiến thuật cố
hữu của đảng CSVN. Vì mọi người đều im lặng, nghĩa là
"đồng lòng", với những "bản cáo trạng" tháng 10 nên qua
tháng 11 họ thản nhiên kết án một công dân khác (ông Lê
Chí Quang) bốn năm tù và ba năm quản chế vì những tội danh
rất mơ hồ: "tuyên truyền chống nhà nước" và "gây nguy hại
nền an ninh của nước CHXHCVNVN"!
Họ tiếp tục áp chế
cả dân tộc Việt vì tin rằng sẽ không gặp một phản ứng
nào đáng kể, đến từ bất cứ ai. Tấm lòng của chúng ta
đối với nhau, cũng như đối với non sông đất nước, đâu
còn nữa! Họ đã cố tình giết cho nó chết và chúng ta thì
đành lòng để cho nó …chết luôn. Có phải vậy không? Tôi
ước ao là đã vừa nói bậy và sẽ có vô số dịp để hối
hận về sự hàm hồ và nông nỗi của mình, trong những ngày
tháng tới!
Tưởng Năng Tiến
(*) Sách được in lại
(và in "lậu") tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một
chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. |