Ðêm
Cao Miên
Ðường đời muôn vạn nẻo
Ðâu nẻo về quê hương?
Giao Chỉ
Lời thưa đầu: cách đây đúng
13 năm, vào tháng 7 năm 88, người viết theo chân một
đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea
để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giưã
vùng biên giới Thái – Miên. Mới đây, vào ngày 20 tháng 7
năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là Võ Hoàng)
đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức
thừa nhận là đã «hy sinh» nhưng «vì hoàn cảnh» họ
đã «không thể thông báo sớm hơn»! Bút ký ngắn ngủi
này xin được phổ biến như một nén hương lòng
(muộn màng) để gửi đến những người đã khuất. tnt
Khi chúng tôi bước chân vào được
đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt
nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây
vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ
đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi
không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom
đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu,
mảnh đất khô cằn nắng hạn này lạI là nơi giao tranh bằng
chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.
Dư vị của chiến chinh chỉ còn
cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa
rình
rập trên từng tấc đất. Tôi
được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng
vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường
mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào
cũng có thể là nơi ẩn mình của "mìn hộp gỗ" - một loại
mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu
nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước
dẵm nhầm phải nó.
Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn
đuợc gọi đùa là "sân banh cộng sản". Lý do: người ta
ước tính rằng cứ mỗi lần
nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh
đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất
cũng phải có vài trăm cặp giò của "cầu thủ bộ đội"
phải để lại nơi đây. Ðó cũng là lý do tại sao vừa
bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửI thấy ngay
mùi tử khí.
Bất giác tôi quay nhìn về đất
Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách
nhau có một lằn ranh định mệnh
nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên - Thái hoàn
toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn,
và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại
cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng
cụt, nhãn, mít... Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ
đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong
tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị P.T.T.T. :"... vườn
ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt
đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những
tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt
nước..."
Không hiểu những người dân Thái
đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn
đơn sơ của họ - với khoảnh
sân đầy cây ăn trái, với "những mương tôm đầy tăm mặt
nước... – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ,
hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người
Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên
láng giềng không ?
Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên
- tất nhiên - khó có thể giải thích được đơn thuần
bằng lý do địa dư hay khí hậu.
Ðiều "kỳ diệu" là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer
Ðỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những
lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập
luận của họ hoàn toàn dị biệt và - đôi lúc - tương phản
với nhau rõ rệt.
Theo đài phát thanh thứ nhất thì
thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho
dân tộc Cao Miên chính là bọn
khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền
Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm
gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập
đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Sô.
Thêm vào đó là những thông báo
về những chiến tích quân sự "không thể nào tin nổi" của
cả đôi bên, cùng với những lời
lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà
Hà Nội và Khmer Ðỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau
đôi ba lần trong một ngày. Ðiểm tương đồng duy nhất của
cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà
Nội và Khmer Ðỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện
căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt
dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa
cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường
là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển
hình.
Ðơn vị được lệnh dừng chân.
Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ,
tay
vẫn lăm lăm cầm chặt súng.
Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy
đoàn quân quay lại nói nhỏ:
- Ðây là bộ chhỉ
huy tiền phương của sư đoàn... thuộc lực lượng Para (Son
Sann).
Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt
tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình
dưới những bụi tre già. Ngoài
cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công
sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một
căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn
là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.
Ðọc được sự kinh ngạc qua ánh
mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:
- Bên Thái đã nhiều chuyện
lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi
ông sẽ thấy.
Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ
sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là
trông vô
cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt
và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và
đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi
di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe
hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện
nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có
vỏ.
Ðể che dấu cái mặc cảm này,
tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt "tỉnh như ruồi" cùng
với thái độ "ai tới đâu tui tới đó" và "muốn tới đâu
thì tới". Hiện tại thì tôi đã "tới" Cao Miên và đây
còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm
soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ
còn đi thêm bao xa nữa ? Tôi vẫn giữ lập trường "ai
tới đâu tui tới đó" nhưng hình như đôi chân của tôi thì
không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng…
Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với
hai kháng chiến quân Kampuchea có nhiệm vụ dẫn đường, đi
vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ
tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng
tôi, nói lớn:
- Ðêm nay ngủ tại chùa. Di
chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời
tối.
Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật
thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo
âu
bâng quơ. Chậm lắm thì chừng
hơn một giờ nữa thôi trời sẽ tối. Khác với bóng tối
đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắn chắn
phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.
Trái với tâm trạng bất an
của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng
buột
miệng nói sung sướng như reo:
- Bên chùa có chợ. Giờ này
dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá,
anh ơi.
Ðất Cao Miên quả có nhiều chuyện
lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên
hệ gì với nhau, theo như tôi biết.
Sao lại có chuyện "bên chùa có chợ" được kìa ? Tôi
càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người
bạn nhỏ khi nói đến hai chữ "nước đá". Tôi ngắm
kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu
lảng xẹc:
- Em sinh năm mấy ?
- 68.
- Như vậy là em vư;øa đúng
hai mươi há ?
- Dạ, tháng tớ;i anh.
Em trả lời với đôi mắt sáng
và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng.
Ôi
chao cái tuổi hai mươi! Tôi
bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ
nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà ? Nó mới vừa còn
loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như
mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã
hai mươi năm trước.
Lúc bằng y chang tuổi của chú em
đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến.
Có
điều là tôi chả bao giờ trông
vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là
hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc
nóng bỏng và nắng cháy như thế này ? Nhu cầu của tôi
thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha.
Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia
ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục
nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.
Toán quân đã bắt đầu di chuyển.
Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người,
cắt đứt những hoài niệm vu vơ.
Ði loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn
mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy
ngôi chùa.
Bắt đầu là sân chùa lát đá với
cái được gọi là "chợ trời" nằm chình ình trên đó. Thực
tại
vốn phong phú, da dạng và ... lộn
xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng
giớI hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ "chợ", chỉ thêm
được chữ "trời", để mô tả một cách gắng gượng về
cảnh ‘thị tứ’ nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết
này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông
độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy
bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn
chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và...chấm hết!
Câu "trăm người bán vạn người
mua" xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ
mini màtôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên. Tôi đếm
được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua.
Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann
đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng
phần "tham quan" hơn là có ý định mua bán thật.
Sự xuất hiện bất ngờ của chúng
tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên
đôi chút, chứ không gây nổi chút
xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì
tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt
nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng
đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc
lá...đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến
từ một thế giới văn minh an bình nào đó.
Sau khi biết chắc là người ta có
bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai
"lemonade" với thật nhiều đá.
Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì
em lại tỏ vẻ chần chừ:
- Mà đều họ bbán mắc lắm
anh ơi.
- Mắc là bao nhiêu ?
Em quay sang hỏi người bán hàng,
chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời
tôi
buồn bã:
- Nếu trả bằng tie&àn Thái
thì tới mười hai "baht" lận. Mắc gấp đôi bên kia.
Mười hai đồng tiền Thái chỉ
cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường
Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền "tical" mà chưa
dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em...tắm
bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống.
Tôi cười hào sảng:
- Cứ mua uống đe;i em. Uống tới mệt thì thôi.
Anh có tiền đây mà.
- Ðể em xin phép đã.
Tôi chợt nhận ra một điều nữa.
Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu
nào
riêng tư cả. Họ sống chết bên
nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tấ cả những
ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình. Hiểu như
thế nên tôi nói vội:
- Ðể anh xin phép chho.
Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm,
trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi
người dùng một chai nước ngọt.
Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip
mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.
Rồi chúng tôi tiến vào chùa.
Vị sãi gìa, một ông sư Cao Miên cỡ chừng một trăm tuổi
hay có thể là hơn thế nữa - người đầy vết xâm trên da
thịt nhăn nheo răn rúm - run rẩy đứng nhìn toán quân với
đôi mắt ưu phiền và ái ngại.
Bên cạnh ông là hai vị sãi con,
tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và
gầy
gò y như sư phụ, và cũng nhìn
chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước
sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa
thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được
mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi
e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó
đã phát ngôn rằng "cửa thiền luôn rộng mở".
Khi đi qua mặt ba vị sãi hai người
cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên
trán, theo đúng như tập tục chào
hỏi của người...Thái. Tôi không tin là người Miên và người
Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc
làm theo y như mọi người cho nó...chắc ăn. Ba ông sãi
đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng.
Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ chứ
không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.
Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện
"xâm nhập chùa chiền" khi bước vào bên trong và nhìn thấy
cổng chùa đã xập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng
đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu
tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những
lùm cây rậm rạp lạI có một ngôi chùa.
Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích
được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần
một
khoảnh sân bằng đá bằng phẳng
để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây
có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài
mìn?
Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một
kháng chiến quân đứng gần giải thích:
- Hồi 85 tụi nó mangg tăng vô tới tận đây đó anh.
- T 54 hả ?
- Dạ.
- Thứ này tôi có biết. Ðại bác của nó không công phá dữ
dằn tới vậy đâu. Còn đại
liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì
được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.
- Tụi nó pháo mà.
- Em nói ai ? Tụi Khmeer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng
?
- Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào
cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình
nằm đây vững lắm.
Tôi gật đầu biểu đồng tình
cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao
giờ thấy "vững lắm" kể từ lúc xuống máy bay đến giờ,
dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.
- Ông vô trong này llễ Phật không ?
Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm,
tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi
nhỏ. Tôi gật đầu như máy
bước theo anh vào bên trong.
Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật
mà không khỏi sinh lòng … ái ngại. Vì nóc chùa đã
đổ nên
người ta che đỡ mấy liếp tranh
trên đầu cho ngài trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm
và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang
liêu cô tịch nơi đây tôi nghe rõ có tiếng ...muỗI vo ve!
Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi
chè, oản chuối...khiến Phật thêm buồn. Ðến như Phật
mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh
sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!
Chu đáo như một chính trị viên,
anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm
chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của
tôi được giải thích liền:
- Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp
lòng người dân địa phương là
mình phải tỏ ra là một Phật
tử thuần thành.
Sự thực thì anh bạn không chỉ
"tỏ ra" mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và
thành khẩn khi khấn vái. Sống
trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật,
Chúa, Thánh Thần...luôn luôn phải ở rất gần.
Bữa cơm chiều với thức ăn duy
nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm
thiết, và ngon miệng một cách
khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước
trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt
xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.
Ðược miễn gác nên tôi yên tâm
mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu
thuốc Thái Lan. Những tàn
lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời
đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Ðêm nhiệt đới dường
như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất
khác.
Nếu có dịp làm cố vấn cho những
công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách
điều này khi họ đến Cao Miên:
coi chừng tụi Khmer Ðỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực
lượng Khmer Ðỏ đang cố tạo một bộ mặt "hiền hậu" và
"dễ mến", bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành
hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa - cho nó chắn ăn.
Còn muỗi mòng ở Kampuchea thì có
thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi
vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi.
Ðã vậy, trong lúc ngủ tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny
lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong.
Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai
thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay...
Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích
cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến
nhỏ, tôi thấy năm bẩy người
ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn
về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc
là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng,
tôi lạI nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn
tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng
đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng "trời đất
ơi" đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận
ra được ngay là giọng nói của Thạch T.
Trong số những kháng chiến quân
Khrom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi
gần gũi với anh ta nhất.
Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần
khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần
đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, "những
chuyện tình không may", và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù
giọng nói của Thạch T. có "accent", tiếng Việt anh vô cùng
thông thạo.
Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm
nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung
quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi
tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi.
Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:
- Em tưởng anh mệtt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.
Tôi gật đầu chào mọi người,
rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:
- Muỗi quá há!
Rõ ràng là không ai quan tâm đến
chuyện "vu vơ" đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào
bao
thuốc lá Winston đang chuyền qua
tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi
người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều
mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi.
Anh cười thích thú nói:
- Em nói anh
từ Mỹ tới đây.
Giọng Thạch T. hãnh diện như thể
anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng
tôi
là bạn thân của anh, và tôi vừa
đến từ...một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu
từng người:
- Thằng này
là thaằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp
lại nó chiều nay thôi.
- Chào em.
Người cháu của Thạch T. lắc đầu
cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:
- Nó đẻ bên
Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới
biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một
chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính
cho Heng Samrin, mới đào ngũ thức thì.
Người thứ hai vừa được giới
thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh
nghiêm trang hỏI Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không
? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ
liếng thoắng giới thiệu tiếp:
- Còn thằng
này thhì ở bên Khmer đỏ. Cũng dào ngũ luôn.
Tôi suýt nhẩy nhổm người lên
như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim "The Killing
Field" bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ
đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn
cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng
đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt
bất cứ ai và...bóp cò cái bộp!
Tôi mở mắt thật lớn nhìn ,thoáng
một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn
nhiên của người đối diện.
Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành
và ngây thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt.
Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà
răng em trắng qúa, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể
tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê
hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành
kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn
"âm thầm" gửi đến em một lời xin lỗi.
Chúng ta đang sống trong một thế
giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của
nhau. Thực sự những người
đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến
quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao
Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu,may
cờ, vẽ vòng...rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này
hay phe nọ để cầm súng giết nhau.
Tình trạng ở quê hương tôi cũng
chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu,
là
Hoàng Hải, là Quốc...những người
trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giớI
thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi các
em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo
quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ
này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi
còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên
bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa
chọn "không" là bộ đội.
Chợt nhớ ra một điều quan trọng
khác, tôi vội hỏi trống không:
- Ở đây có
ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không ?
- Không.
Vậy chỉ thiếu có một nhân vật
nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả "đại diện"
của
những phe đang lâm chiến ở Cam
bốt rồi: Khmer Ðỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất
nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông
dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ
phía Heng Samrin trước:
-
Em ở với Hengg Samrin bao lâu rồi ?
-
Gần ba năm, tư&oslassh; hồi 1985 lận.
-
Sao bỏ đi ?
-
Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó
là "tay sai" của Việt Nam mà.
-
Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa ?
- Cực
lắm, chịu không nổi.
- Rồi hai em
có tínnh ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?
- Không, bên
Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống
lắm. Chắc tụI tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch
T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.
- Mấy em tính
đi Mỹ hả ?
- Nghe nói không cho &ntildde;i
Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó
nhốt luôn mà.
- Vậy vô đó làm
chi ?
- Chớ ở ngoài này
dễ chết quá mà không có ăn nữa.
- Mấy em có biết
llà Việt Cộng đã rút quân không ?
- Biết chớ
nhưnng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.
- Nếu không có bộ
đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được
Heng Samrin không ?
- Làm sao biết được
nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.
- Lính Heng Samrin
đánh giặc giỏi không ?
- Không giỏi đâu.
Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.
- Sao Khmer Ðỏ
lạI đánh giặc giỏi như vậy ?
- Cũng không giỏI
đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.
- Nếu bây giờ;
được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?
- Tụi tui trở về Biển
Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.
- Lấy vợ nữa chớ
?
- Cái đó phả;i
có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.
- Còn không về
được thì sao ?
- Cũng chưa biết
tính sao nữa ?
Tôi cố nén một tiếng thở dài
và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến tàn dần.
Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa
màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn
mặt mọI mgười trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng
Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói
ngái ngủ của một anh cán bộ:
- Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng,
còn lại thì ngủ đi. Mai đi "hóc" lắm chứ không phải
chơi đâu.
Ngọn nến tắt hẳn. Ðêm đen
thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong
bóng
tối, em nhỏ về từ phía Khmer
Ðỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó
nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:
- Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.
Nếu nói được ngôn ngữ của em,
có lẽ tôi sẽ trả lời rằng "tôi không sợ gì hết, chỉ
buồn
thôi." Lẫn trong tiếng pháo, tôi
chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc mới
canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì
hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở
hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.
Tưởng Năng Tiến
|