Lê
Chí Quang Và Một Bầy Cò Giả
Cò
là một loài chim mỏ, cổ và
cẳng đều dài - sống bằng
tép, hến, ốc cá... - thường
quanh quẩn nơi ao hồ hay sông rạch. Cò
cũng là tên gọi của một giới
người, mới xuất hiện ở
Việt Nam, chuyên lo việc môi giới
dịch vụ - như cò máu, cò bệnh,
cò mả, cò nhà, cò việc...
Trong một xã hội
bình thường thì cò nhà
chính là những người hành
nghề địa ốc, cò việc
là những chuyên viên tìm kiếm
và giới thiệu việc làm, cò
mả là những nhân viên làm
việc trong những nghi táng gia (chuyên
lo việc hỏa táng hay chôn cất), và
cò
bệnh là những cán sự
xã hội (có nhiệm vụ giới
thiệu khách hàng đến những
cơ quan y tế thích hợp, khi họ có
bệnh và cần chữa trị)... Tất
cả những công việc này đều
cần thiết, hữu ích và được
quí trọng.
Ðiều không
may cho giới cò ở Việt Nam là
họ sinh sống trong một môi trường
xã hội rất không bình thường
nên bị gọi một cách khinh miệt
là "cò" và luôn luôn phải
hành sử rất bất thường,
cứ y như những kẻ gian manh - lúc
nào cũng thậm thụt lấm lét
tựa những tên ma cô dắt mối,
hay những người buôn bán
ma túy - nơi đầu đường
xó chợ.
Tệ hơn thế,
khi chứng kiến cảnh của những
ông bà cò máu cò kè với
những thân chủ ốm o tiều tụy
- đang xếp hàng chờ bán máu-
người ta dễ liên tưởng
đến một bầy kên kên, lượn
vòng trên những thân người
(thoi thóp) nằm chờ chết.
Cò, tất nhiên,
không phải là nguyên nhân của
những tệ trạng xã hội. Họ
cũng là nạn nhân như bao lương
dân khác. Túng thì phải tính,
bần cùng sinh đạo tặc, thế thôi.
Sự bất hạnh của giới người
làm cò (nghĩ cho cùng) chỉ là
chuyện nhỏ, và chuyện rất thường,
ở Việt Nam - nơi đây, cả
một dân tộc đang bị vùi dập
và chà đạp chứ đâu
có riêng chi một giới người
nào.
Ðiều cần
nói là, ở xứ sở
này, bên cạnh cò thật còn có
thêm vô số những con cò … giả
nữa - loại cò chuyên cung cấp
những dịch vụ mà người
ta thực sự không cần. Nói
cách khác, họ tạo ra nhu cầu giả
và dùng mánh khóe hay bạo lực
bắt mọi người phải "tiêu
dùng"! Chính loại cò giả này
mới là thủ phạm của tội
ác, đáng bị chỉ tên và
kết án.
Thí dụ như cò
heo, chả hạn. Loại cò này chỉ
xuất hiện ở thôn quê, nơi
những nông dân chất phác thường
mua bán lợn. Ðây là một
dịch vụ đơn giản, trong những
phiên chợ ở làng quê, không
cần đến trung gian môi giới.
Tuy thế, cò vẫn cứ xuất hiện
như thường. Họ có mặt một
cách hoàn toàn không cần thiết
và hành sử vô cùng ngang ngược,
theo như tường thuật của bài
báo được trích dẫn – như
sau:
"Hầu như vùng
nông thôn nào cũng có cò
heo, nhưng ở phạm vi bài này, chúng
tôi chỉ khoanh gọn đội quân cò
heo ở huyện Trực Ninh - một huyện
phía Nam của tỉnh Nam Ðịnh. Ðội
quân này có khoảng 50 người
được phân bố rải rác
ở tất cả các chợ có
heo bán như Cát Thành, Trực Tuấn,
Trực Bình, Liêm Hải, Phương
Ðịnh... "
"Ðể sống
được, ngoài phương thức
cổ điển là dựng vai mồi,
đưa người mua vào bẫy, đám
cò lợn còn tiến hành kinh doanh
lợn. Nói như các cụ thì chợ
chưa họp kẻ cắp đã đến.
Các cò lợn cũng vậy. Mỗi
khi đến phiên chợ, họ đến
rất sớm để gặp khách
nào có ổ lợn mà xem ra lớ
ngớ thì cò lợn xúm đến
tranh mua. Thường thì họ trả rất
rẻ, chê bủng chê beo, nhấc lên
bỏ xuống chán chê "
"Nếu có ai khác
cố tình mua và chủ lợn cố
tình bán thì các cò lợn
sẵn sàng chơi luật rừng ngay, không
thì họ cũng giằng co cho đến
lúc con lợn gẫy chân. Vì vậy
trước sau cò lợn cũng mua
được ổ lợn (hay con lợn).
Rồi chẳng cần xách đi đâu,
họ ngồi luôn xuống tại chỗ để
bán lại. Gặp hôm nào lợn
ít họ lãi gấp đôi, còn
bình thường họ lãi gấp
rưỡi, ít khi bị hòa vốn."
"Nạn cò lợn
ở các xã có chợ lợn
ở huyện Trực Ninh xuất hiện
cách đây 15-16 năm. Càng ngày
nó càng phát triển. Nó không
những không đem lại lợi ích
gì cho bà con nông dân mà còn
gây nhiều khốn khó cực lòng.
Không ít người đã từng
nhăn mặt méo mồm với đám
quân cò lợn bất trị chuyên
lừa lọc này ("Cò Heo," Sống
Mới, 01 Mar . 2002:27).
Chuyện lừa lọc
của đám cò giả, như cò
lợn, tại huyện Trực Ninh (thực
ra) không có gì mới mẻ - và
chỉ là chuyện nhỏ, của lũ cò
con,
tại thôn quê. Ở tầm mức
quốc gia, nước Việt còn nhiều
thứ cò giả khác nữa -
"vĩ đại" hơn nhiều. Xin nói qua
về một vài loại cò tiêu biểu,
thuộc thể loại này.
Trước hết
là cò chiến. Sau Thế Chiến Thứ
Hai, khi phong trào giải thực lan rộng
trên toàn cầu (và việc trao trả
độc lập cho những quốc gia bị
trị trở thành một xu hướng
không thể đảo ngược ở
khắp mọi nơi) thì đám cò
chiến ở Việt Nam vẫn cố tạo
ra một cuộc chiến "đánh đuổi
thực dân để dành độc
lập". Sau đó, họ tiến hành một
cuộc chiến tranh chống xâm lược
(giả) bằng cách bắt ép nửa
phần dân tộc Việt đi chém giết
nửa phần còn lại. Trong cả hai
cuộc chiến (rất) "thần thánh" và
(hoàn toàn) không cần thiết đó,
đám cò giả đều thắng
lợi một cách vẻ vang. Chỉ có
những kẻ bị bắt ép hay bị
lừa gạt phải lao vào lửa
đạn, và thân nhân của họ,
là đại bại.
Dù đã thua
te tua, và thua thê thảm như thế (liên
tiếp mấy thế hệ người),
dân chúng vẫn chưa được
để yên. Sau năm 1975, ở Việt
Nam bỗng xuất hiện một loại cò
giả khác - gọi là cò người.
Nếu "cò heo ở Trực Ninh kinh doanh
lợn" (như nguyên văn của bài
báo dẫn thượng) thì cò
người bán buôn người.
Ðám cò giả ở làng Ba
Ðình (Hà Nội) tạo ra đủ
thứ áp lực khắc nghiệt khiến
cho vô số người Việt phải
bỏ nước ra đi, rồi chính
họ đứng ra "bán vé" cho những
chuyến đi nát lòng và hãi
hùng này.
Vấn đề này
đã được Bùi Tín nhắc
lại (trên tạp chí Cánh Én, số
Xuân Kỷ Mão, phát hành tại
Ðức Quốc, tháng 2 năm 1999)
qua bài báo "Hai Câu Hỏi Cần Trả
Lời Rõ Ràng Khi Thế kỷ 20
Khép Lại". Một trong hai câu hỏi này,
được đặt ra cho ông Phạm
Văn Ðồng (một "ông cò"), nguyên
văn như sau:" Xin thủ tướng cho
biết ý kiến về sự kiện
thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi
1978, 1979...Về nguyên nhân và trách
nhiệm trong những sự kiện ấy,
với những hiện tượng
bán bãi thu vàng và khá nhiều
tầu, thuyền bị hải tặc bão
tố và chìm trong đại dương...Là
người đứng đầu chính
phủ, một trong những người
lãnh đạo cao nhất của đảng
cộng sản, thủ tướng nhìn
nhận ra sao trách nhiệm của mình trong
cuộc di dân rộng lớn và bi thảm
ấy ?"
Mô tả chuyện
"bán bãi thu vàng", đẩy vài
triệu người dân vào tay "hải
tặc" và "bão tố" … là một "cuộc
di dân rộng lớn" thì quả là
một cách nói hết sức nhẫn
nhịn (với tinh thần tự chế
rất cao) của nhà văn Bùi Tín.
Không phải ai cũng giữ được
bình tĩnh và có lối diễn
tả sự uất hận một cách nhã
nhặn và ôn hòa như thế. Mới
đây (vào ngày 1 tháng 10 năm
2001), một người dân Việt khác,
với một thái độ khác,
đã đặt ra một vấn đề
khác với đám cò giả
- như sau:''Việt Nam trong con mắt Trung Quốc
là một miếng mồi ngon có vị
trí chiến lược về địa
lý, chính trị, lại là miếng
mồi dễ nuốt nhất vì được
sự hậu thuẫn của các thế
lực đen tối, bảo thủ và
tay sai luồn sâu leo cao trong bộ máy nhà
nước "[Lê Chí Quang, "Hãy
Cảnh Giác Với Bắc Triều,"
Giai
Phẩm Thời Luận, Xuân Tân Ngọ
(2002):20].
Cái "thế lực
đen tối, bảo thủ và tay sai" mà
ông Lê Chí Quang vừa đề
cập đến chính là đám
cò giả, có tên là cò đất
ở Việt Nam - bây giờ. Khi khổng
khi không, dù chả có ai nhờ,
họ vẫn ngang nhiên thay mặt dân tộc
Việt làm trung gian để đất bán
cho lân bang - Trung Cộng.
Chuyện đám
cò giả ở Việt Nam đeo mặt
nạ "cách mạng"- từ hơn nửa
thế kỷ nay - nhiều người đã
biết, và cũng không ít người
đã lên tiếng xa gần (bóng
gió) nói đến điều này.
Chỉ riêng ông Lê Chí Quang thì
khác. Ông ấy không nói bóng
gió, cũng chả ám chỉ xa gần
gì ráo mà chỉ giật mặt nạ
của bọn họ ra rồi ném xuống
đất - thế thôi.
Nếu bọn cò
lợn ở huyện Trực Quang "sẵn
sàng chơi luật rừng ngay" (theo như
nguyên văn bài báo về "Cò
Heo", như đã dẫn) thì bọn cò
đất ở làng Ba Ðình Hà
Nội cũng sẵn sàng sử dụng
bạo lực - khi cần . Ông Lê Chí
Quang đã bị bắt giữ, vào
ngày 22 tháng 02 năm 2002 vừa qua.
Nhiều người tỏ ý lo âu
cho sự an nguy của ông ta. Tôi thì
e rằng sự âu lo này (hoàn toàn)
không chính đáng. Khi mặt nạ của
đám cò giả ở Việt Nam
đã rớt thì vở kịch
cách mạng cũng đã đến
lúc hạ màn. Chấm hết.
Tưởng Năng
Tiến
|