NỘI
LỰC VÀ KẾT ƯỚC
Bể khổ thì vô bờ
nhưng nếu biết quay đầu lại sẽ thấy ngay bến giác.
Thích
Ca
Con đường xuyên Việt,
chạy trên rặng Trường Sơn, có tên thường gọi là đường
mòn Hồ Chí Minh, và đã có lúc bị mỉa mai là "Ðường Ði
Không Ðến" - theo như tựa một cuốn sách của nhà văn Xuân
Vũ. Dù tác phẩm này được nhiều người tìm đọc và được
tái bản nhiều lần, lời tiên đoán (hay"trù mạt" ) của tác
giả - tiếc thay - hoàn toàn ... trật lất! Những bộ đội
miền Bắc, theo con đường Trường Sơn vào Nam - dù "mười
phần chết bẩy còn ba" rồi "chết hai còn một" bởi đói
khát, bệnh tật, và bom đạn - đã đi đến đích. Họ vào
đến Sài Gòn ngày 30 tháng tư năm 1975.
Trước thời điểm này,
ở Hà Nội đã có thành ngữ :
Ðêm đêm cả
nhà lo việc nước.
Ngày ngày cả nước
lo việc nhà
Sau đó, người Hà Nội
đêm đêm vẫn lục đục lo hứng nước. Chuyện "giải phóng
miền Nam", và những thành quả đi kèm, chỉ mang lại phúc
lợi cho một nhóm người chuyên "hành nghề cách mạng", chứ
hoàn toàn và tuyệt đối không ảnh hưởng gì đến việc
thiếu nước (và thiếu thốn đủ thứ) của người dân miền
Bắc. Mọi hứa hẹn - đại loại như - "thắng thằng giặc
Mỹ ta sẽ xây dựng lại gấp năm, gấp muời hơn xưa" thì
kể như ...xù!
Chiến thắng của đảng
Cộng Sản Việt Nam chỉ làm thay đổi thái độ sống của
dân chúng ở mọi miền - kể luôn miền...ngược. Từ đây,
mọi người đều sống "thư dãn" hơn chút đỉnh. Chứ cứ
nay đánh thằng này, mai đánh thằng kia. Xuơng chất thành núi;
máu chẩy thành sông. Công nhân nhà máy dệt Nam Ðịnh "làm
ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ ngủ" mà
vẫn sản xuất không kịp vải làm khăn tang cho cả nước
...thì tội quá; đã thế, chả bao lâu lại hối hả xoay ra
vồ vập bắt tay thằng này, vồn vã quàng vai thằng nọ, hân
hoan đón tiếp thằng kia... Sao thấy nó kỳ kỳ. Thôi thì cả
nước (thống nhất) lo việc nhà, cho nó đỡ phiền.
Tuy là Bộ Trưởng Bộ
Giao Thông Vận Tải của một quốc gia mà "ngày ngày cả nước
( chỉ ) lo việc nhà "như thế, khi được phóng viên báo Lao
Ðộng - số ra ngày 19 tháng 5 năm 99 - hỏi về vốn liếng
cho dự án mở đường Trường Sơn, ông
Lê Ngọc Hoàn vẫn
mạnh miệng tuyên bố: "Xây dựng con đường này, chúng tôi
thấm nhuần tư tưởng chủ đạo là phát huy nội lực...".
Tương tự, ông Lê Khả Phiêu, Tổng Bí Thư đảng CSVN cũng
mau mắn đề cập đến chuyện "phát huy nội lực'' - và giải
thích văn hoa rằng đó là " sức mạnh văn hoá của dân tộc
Việt Nam, đạo đức trí tuệ Việt Nam... để chúng ta vượt
mọi khó khăn trong những thời điểm gian nguy nhất..." - khi
trả lời phỏng vấn của tờ Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày
16 tháng 6 năm 2000.
Kêu gọi, động viên
dân khí, dân chí, nội lực toàn dân - nói một cách công tâm
- là chuyện nhà cầm quyền nào cũng phải làm khi hữu sự.
Ðiều đáng nói là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rất
hay kiếm chuyện nên họ "hữu sự" hoài hoài. Kể từ khi giành
được quyền bính đến nay, họ chưa bao giờ ngưng tìm cách
đưa đất nước và dân tộc Việt vào những hoàn cảnh "khó
khăn" và những "thời điểm gian nguy" – nếu nói theo ngôn
ngữ của đồng chí (đương kim) Tổng Bí Thư. Họ lôi kéo
dân chúng từ chiến dịch này sang chiến dịch khác, hết cuộc
chiến này qua cuộc chiến kia. Tạo ra gian khổ vốn vẫn là
sở trường của người cộng sản, và kẻ thù thì (ôi thôi)
họ chưa bao giờ thiếu! Ðã có lúc, văn công của họ kêu
gọi mọi người:
-Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới
dậy tương lai...
(Tố Hữu)
- Ðường ra trận
mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông
nhớ Trường Sơn Tây.
(Phạm Tiến Duật)
Theo dự đoán được chính
thức công bố, hiện thời trên con đường Trường Sơn - nơi
đã có lúc được thi vị hoá là "đẹp lắm", và khiến ''lòng
phơi phới dậy tương lai"- còn vương vãi đâu cỡ chừng ...
300.000 ( ba trăm ngàn) bộ xương bỏ sót. Dù chiến tranh đã
kết thúc hơn một phần tư thế kỷ, đảng và nhà nước
vẫn chưa có thì giờ để mắt tới mớ hài cốt vô dụng
này. Cộng sản Việt Nam lại đang bận động viên cả nước
vào chuyện khác: chuẩn bị mở một đường mới - con đường
mà nói theo nguyên văn của Chủ Tịch Nước Trần Ðức Lương
(vào hôm 5 tháng 4 năm 2000, nhân Ngày Lễ Khởi Công Xây Dựng
Ðường Hồ Chí Minh): "...là tuyến đường Bắc Nam hiện đại,
huyết mạch của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá..." .
Cùng ngày này - theo như
tường thuật của phóng viên Thanh Thủy và Lê Anh Tuấn của
báo Lao Ðộng, số ra ngày 6 tháng 4 năm 2000 - vào lúc 11 giờ
15 phút, Thủ Tướng Phạm Văn Khải thay mặt đảng phát biểu
như sau:"Các đơn vị mở đầu cuộc tiến công xây dựng tuyến
đường phải thấy rõ đây là vinh dự, là trách nhiệm, là
cơ hội..."
Trách nhiệm mẹ rượt gì, và cơ hội
cho ai thì không nghe ông Khải nói; hoặc giả, ổng cũng có
nói láp giáp gì đó nhưng hai vị phóng viên nhà nước - có
tên vừa nêu - đã giả dụ rằng ai cũng biết hết trơn rồi,
khỏi cần phải ghi lại cho dài dòng và tốn giấy nên chỉ
để ba chấm lửng vậy thôi!
Mà tình thiệt thì người
đui cũng phải thấy rằng đây là "trách nhiệm" của dân,
và là "cơ hội" của qúi vị cán bộ đảng viên đảng CSVN.
Khi ông Thủ Tướng của một quốc gia mà nạn tham nhũng được
xếp thứ nhì Châu Á đã nói đây là "cơ hội" thì qúi vị
cán bộ dưới quyền phải hiểu ngay là … cơ hội bằng vàng,
vào lúc chợ chiều, chớ không phải chuyện chơi. ïCon đường
tốn kém bạc tỉ mà, và là đô la đó nha chớ không phải
là cái thứ tiền thổ tả như tiền Miên, tiền Lèo hay tiền
của bác Hồ đâu.
Cũng cứ theo như tường
thuật của phóng viên Thanh Thủy và Lê Anh Tuấn - qua bài báo
dẫn thượng - hôm làm lễ mở đường có một cụ già tên
Di, tuổi đã ngoài 70, quê ở Vạn Trạch, đi bộ cả chục
cây số đến nơi tham dự, và đã rưng rưng nói:’’Gần
hết đời người hôm nay bầy tui vui quá. Tui cố ráng sống
thêm vài năm nữa để được đi một đoạn trên con đường
vĩ đại, mang tên cụ Hồ…”
Thiệt, nghe mà muốn
rớt nước mắt. Nói tóm lại thì cái gì có dính tới bác
Hồ là đương nhiên vĩ đại, vậy thôi. Ðường Trường Sơn
không thể ra ngoài thông lệ đó. Khi còn chiến tranh nó là
"huyết mạch" để nuôi dưỡng cuộc chiến, bây giờ nó "sắp"
trở thành "huyết mạch của đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hoá." Thời nào thì nó cũng vĩ đại
và cũng cần đến máu xương hay mồ hôi nước mắt của người
dân. Chỉ có chút dị biệt là thời nay những nghệ sĩ cỡ
như Tố Hữu, Phạm Tiến Duật đã bắt đầu biết ngượng
nên qúi ông Tổng Bí Thư, ông Thủ Tướng, Chủ Tịch Nước
và Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải ... đành phải "động viên
xuông", chứ không còn văn thơ và ca nhạc đi kèm nữa.
Thiếu phần "văn nghệ
phụ diễn" tuy buồn nhưng không kẹt, điều kẹt nhứt là
e rằng dân Việt không còn sẵn lòng để nhận "trách nhiệm"
và "vinh dự" do đảng giao phó nữa. Sức nguời có hạn thôi
chớ bộ ? Nội lực ở đâu ra mà "phát không" liền liền
như vậy, mấy cha?
Người ta không thể
đo dân chí, dân khí và ý thức công dân của một dân tộc
như đo một một bình dầu hay một chai nước mắm. Tuy nhiên,
có nhiều hiện tượng xã hội được xem như những dấu chỉ
khả tín về "nội lực dự trữ" của dân tộc đó. Xin đơn
cử vài thí dụ.
Theo phúc trình của Vietnam
Investment Review (ngày 10 tháng 5 năm 2000) thì "trong số 2.291
trẻ em bị bắt vì hành nghề mãi dâm ở Svay Pak, ngoại ô
Phnom Penh, có đến 78 phần trăm là người Việt." Con số này
đễ gây cảm tưởng rằng bán dâm là một nghề "dễ sống"
tại Nam Vang. Sự thực không phải vậy đâu. Nhật báoViệt
Báo xuất bản tại California Hoa Kỳ (số ra ngày 16 tháng 7
năm 2000) có ghi lại chi tiết về giá cả như sau: "Một trinh
nữ 14 tuổi giá 5 chỉ vàng, tương đương với hai trăm Mỹ
Kim, ở Kampuchea."
Tưởng cũng cần nói
thêm là mục đích của việc trao đổi mua bán không chỉ giới
hạn vào chuyện thỏa mãn tình dục mà còn có giá trị "cao"
về mặt y tế nữa. Cũng như nhiều dân tộc chậm tiến khác
ở Phi Châu và Á Châu, nguời Miên, người Tầu và người
Thái tin rằng họ có thể "sang" bệnh liệt kháng cho một trinh
nữ - sau khi giao hợp! Ðó là lý do tại sao trẻ em Việt Nam,
kể cả những đứa chỉ tay không có đường xuất ngoại,
được "xuất cảng'' ào ạt qua những nước láng giềng. Dù
vẫn bị mang tiếng là những kẻ tán tận luơng tâm, khách
quan mà nói, dịch vụ bán dâm kiểu này - dường như - không
nằm trong chủ trương chính thức của cộng sản Việt Nam.
Thêm một việc nữa,
cũng chưa chắc đã nằm trong quốc sách, là CSVN cố tạo ra
một xã hội mà mọi người phải ăn cắp để sống còn -
như đã được ghi nhận bởi nhà văn Bùi Ngọc Tấn:"...
không
ăn cắp khó mà tồn tại...Ăn cắp để sống, để đỡ đói.
Ăn cắp để làm giàu. Ðể ngoi lên một địa vị cao sang.
Càng ăn cắp càng giàu có, càng được mọi nguời kính trọng.
Tệ hại nhất là ăn cắp, nhưng vẫn dậy dỗ mọi người
chống ăn cắp, vẫn thuyết giảng lý tưởng một cách
rất thành thật, thiết tha. (Chuyện Kể Năm 2000.
Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh xuất bản tại California năm 2000, trang
93).
Một nhân sĩ khác, ông
Hà Sĩ Phu, cũng đưa ra nhận xét tương tự về nét đặc trưng
của những người cùng thời với mình:"Không có nhân cách
nguời ta vẫn sống, thậm chí còn sống béo tốt hơn".
( "Chia Tay Ý Thúc Hệ."
Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào
Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất
bản năm 96, trang 207).
Gần đây nhất, bản
tin của AFP - dưới tiêu đề "Vietnamese provincial official sacked
for corruption" - đánh đi ngày 30 tháng 8 năm 2000, có ghi nhận
như sau: "Những trường hợp tham nhũng đang gia tăng nhiều
lần trong những năm gần đây ở cả cấp chính phủ trung
ương của cả hai miền, gây tổn thất hàng trăm triệu Mỹ
Kim cho Việt Nam, một trong những quốc gia nghèo nhất thế
giới (Corruption cases have multiplied in recent years in both central
government, causing hundreds of million dollars to Vietnam, one of the
the world's porest nation).
Hàng trăm triệu Mỹ
Kim ăn cắp này cứu vớt được bao nhiêu bé gái Việt Nam
đang bán mình ở Cao Miên ? Trong tương lai gần - khi thân tàn
ma dại trở vế cố quốc, cùng với vi khuẩn HIV - các em sẽ
truyền bệnh cho bao nhiêu nguời khác nữa ở quê nhà? Ngân
sách quốc gia sẽ cần bao nhiêu triệu hay tỉ Mỹ Kim (nếu
có) trong lãnh vực y tế để trả giá cho 200 đô la mà thân
nhân các em đã nhận được hôm nay ?
Dù bị đe doạ thường
xuyên, trước thảm trạng của đồng bào, giới trí thức
Việt Nam phải đành lên tiếng. Qua bản Kết Ước 2000, bản
văn đúc kết một số nhận định chung của giới nguời này
về tình hình đất nước, có đoạn nguyên văn như sau: "Thế
kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba đến vào giữa lúc mà xu hướng
toàn cầu hóa đã trở thành áp đảo. Trong kỷ nguyên mới
này, cũng là kỷ nguyên của sáng kiến và sự hiểu biết,
các quốc gia mà biên giới được coi như hàng rào ngăn chận
đà tiến chung và những giá trị phổ cập của loài người
sẽ không còn lý do tồn tại và sẽ không thể tồn tại.
Các quốc gia như thế sẽ không được sự hưởng ứng của
người dân, sẽ không động viên được nội lực, sẽ thua
kém, sẽ bị giải thể trong lòng người và sau cùng sẽ tan
rã."
"Chúng tôi là những
người Việt Nam cùng chia sẻ sự lo âu trước sự tụt hậu
của đất nước, trước sự thờ ơ của quần chúng và sự
thiếu tầm nhìn của những người lãnh đạo đất nước...sự
kiện người dân mất lòng tin vào ý thức cộng đồng, mỗi
người tự tìm một giải pháp cá nhân là rất nguy hại cho
đất nước và cho mọi ngừơi. Chúng tôi muốn giữ đất
nước mà ông cha đã đổ mồ hôi và xương máu tạo dựng
cho con cháu. Chúng tôi muốn để cho thế hệ mai sau một đất
nước đẹp hơn, đáng yêu và tự hào hơn."
Trong một quốc gia mà
"ngày ngày cả nước lo việc nhà" [nghĩa là ý thức cộng
đồng và xã hội công dân (civil society) kể như đã... tiêu
tùng] mà vẫn cứ thản nhiên kêu gọi ''động viên nội lực
toàn dân'' thì quả là một thái độ rất "thiếu tầm nhìn
của nhiều người lãnh đạo đất nước... trước sự thờ
ơ của quần chúng..."
Nhận xét vừa nêu của
giới trí thức Việt Nam, về những người hiện đang nắm
quyền bính ở xứ sở này, nói tình ngay, hoàn toàn không có
gì quá đáng - ít nhất thì nó cũng không quá đáng đến độ
phải ghép nhau vào tội ...phản quốc! Bằng tội danh này,
theo điều luật 78 của Bộ Luật Hình Sự hiện tại ở Việt
Nam, những người "bị tình nghi" có liên quan xa gần đến
việc soạn thảo bản Kết Ước 2000 ( như qúi ông Mai Thái
Lĩnh, Hà Sĩ Phu...) có thể sẽ bị kết án tử hình.
Thiệt, nghe mà thấy
ghê. Giết người sao mà dễ ợt, vậy kìa? Mai Thái Lĩnh, Hà
Sĩ Phu... - rất có thể - cũng đã đi tầu suốt nếu như vào
ngày 19 tháng 5 vừa qua một số nhân sĩ Việt Nam đã không
khẳng khái lên tiếng phê bình chuyện ghép tội phản quốc
cho hai ông là việc làm "tùy tiện, vô căn cứ", và đã làm
đơn yêu cầu ông Chủ Tịch và các vị Ðại Biểu Quốc Hội
CHXHCNVN khoá X cứu xét lại vấn đề này.
Hơn ba tháng sau, qua nhật
báo Người Việt - phát hành từ California Hoa Kỳ, số ra ngày
8 tháng 9 năm 2000- độc giả lại đọc được tờ đơn thứ
hai của những nhân sĩ Việt Nam, chất vấn quốc hội xứ
sở này vì sự im lặng (hay hèn hạ) khó hiểu của họ. Nội
dung bức thư , có đoạn như sau:
"Căn cứ luật khiếu
tố tháng 12 năm 98, các điều 9, 34, 36, 66, 67, 85 và 97 đã
qui định rõ ràng trách nhiệm của QH và đại biểu QH là
:"Giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo...Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu QH khi
nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm nghiên cứu,
kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền và đôn đốc
theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời
báo cho người khiếu nại, tố cáo biết việc
chuyển đơn
đó...chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận đơn tố cáo..."
"Hiến pháp và luật
khiếu tố đã qui định như vậy. Tuy nhiên, từ ngày gửi
đơn khẩn cấp đề ngày 19/5/2000 tới nay đã được 3 tháng
giời rồi mà chúng tôi không hề nhận được thông tin nào
từ phía QH, như pháp luật qui định. Chúng tôi yêu cầu QH
thực thi đúng hiến pháp đã qui định và trả lời trên báo
chí."
Luật pháp (nói chung)
hay tư pháp và lập pháp (nói riêng) chỉ là đồ trang sức,
không mất tiền mua, của đảng CSVN. Ðòi hỏi quốc hội của
xứ sở này phải "giám sát việc thi hành pháp luật...như
hiến pháp đã qui định" chỉ là điều giễu cợt , nó cũng
giễu cợt như chuyện bắt mấy con rối nước phải biết
suy nghĩ và hành xử như người.
Cơ quan lập hiến thường
là nơi qui tụ những tinh hoa của một quốc gia. Riêng ở Việt
Nam (bây giờ) thì khác. Nó là nơi tập họp những phần tử
đốn mạt nhất của dân tộc này. Cái gọi là nghị định
31/CP, ban hành ngày 14 tháng 4 năm 97, sẽ mãi mãi là một vết
chàm trong lịch sử luật pháp Việt Nam vì nó cho phép các
cơ quan hành pháp mọi cấp được quyền quản chế bất cứ
người dân nào bị nghi ngờ rằng có thể phương hại đến
an ninh chung mà không cần xét xử. Oâng Hà Sĩ Phu đã ở “diện
quản chế” này nhiều năm. Mới đây, cùng với ông Mai Thái
Lĩnh, ông “được” chuyển qua “diện tử hình treo” vì
cả hai bị tình nghi…phản quốc – như đã trình bầy.
Kẻ viết những giòng
chữ này chỉ là một thường dân nên không thể viện dẫn
luật một cách rành rẽ và cũng không có khả năng tự chế
để có thể xử dụng thứ ngôn ngữ khiêm cung và nhã nhặn
của giới nhân sĩ như qúi ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế
Dương, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Trần Dũng Tiến - những
nhân vật đứng tên trong cả hai lá đơn vừa dẫn; tuy nhiên,
trong tinh thần "thất phu hữu trách" nên cũng xin được mạo
muội nêu lên ý kiến thô thiển như sau.
Thái độ của đảng
CSVN đối với Hà Sĩ Phu và Mai Thái Lĩnh, cũng như đối với
tất cả những nhân vật bất đồng chính kiến khác, nếu
nói theo ngôn ngữ của đời thường, chỉ là lối tráo trở
của những kẻ "vừa đánh trống vừa ăn cướp". Giả dụ
rằng chính Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh...có tham dự vào việc
soạn thảo Bản Kết Ước 2000 đi nữa, không lẽ ước mong
" để lại cho các thế hệ mai sau một đất nước đẹp hơn,
đáng yêu hơn và đáng tự hào hơn" - theo như ý nguyện của
họ qua bản Bản Kết Ước 2000 - là một thứ tình cảm hay
hành vi phản quốc hay sao ?
Vậy chứ xô đẩy cả
chục triệu người, thuộc mấy thế hệ kế tiếp, vào những
cuộc chiến hoàn toàn không cần thiết không lẽ là một cách
bầy tỏ lòng trung thành với tổ quốc ? Ðưa cả nước đến
mức khánh tận toàn diện về kinh tế cũng như luân lý và
đạo đức thì gọi đó là tội trạng gì ? Phá nát môi trường
sống của hết một giang sơn, "đất nước mà ông cha đã
đổ mồ hôi xương máu tạo dựng" lại hành vi yêu nước
hay sao ?
Hà khắc, bạo ngược
- dù đi kèm với chính sách ngu dân - rồi cũng có lúc mang
lại những hậu quả tai hại khó lường. Nó đã làm bật
dậy nội lực của người dân, như đã diễn ra ở Thái Bình
vào tháng 6 năm 97 (và vẫn âm ỉ tiếp diễn cho đến bây
giờ), ở Nam Ðịnh vào tháng 6 năm 2000, và gần đây nhất
, ở Ðắc Lắc - bởi đồng bào Thượng, vào ngày 8 tháng
8 năm nay. Nội lực tự phát, chắc chắn, vũ bão hơn thứ
"nội lực được động viên". Người ta đang chờ xem khả
năng đàn áp và khủng bố của đảng CSVN còn "mạnh" đến
cỡ nào trước nguồn nội lực mới của người dân Việt,
trong bối cảnh mới và thời điểm mới của lịch sử toàn
cầu - khi mà chuyện "giết người bịt miệng" đã trở thành
một điều bất khả.
Bể khổ thì vô bờ,
như Phật đã dậy tự ngàn xưa, và nếu buông đao đồ tể
thì có thể thành Phật được. Thời của đức Thích Ca chưa
có cái thứ người như người cộng sản Việt Nam nên, kể
như, ngài đã “hớ” (ít nhất) một câu. Câu thứ hai, rất
có thể, Phật cũng “hớ” luôn là “cửa thiền luôn rộng
mở.” Nói thiệt tui quen biết rất nhiều người vô cùng
chủ quan nhưng chưa thấy ai mà “khinh địch” như đức Phật.
Phải chi cửa thiền chỉ mở he hé thôi thì đâu đến để
lọt vô được cái thứ sư sãi quốc doanh.
Tui không tin là những
ủy viên trung uơng đảng cộng sản Việt Nam có thể thành
Phật được dù chút xíu nữa họ buông đao, và buông luôn
cả búa liềm; tuy nhiên, tôi tin rằng họ có thể rút lui và
chết trong an bình nếu làm như vậy. Và như vậy, may ra, nước
Việt mới tránh được một cuộc tương tàn mà lần này thì
máu của mọi người đều đổ – kể cả những người chỉ
vào đảng (hôm qua) cho đỡ đói.
Tưởng Năng Tiến
(một thường dân Phật
tử, mới qui y tuần rồi)
|