TỪ
NGUYỄN KHẮC TOÀN
ÐẾN
NGUYỄN HỒNG QUANG
Qui luật là sự ràng buộc vô
hình nhưng không
cho ai trốn thoát và không cho
ai "ăn gian".
Hà Sĩ Phu
Ngày đầu tiên lò mò bước đến
thành phố Ðà Lạt, bác sĩ Yersin hết hồn khi thấy vợ chồng
tôi đang ngồi (lù lù) câu cá ở hồ Xuân Hương. Chuyện xẩy
ra đã lâu, đâu chừng vào mùa Hè, năm 1891 nhưng khi nhắc
lại tôi vẫn còn thấy hơi kỳ.
Hôm ấy chúng tôi hơi lớn tiếng.
Thay vì ngồi im thưởng thức một buổi chiều vàng, đang rơi
mênh man trên hồ vắng, giữa cao nguyên hoang vu và tĩnh lặng,
vợ tôi cứ lải nhải nói không ngừng chỉ vì tôi đã lỡ
làm xẩy một con cá chép.
-
Sao honey biết là nó bự?
-
Không bự sao cái đọt cần câu cong
vòng như chữ "U" vậy?5
-
Cá nào xẩy mà không bự?
-
Con này khác, con này bự thiệt và
bự lắm lận.
-
Thì từ từ để người ta câu con
khác chớ làm gì mà nói hoài vậy?
-
Chớ rồi tối nay lấy cái gì ra mà
nấu canh chua đây? Cá chưa câu được con nào mà đã lấy
cell phone gọi lấy gọi để, rủ cả đống bạn tới … thử
chơi. Không lẽ tui cứ phải đi cầm quần, cầm áo để mua
mồi cho mấy người nhậu hoài vậy sao?
Coi: tui làm xẩy có một con cá chép
chừng vài ba kýù (thứ cá này hồ Xuân Hương ở Ðà Lạt
thiếu mẹ gì) mà vợ tui nói hành, nói tỏi đủ chuyện như
vậy đó. Nó còn nói nhiều điều tàn tệ khác nữa nhưng
tui thấy mắc cở quá nên không muốn ghi lại ở đây.
-
Nam vô tửu như kỳ vô phong mà honey,
em nói hoài nghe nhức đầu quá hà.
-
Xí, hồi ruợu vào lời ra, cả đám
dành nhau nói, ca hát um xùm, ói mửa tùm lum sao không nghe than
nhức đầu?
-
Không có đủ thiếu gì hết trơn á.
Tui có miệng tui cứ nói …
Tui sẽ la lên cho cả nước biết anh
là cái thằng …
Ðúng lúc đó thì Alexander Yersin
xuất hiện. Nói tình ngay thì nhờ chúng tôi lớn tiếng nên
ông ta đã khám phá ra được Ðà Lạt ngay vào bữa đó;nếu
không, chắc cũng còn lâu hoặc (rất) có thể là không bao
giờ cả.
Sau bữa đó chúng tôi ly dị. Tôi
không thể chấp nhận ở chung với một người đàn bà mà
phu xướng phụ (nhất định) không tùy như vậy, và nàng cũng
cương quyết (thôi) không chịu sống với một "thằng đàn
ông độc tài, vũ phu, thô
lỗ, vô học, khốn nạn, làm tình
và làm tiền đều dở, câu cá cũng dở khẹc" nên chúng tôi
(đành) chia tay - vĩnh viễn. Ðường ai nấy đi. Nàng bỏ đi
đâu tôi không biết, và cũng không cần biết làm chi. Phần
tôi, vì cũng hơi bị buồn nên đã bỏ Ðà Lạt mà đi biệt
xứ.
Từ cái lúc kêu bằng "bữa đó"
đến nay, cả đống nước sông cũng như nước suối (cùng
vô số nước mắt, nước
mưa…) đã ào ào chẩy qua cầu
và qua cống. Người ta không bao giờ tắm hai lần trong cùng
một dòng sông.
Tôi bây giờ tóc đã bạc, mắt
đã mờ, làm tình và làm tiền - cũng như câu cá - vẫn cứ
dở y như khi còn trai trẻ nhưng tính tình thì khác xưa nhiều
lắm: ôn hoà, điềm đạm, nhã nhặn, bặt thiệp, dịu dàng,
trầm lắng hơn xưa, và đa cảm thì (kể như) hết biết.
Từ một góc trời xa, cách quê nhà
(dám) tới nửa vòng trái đất, mỗi chiều tôi đều hát nho
nhỏ bản Thuyền Viễn Xứ cho chính mình nghe ("Chiều
nay gửi đến quê xưa, bao là thương là nhớ cho vừa…") mà
lòng bồi hồi nhớ thương cảnh cũ, người xa quá đỗi. Ao
ước sao được trở về cố quận, thăm lại cố hương và
cố nhân một chuyến nhưng
(ngặt nỗi) không … tiền!
Vì "bức xúc" quá nên liều, lâu
lâu tôi vẫn gọi điện thoại về quê nhà để được nói
chuyện cù cưa, mưa nắng với bất
cứ ai. Người ở Việt Nam thường
rảnh, và ai nghe tôi kể lể tình cảnh tha hương cũng đều
thương hại nên sẵn sàng tiếp chuyện - ngắn hay dài thì
tùy vào lòng hảo tâm của người đối thoại. Có bữa, tôi
gặp một nhân vật tên Nguyễn Xuân Tụ. Ổng tự giới thiệu
mình là một người cầm viết. Kiếm chuyện làm quà, tôi
nói đại:
-
Tôi "cũng" là một người cầm viết
(luôn) đó nha.
Sau đó, ông Tụ thêm rằng ông ấy
là dân Ðà Lạt.
-
Thế ông đến Ðà Lạt năm nào ạ?
-
Tôi vào đây mãi từ những năm 1980
cơ đấy…
Tôi cười mũi. Ðến như Alexander Yersin
mà còn đến Ðà Lạt sau tui cả tỉ năm thì cỡ Nguyễn Xuân
Tụ kể như là đồ bỏ. Tôi bỏ qua cho ông ta chuyện này,
chuyện giả dạng làm dân Ðà Lạt vì chính tôi cũng vừa
giả dạng là người cầm viết - mới cách đây mấy phút.
Câu chuyện giữa chúng tôi lại tiếp tục như sau:
-
Thế trước khi vào Ðà Lạt thì ông
ở đâu?
-
Hà Nội.
-
Cán bộ à?
-
Vâng.
Thôi bỏ mẹ, tôi nhủ thầm, dám thằng
chả đang ngồi ở phòng khách nhà mình
lắm à nha. Cái gì chứ cán bộ
từ ngoài Bắc vào công tác, và ở luôn trong nhà của người
dân trong Nam là chuyện (thường ngày) vẫn xẩy ra ở huyện.
Tôi nói mát:
-
Cán bộ thì nhất ông rồi. Tha hồ
mà sung sướng, nhàcao, cửa rộng ….
Tôi nghe bên kia đầu giây có tiếng
thở dài, dù rất khẽ:
-
Nhưng tôi nghỉ hưu lâu rồi, họ cho
tôi về hưu non. Hiện phải sống nhờ vợ, bà ấy buôn bán
quàng qué, miếng ăn còn không có nói chi đến nhà ở.
-
Ối, sao lại đến nỗi "thê thảm"
thế ạ? Ông có vi phạm kỷ luật tham ô hay móc ngoặc gì
chăng?
-
Không tôi chỉ có mỗi cái tội là
không thể "tảng lờ, dấm dúi trong xó kiếm ăn một mình"
giữa cảnh xã hội nhiễu nhương nên đã "đứng ra giữa nơi
sáng sủa, nghiêm túc nói rõ ý kiến của mình với sự huy
động cao nhất của ý thức trách nhiệm và trí tuệ" - thế
thôi.
Chả nói cái gì mà nghe thấy ghê dữ
vậy, Trời? Tôi liên tưởng ngay đến Nguyễn Mạnh Tường,
Nguyễn Hữu Ðang, Nguyễn Thị Thanh Xuân … - và cả đống
những ông, những bà họ Nguyễn khác đã (hoặc đang) khốn
khổ, khốn nạn chỉ vì cái quan niệm sống "tào lao" tương
tự - mà sinh lòng ái ngại:
-
Ngoài chuyện về hưu non, ông còn có
bị lôi thôi phiền phức gì nữa không?
-
Thỉnh thoảng họ vẫn bồi thêm vài
trò tiểu nhân và bẩn thỉu khác nữa nhưng cũng không đến
nỗi nào.
-
Tôi sợ là "chưa" chứ chả phải là
"không" đâu, ông ạ. Ông cứ nên cẩn thận là hơn. Tránh
voi chả xấu mặt nào. Mà chính voi nghe dến chuyện đi cải
tạo cũng phải co vòi, sợ bỏ mẹ đi ấy chứ.
-
Chắc ông rời VN đã lâu nên không
nắm được tình hình. Bỉ nhất thời giả. Thử nhất thời
giả. Cộng sản bây giờ không còn phải là cái thứ cộng
sản thời Cải Cách Ruộng Ðất hay Nhân Văn Giai Phẩm nữa
đâu.
-
Sao bỗng dưng họ lại … "hiền" thế
ạ.
-
Vì họ muốn dữ cũng không được
nữa. Chả qua là vấn đề qui luật.
Quy luật là sự ràng
buộc vô hình nhưng không cho ai trốn thoát (nên mới thành
qui luật), không cho ai ‘ăn gian’" - thế thôi.
Nói "thế thôi" sợ cái đầu bò của
tôi không vỡ, ông ấy kể luôn một câu chuyện nữa, chuyện
tiếu lâm, "về cái logic của qui luật" - như sau:
"Một anh chồng nọ nói khoác với
vợ về một con rắn khổng lồ mà anh ta đã đo được bề
dài chừng ấy, bề rộng chừng ấy hẳn hoi. Chị vợ biết
chồng nói khoác bèn cứ lấy cái lẽ của đời thường mà
‘tấn công’ vào chiều dài của con rắn. Anh chồng buộc
phải lùi một bước, một bước, rồi lại một bước nữa,
lùi mãi để con rắn ngắn bớt dần đi cho đỡ chướng. Mỗi
lần bị tấn công anh ta lùi một chút, và lại cố tình nói
cứng như đinh đóng cột, với hy vọng vợ sẽ chấp nhận
cho. Nhưng đâu có được, cái "logic" của qui luật cứ phải
chạy tiếp cho tới khi con rắn nói khoác phải vuông chành
chạnh mới hết chuyện được."
"Nghe chuyện Con rắn vuông
ấy mẹ tôi, lúc còn sinh thời, chỉ ‘bình’ một câu: Thật
rõ khổ cái anh chàng ‘cố đấm ăn xôi’, biết vợ không
tin rồi thì cứ nhận luôn một câu rằng:’Ừ thì tôi cũng
nói khoác với u nó một tí có phải yên chuyện không?"
("Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Của Một Công
Dân." Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho
Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1
năm 96, trang 88).
Cái anh chàng "cố đấm ăn xôi" trong
câu chuyện vừa kể, cũng như những anh chàng "cố đấm ăn
xôi" ở làng Ba Ðình (Hà Nội) bây giờ, quả là đã lâm vào
tình cảnh lúng túng và "rõ khổ" - như nhau. Quen thói khoác
lác, cứ mở miệng ra là huyênh hoang rằng ta dân chủ của
gấp trăm lần thiên hạ … Ðến khi bị dân chúng dùng cái
lý lẽ của đời thường mà tấn công vào nền dân chủ giả
hiệu đó thì họ … đành lùi, và cứ phải lùi dần như
thế.
Những bản án nhẹ (như bông) mà
các "toà án nhân dân" dành cho Trần Khuê, Trần Dũng Tiến,
Phạm Quế Dương … - trong thời gian vừa qua - phải được
coi là những bước lùi đáng kể ("và rất đáng khích lệ")
của nhà nước CHXHCNVN.
Tuy nhiên bước lùi ngoạn mục nhất
(và rõ nhất) trong tiến trình - nhất định phải lùi - này
được nhìn thấy qua vụ án Nguyễn Hồng Quang. Báo Thanh Niên
số ra ngày 13 tháng 11 năm 2004, với tiêu đề "Chống Người
Thi Hành Công Vụ Bị Phạt 3 Năm Tù", đã tường thuật sự
việc như sau:
" Theo cáo trạng, vào khoảng
15 giờ 30 ngày 2 tháng 3 năm 2004, khi đi ngang qua quán nước
mía tại số nhà C5/1 Trần Não, P. Bình Khánh, Q.2 và thấy
hai anh Phạm Văn Ninh, Võ Minh Phương đang ngồi uống nước,
Nguyễn Hồng Quang cho rằng hai người này đang "theo dõi" mình
nên bảo Phạm Ngọc Thạch (cùng đi với Quang) dừng xe lại
để ghi biển số xe của họ, sau đó gọi đồng bọn đến
hổ trợ gây sự với hai anh. Bị nhóm Quang rút chìa khoá và
giữ xe máy, hai anh Phương và Ninh phải chạy bộ đến Công
an P. Bình Khanh trình báo sự việc. Khi lực lượng công an
phường xuống lập biên bản, mời tất cả về trụ sở làm
việc thì nhóm của Quang chống đối quyết liệt, cản trở
không cho công an mang xe đi, có lời lẽ xúc phạm đến cán
bộ làm nhiệm vụ. Ðếm 18 giờ cùng ngày, cùng với sự hổ
trợ tích cực của quần chúng, công an mới đưa được xe
của hai anh Phương và Ninh về phường giải quyết. Nguyễn
Hồng Quang và đồng bọn đã bị khởi tố về tội chống
người thi hành công vụ … Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo
đã thành khẩn khai nhận, toà tuyên phạt Nguyễn Hồng Quang
3 năm tù giam, 5 bị cáo còn lại bị phạt từ 9 tháng đến
2 năm tù."
Báùo Thanh Niên, cũng như hàng
chục tờ báo mẹ ruợt tương tự ở Việt Nam, đã copy từ
bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam để làm ra (cái gọi là)
"bài tường thuật" - như vừa dẫn. Và TTXVN thì in nguyên văn
bản tin theo bản cáo trạng của Viện Kiểm Soát Nhân Dân
TP. Hồ Chí Minh (do phó viện trưởng Phạm Văn Gòn ký ngày
12 tháng 10 năm 2004).
Và cứ theo như bản cáo trạng này
thì "Nguyễn Hồng Quang và đồng bọn" quả là … tệ thiệt
và tệ lắm lận. Sống trong một xã hội công an trị thì
bị theo dõi kể như là chuyện tất nhiên và là chuyện nhỏ.
Thế mà họ (dám) mắng mỏ và làm dữ với những nguời đi
theo dõi mình đến độ công an phải can thiệp (cùng với sự
hổ trợ tích cực của quần chúng như thế) như thế thì
thật là quá quắt.
Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, vấn đề
còn có thể tệ hại hơn thế nếu Viện Kiểm Sát Nhân Dân
"bào chế" ra một bản cáo trạng khác (nặng nề và nghiêm
trọng hơn nhiều) để tuyên phạt mục sư Nguyễn Hồng Quang
- như họ đã từng làm, cách đây chưa lâu, với một công
dân khác: ông Nguyễn Khắc Toàn.
Nguyễn Hồng Quang và Nguyễn Khắc
Toàn nếu không cùng tuổi thì có lẽ cũng suýt xoát tuổi
nhau. Họ đều là những công dân ưu tú của đất nước.
Luơng tri đã không cho phép cả hai "tảng lờ, dấm dúi trong
xó kiếm ăn một mình" trong cảnh nước đục béo cò – như
hiện cảnh. Họ đã buộc phải"đứng ra giữa nơi sáng sủa,
nghiêm túc nói rõ ý kiến của mình với sự huy động cao
nhất của ý thức trách nhiệm và trí tuệ" ("Ðôi Ðiều Suy
Nghĩ Của Một Công Dân."
Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. sđd,
trang 46).
Chung cuộc cả hai đều bị bắt
và bị đưa ra xét xử nhưng bằng hai bản án khác hẳn nhau
về tội danh cũng như mức độ xử phạt. Ngày 20 tháng 12
năm 2002, nhà đương cuộc Hà Nội đã tuyên xử ông Nguyễn
Khăc Toàn mười hai năm tù và ba năm quản chế với tội danh
… gián điệp.
Chưa đến hai năm sau, chỉ nhờ
vào thái độ "thành khẩn khai nhận" nên toà chỉ tuyên phạt
Nguyễn Hồng Quang và những tín hữu của ông từ vài tháng
đến ba năm tù giam - với những tội danh nhẹ nhàng, vu vơ
và … dễ nghe hơn nhiều.
Sao chỉ cách nhau chưa đến hai năm
mà người CSVN đã chịu đi hia bẩy dặm, và chịu lùi một
bước dài (thoòng) như thế? Theo ông Nguyễn Xuân Tụ thì đây
chỉ là vấn đề qui luật. Họ không lùi không được. Một
số nhân sĩ khác có cách nhìn vấn đề hơi khác.
Khi bàn về "Pháp lệnh Tín ngưỡng,
Tôn giáo (do Ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 18 tháng
6 năm 2004 và có hiệu lực ngày 15 tháng 11 năm 2004) Trần Ngọc
Báu, Trần Ngọc Vân, Vũ Quốc Dụng và Ðỗ Mạnh Triï có
nhận xét là "nếu đi vào nội dung thì ta có thể tóm tắt
một cách chính xác như sau:"tất cả những gì liên quan đến
tôn giáo phải được Ðảng cho phép. Và những gì Ðảng không
cho phép đều bị cấm hết. Bằng chứng là cách định nghĩa
tôn giáo của Pháp lệnh, nơi điều 3, khoản 3:’Tổ chức
tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống
giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu
nhất định được Nhà nước công nhận.’"
Cà cuống chết đến đít vẫn còn
cay. CSVN vẫn chưa bỏ được cái thói khoác lác (theo kiểu
con rắn vuông) cố hữu. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết thì
pháp lệnh này (rõ ràng) biết điều hơn. Ðiều 38 qui định
như sau ":trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc gia nhập có
qui định khác với qui định của Pháp lệnh này thì thực
hiện theo qui định của điều ước quôc tế đó."
Về điều này những nhân vật kể
trên đã mai mỉa rằng:"Gọt dũa chân người cho vừa với
đôi giầy của mình mãi rồi cũng có lúc phải sửa đổi
đôi giầy của mình cho vừa với chân thiên hạ. Chiếu theo
điều 38 này thì toàn bộ Pháp lệnh phải vất vào sọt rác"
("Một Pháp Lệnh Về Tôn Giáo, Tại Sao?". Viễn Tượng
Nov. 2004: 74-79).
Mỉa mai như thế không có gì là
sai nhưng tôi e chưa đủ (và chưa … đã)! Ðiều 38 của bản
pháp lệnh (thượng dẫn) chứng tỏ rằng người Cộng Sản
Việt Nam đã bắt đầu (lờ mờ) hiểu ra thế nào là sự
"ràng buộc của qui luật". Họ tuy chậm hiểu nhưng đã hiểu,
và sẽ hiểu mỗi lúc một tường tận hơn rằng "qui luật
là sự ràng buộc vô hình nhưng không cho ai trốn thoát và
không cho ai ăn gian".
Trong tuơng lai gần, không chỉ toàn
bộ "Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo" mà cả đống những
thứ pháp lệnh rừng rú khác nữa của nước CHXHCNVN cũng
đều sẽ phải vứt vào thùng rác. Cùng lúc, sẽ còn nhiều
bước lùi ngoạn mục khác nữa, lùi cho đến khi nào "con rắn
nói khoác phải vuông chành chạnh mới hết chuyện được".
Từ đây đến đó, với nội tình be bét như hiện tại ở
cung đình Hà Nội, tôi nghĩ rằng thời gian sẽ không dài hơn
bản án (ngắn ngủi) mà nhà đuơng cuộc Hà Nội vừa dành
cho mục sư Nguyễn Hồng Quang.
K Tien
|