RỪNG
ƠI VÀ YÀNG ƠI
Khi
lâm vào những tình huống lạ lùng, khó khăn, ngặt nghèo hay
tuyệt vọng - con người hay chợt nhớ đến Ðất Trời, Thần
Thánh. Người Việt kêu "Yàng ơi" (Thần ơi) hoặc "Ây Die"
(Trời ơi) - nếu là dân miền núi, và "Ối Giời ơi"- nếu
họ ở miền xuôi. Chỉ riêng anh Nguyễn Văn Trổi là có một
thái độ (hơi) khác thường chút đỉnh.
Trước khi bị
xử tử, anh Trổi không kêu Trời - cũng không gọi mẹ mà
chỉ hô "Hồ Chí Minh muôn năm". Và cứ theo (nguyên văn) như
lời ông Tố Hữu thì "Phút giây thiêng, anh gọi Bác ba lần!"
Về chuyện hô
hoán của anh Trổi, có người đã nhận xét thế này: "sau
ba câu khẩu hiệu Hồ Chí Minh muôn năm, Tố Hữu đã hạ một
câu thơ thật là thần tình: Phút giây thiêng anh gọi Bác ba
lần. Và thế là ngay lập tức, mấy câu khẩu hiệu khô khốc
trên kia đã không còn là khẩu hiệu nữa, nó đã thành tình
cảm, xúc cảm, thành nỗi niềm thiêng liêng của cả một
đời người ở cái giây phút hiểm nghèo nhất. Và người
đọc bỗng ứa nước mắt. Ðấy là tài nghệ của một bút
pháp lớn. Bút pháp bậc thầy". [Trần Ðăng Khoa, Chân
Dung Và Ðối Thoại (Hà Nội: Thanh Niên,1988),10].
Không những chỉ
đọc, tôi còn viết lại câu thơ vừa dẫn. Sau đó, tôi ngồi
(rồi nằm) lắng nghe lòng mình -lâu thật là lâu - nhưng sao
tuyệt nhiên không thấy có chút "tình cảm" hay "xúc cảm" và
"nỗi niềm thiêng liêng" gì (trào dâng) hết trơn hết trọi.
Nước mắt cũng không "bỗng ứa ra" - như nhà thơ Trần Ðăng
Khoa mong đợi. Thi sĩ với thường dân khác nhau thế đấy.
Những "khẩu hiệu
khô khốc" này chỉ khiến tôi đâm thắc mắc là tại sao ("phút
giây thiêng") anh Nguyễn Văn Trổi không gọi hai lần, năm lần,
hoặc một trăm lần mà lại "gọi Bác ba lần" - như vậy?
Nỗi băn khoăn của tôi, tất nhiên, không có người giải
đáp. Anh Nguyễn Văn Trổi đã chết. Tố Hữu thì chưa nhưng
ông ấy không phải là một người khả tín.
Tương tự như
anh Nguyễn Văn Trổi, ông Tố Hữu cũng thích "mần" cách mạng.
Khác với anh Trổi, ông Tố Hữu chỉ chuyên làm thơ ở trong
nhà - chứ không làm đặc công, mang mìn đi gài chỗ này chỗ
nọ.
Sau khi bị bắt
quả tang đang loay hoay đặt chất nổ dưới chân cầu Công
Lý, người ta mang anh Trổi ra xử bắn tại pháp trường -
Sài Gòn. Ông Tố Hữu (tất nhiên) không có mặt nơi đó. Lảng
vảng xa gần, xớ rớ đâu đó, cũng không. Ông ấy ở tuốt
ngoài Hà Nội lận. Việc anh Trổi gọi tên bác ba lần hay
sáu lần… hoàn toàn là chuyện bịa!
Mà cái gì chứ
bịa chuyện thì đúng là sở trường của ông Tố Hữu, như
chính ông ta đã (hãnh diện) thừa nhận điều này. Khi được
hỏi về hoàn cảnh sáng tác của một bài thơ khác, viết
về Ðiện Biên Phủ, Tố Hữu "nheo nheo một bên mắt, vẻ
trẻ trung, tinh nghịch" và nói:
-
Này, xem ra không
thể tin cánh văn nghệ được đâu hỉ. Phịa, toàn là phịa.
Chỉ có điều là mình phịa như thật, nên người ta cũng
tha cho.
Rồi Tố Hữu
lại cười. Nụ cười thật hiền hậu. Trông ông lúc này
có dáng vẻ của một ông Phật...
-
Thế từ lúc mở
màn cho đến khi kết thúc chiến dịch, anh có lên Ðiện Biên
Phủ bao giờ không ?
-
Không! Nào mình
có biết Ðiện Biên ở đâu mà đi (sđd, trang16 & 17).
Nếu Trần Ðăng
Khoa không phải là một người phịa chuyện thì Tố Hữu (rõ
ràng) là một người vô tư, vui tính, "thật hiền hậu" và
"có dáng vẻ của một ông Phật." (Mô Phật!)
Ðó là mới nói
về phần nhân cách và ngoại hình. Thi tài mới là điều cần
nói khi viết về một thi sĩ, và Trần Ðăng Khoa đã nói đến
tài năng của Tố Hữu (một cách rất ví von) như sau: "Nếu
mỗi nhà văn là một người thư ký của thời đại, theo quan
niệm Banlzac, thì Tố Hữu chính là người thư ký của cách
mạng. Thơ của ông là biên niên sử của cách mạng Việt
Nam" (sđd, trang 10).
Tôi nghĩ đến
Ðức Phật cùng với một tiếng thở dài (cố nén) và sao
thấy ái ngại (hết sức) cho - cái được gọi là - "biên
niên sử của cách mạng Việt Nam". Tưởng gì chớ làm thư
ký thì đâu cần phải có "bút pháp bậc thầy", và cũng không
cần " lớn". Trung bình cũng được. Nhỏ cũng không sao. Chỉ
cần trung thực là đủ. Mà trung thực hay khả tín, như đã
thưa, là điều hoàn toàn trái ngược với bản tính của ông
Tố Hữu (nói riêng) và những người chuyên hành nghề cách
mạng (nói chung).
Và đó cũng là
lý do tại sao ông Tố Hữu bị nhiều người coi thường hay
chê trách. Khách quan mà nói, tôi e rằng dư luận có phần
khắt khe với ông ta. Sở dĩ Tố Hữu cứ bịa hết chuyện
này đến chuyện nọ chỉ vì bộ mặt thật của "cách mạng
Việt Nam" rất khó coi, cần phải che dấu - thế thôi. Ðó
là một thứ face cachée, nếu nói theo tiếng Tây- và
nói theo kiểu của nhà văn Bùi Tín.
Ngay cả sau khi
"cách mạng" đã thành công, cướp được chính quyền, những
người cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục giữ thái độ dối
trá và trí trá. Những kẻ kế nhiệm ông Tố Hữu sau này,
để làm "loa" cho nhà nước, cũng không bao giờ thốt lên được
một lời nào thành thật.
Trong một bức
thư ngỏ, viết từ Hà Nội, được phổ biến rất rộng rãi
vào những ngày gần đây, có đoạn đáng chú ý như sau:"
Hai ngày sau Ðại Hội Ðảng IX, tức là ngày 24 tháng 4 năm
2001, tôi đã bị bắt vào tù rồi! Vậy mà khi dư luận trong
nước dấy lên sự phản đối việc bắt giữ tôi và các
tổ chức nhân quyền thế giới chất vấn chính phủ ta về
việc bắt giữ cựu chiến binh Vũ Cao Quận thì bà Phan Thúy
Thanh - người phát ngôn của bộ ngoại giao chối bai bải là
không hề có việc bắt tôi, chuyện bắt tôi bỏ tù là chuyện
bịa đặt vu khống của kẻ xấu" (Vũ Cao Quận, "Thư Ngỏ
Gửi Ông Phan Khắc Hải, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa - Thông Tin."
Người Việt ,14 Mar., 2002).
Tôi tận tình
chia sẻ sự bất nhẫn của ông Vũ Cao Quận nhưng không đồng
tình với những lời lẽ nặng nề mà ông ấy dùng để mô
tả việc làm sai trái của bà Phan Thúy Thanh. "Chối bai bải"
không phải là phương cách ứng xử thích hợp cho bất cứ
loại người nào. Ðó chỉ là thái độ của một con "vẹm"
cái.
Cũng như ông Tố
Hữu, bà Phan Thúy Thanh bắt buộc luôn luôn phải dối trá
hay trí trá. Lý do: cái chế độ mà bà ta lựa chọn để phục
vụ được cấu thành và dựng xây trên sự gian xảo mà. Làm
sao bà ấy có thể cư xử đàng hoàng và lương thiện được?
Tôi chỉ hơi lấy
làm buồn khi nghe bà Thanh tuyên bố rằng phần lớn những
người Việt thuộc sắc tộc thiểu số đang tị nạn tại
Cao Miên có "ước vọng nóng bỏng" được hồi hương (Vietnam's
Foreign Ministry spokeswoman Phan Thuy Thanh said it was "regrettable"
UNHCR had so far returned only 15 minority people from Cambodia under a
tripartite agreement reached in January, despite 'the burning desire' of
most of them to come back), theo như tường thuật của ký giả
David Brunnstrom - qua bản tin của hãng Reuter, gửi đi từ Hà
Nội vào ngày 13 tháng 3 năm 2002 .
Bà Thanh không
phải là phát ngôn viên của những người tị nạn. Lẽ ra,
bà ấy không nên lanh chanh như thế. Tương tự, bà Thanh cũng
không có thẩm quyền hay tư cách gì để khẳng định rằng
"những người Việt nam đang sống trong những trại tạm cư
ở Cam-pu-chia không phải là người tị nạn. Họ là những
người do bị kích động, lừa gạt đã vượt biên trái phép
sang Cam-pu-chia" (Nhân Dân, 7 Mar., 2002).
Ủa, bộ thiệt
vậy sao? Nói vậy không lẽ hồi giờ "đã" có người
vượt biên "đúng phép" ra khỏi Việt Nam sao? Bà Phan Thúy Thanh
"dám" quên rằng cách đây chưa lâu, có vài triệu người dân
Việt cũng vượt biên "trái phép" như thế đến những quốc
gia lân cận - trong số đó có Cao Miên sao? Những kẻ này -
theo như lời của nhà đương cuộc Hà Nội, vào thời điểm
đó - cũng bị "kích động, lừa gạt" để chạy theo "bơ thừa
sữa cặn", "theo chân đế quốc" và "bọn phản động" vậy.
Rồi, chả hiểu
tại sao, khi khổng khi không, hàng triệu người "vượt biên
trái phép" này (bỗng) trở thành "khúc ruột xa ngàn dặm",
và "một bộ phận không thể tách rời của dân tộc" ("Tổng
Bí Thư Nông Ðức Mạnh Chúc Tết Bà Con Việt Kiều," Nhân
Dân, 2 May 2002).
Cùng số báo dẫn
thượng, trong bài tường thuật về "buổi lễ" đón tiếp
Việt Kiều thăm quê hương ăn Tết Nhâm Ngọ, tôi điểm danh
thấy dân làng Ba Ðình (từ trên trở xuống) không thiếu mặt
bất cứ một ai - ngoài Võ Nguyên Giáp. Ông đại tướng vắng
mặt không phải vì liêm sỉ hay tự ái mà chỉ vì đang bịnh
quá, đi hết nổi - vậy thôi.
Trí nhớ của
đám người cộng sản Việt Nam về chuyện tị nạn, rõ ràng,
hơi … ngắn. Và trí nhớ tập thể của khối người Việt
tị nạn ở hải ngoại, xem ra, cũng không lấy chi làm dài.
Họ quên rằng cách đây chưa lâu chính mình cũng vượt biên
"trái phép", cũng sống lây lất ở những trại tị nạn này
hay trại tị nạn khác, cũng ăn cơm của Cao Ủy Tị Nạn,
cũng bị cảnh sát (Thái Lan - Nam Dương hay Mã Lai) đánh đập.
Do đó, chuyện cảnh sát Căm Bốt dùng roi điện trấn áp những
người tị nạn khi họ phản đối chuyện bị giao trả về
Việt Nam (Cambodia police recently assaulted asylum seekers with an electric
baton at ne U.N. refugee camp when they spoke out against returning to
Vietnam - theo như nguồn tin của Reuters, đánh đi từ Phnom Penh
vào ngày 4 tháng 3 năm 2002) đã không khiến cho bất cứ ai
nóng ruột hay nóng mặt. Chả thấy một cá nhân, tổ chức,
hội đoàn, lực lượng, mặt trận... nào lên tiếng hết -
cho dù chỉ là một tiếng thở dài.
Ngọn lửa Tây
Nguyên bùng cháy, rồi âm ỉ từ hơn một năm qua,dường như,
cũng không khiến ai quan tâm hay xao xuyến. Chúng ta sót xa vì
từng tấc đất bị cắt cho lân bang nhưng dửng dưng trước
chuyện đồng hương của mình bị đàn áp và ngược đãi.
Tại sao vậy chứ? Không lẽ đồng bào "thượng" không phải
là đồng bào ... "thiệt" sao?
Mà dù có "thiệt"
vậy chăng nữa thì cũng đừng quên rằng ngoài bờ biển ra,
phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ
của những sắc tộc thiểu số - tự ngàn xưa. Cho dù hoạ
cộng sản sẽ qua và sắp qua, quê hương sẽ được quang phục
trong những ngày tháng tới, quan niệm (hẹp hòi) của người
Kinh về chủng tộc cần phải được xét lại; nếu không,
đất sẽ mất nữa và nước (rồi) cũng thế thôi.
K' Tiên
|