CHÀO
Y BION
If
we have no peace, it is because we have forgotten that we belong to each
other.
Mother Theresa
"Buôn đẹp như một bức tranh
với 36 mái nhà sàn xếp hàng đối xứng bên con đường đất
pha cát mịn màng. Bao quanh buôn là cánh rừng già kèm theo dẫy
núi Ch Pá... Bước đến Buôn Um là chạm vào chân rừng, gặp
không khí mát dịu, nghe tiếng chim lảnh lót ríu ran muôn điệu
và cả tiếng suối róc rách. Nhìn lên rừng xanh um, tầng tầng
lớp lớp thâm nghiêm. Nhìn xuống thung lũng cuối buôn thấy
mượt mà lúa nước... Buôn Um có từ lâu lắm rồi, từ thời
cây rừng trên núi Ch Pá mới to bằng thân người. Ðến giờ
cây đã to bằng năm, bằng bẩy thân người chập lại. Ở
đâu phá rừng làm nương làm rẫy, mặc họ, còn ở Buôn Um
dân làng từ thời trước cả thời ông bà, đến thời con
cháu bây giờ đã nói với nhau lời thề giữ cánh rừng nguyên
vẹn. Những khi cần đất làm rẫy, bà con chỉ dám đốt những
khoảnh đất cỏ tranh, vài đám rừng bụi lúp xúp..."
"Nhưng câu chuyện về cánh rừng
Buôn Um đã chuyển qua một hồi khác, với một số phận khác.
Ðó là năm 1999, cánh rừng Ch Pá đang yên ả, xe máy từ đâu
ầm ầm kéo tới. Xí nghiệp khai thác chế biến lâm
sản K. ủi đường vào rừng khai thác gỗ. Dân làng ngơ ngác..."
(http://www.vov.org.vn/2002_03_vietnamese/xahoi.htm).
Nạn lâm tặc, cướp rừng, không
chỉ xẩy ra ở Ch Pá. Người dân ở buôn Um cũng không phải
là những kẻ duy nhất bị bức hiếp và đẩy đến chân tường.
Con giun xéo mãi cũng oằn. Cuối cùng, vào tháng 2 năm 2001,
hàng vạn người dân miền núi đã phải đứng dậy bầy tỏ
thái độ bất bình của họ với nhà đương cuộc Hà Nội.
Thay vì xét lại chính sách hà khắc
cùng thái độ ngang ngược của mình, đảng Cộng Sản Việt
Nam (với bản chất hung ác và xấc xuợc cố hữu) đã đàn
áp, săn đuổi, bắt giữ và tra tấn nạn nhân. Những người
tham dự vào những cuộc biểu tình hồi tháng 02/01 bị "đấu
tố" bằng cách ép buộc đứng nhận tội trước làng và thề
sẽ thôi liên lạc với người bên ngoài cũng như sẽ từ
bỏ tôn giáo của mình [Villagers who had participated in the February
2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village
and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts
with outside groups, and renounce their religion – Vietnam’s
Repression of Montagnard (Human Rights Watch Press, New York, April 23,
2002]
Tình thế đã khiến cho nhiều người
phải bỏ chạy khỏi Việt Nam. Y Bion, một chàng trai trẻ của
núi rừng Cao Nguyên Trung Phần, đã lìa bỏ quê hương bản
làng trong hoàn cảnh đó. Y Bion cùng với 905 người khác nữa
(trong số này có một em bé mới sinh trên đường đi chuyển
từ trại tị nạn Mondokiri về Phnom Penh) đã được chấp
thuận định cư ở Hoa Kỳ.
Sau một thời gian bỡ ngỡ, rồi
(chắc)Y Bion cũng sẽ học được một cái nghề, kiếm được
một việc làm, tạo dựng được một mái ấm gia đình nho
nhỏ, và sống một cuộc đời an bình - như bao nhiêu thế
hệ di dân khác đã đến sống (và chết) ở đất nước này.
Mảnh đời tị nạn của Y Bion,
dù bình thường và tầm thường đến thế, vẫn là niềm
ước mơ xa vời (vượt tầm tay với) của hàng triệu triệu
người dân Việt khác - bất kể thuộc sắc dân nào, đang
sống (và chết dở) ở Việt Nam. Nhưng hoài vọng của Y Bion
không dừng ở đó. "Ðời sống Mỹ thì tốt vào lúc này.
Nhưng nếu chúng tôi đi Mỹ, sau đây mọi người sẽ quên
khu vực Tây nguyên và những gì xẩy ra ở đó. Tôi thì không
bao giờ quên. Khi vùng Tây Nguyên được tự do, tôi sẽ quay
về". Y Bion đã trả lời với phóng viên của hãng Reuter
như vậy, khi được hỏi về dự tính của mình cho tương
lai ("Người Thượng Sẽ Ði Mỹ Ðịnh Cư Nhưng Trở Về Khi
Quê Hương Tự Do," Người Việt, Westminster, California,
2 tháng 5 năm 02).
Y Bion không phải là người Việt
tị nạn đầu tiên (hay cuối cùng) đến Mỹ. Anh cũng không
phải là người duy nhất (vừa bước chân đi) đã ôm mộng
trở về xây dựng lại quê hương. Tâm sự của Y Bion, chắn
chắn, đã làm nao lòng rất nhiều người - những người mà
vào đầu thập niên 1980, khi phong trào vuợt biển tìm tự
do lên đến điểm cao nhất, cũng đã cắn răng rời bỏ quê
hương, và cũng đều đã nhủ lòng rằng: "mai này chúng
ta cùng về Việt Nam". Từ đó đến nay, hàng triệu người
đã "cùng về Việt Nam" nhưng phần lớn, nếu không muốn nói
là tất cả, đều chỉ về … chơi!
Tôi nghĩ làø Y Bion đã nói đến
chuyện trở lại cố hương với một ý hướng tử tế hơn
như thế. Tôi cũng tin rằng khi về tóc của Y Bion vẫn hãy
còn xanh. May mắn hơn những kẻ đã bỏ đi một hai thập niên
về trước, ngày về của Y Bion không còn phải là một ước
vọng xa vời nữa. Sự băng hoại của chế độ hiện hành
ở Việt Nam đã đến giai đoạn cuối.
Vật cùng tất biến. Tuy vậy, sự
việc không nhất thiết sẽ diễn biến theo chiều hướng an
bình và tốt đẹp - nhất là ở vùng Cao Nguyên Trung Phần,
nơi Y Bion đã mở mắt chào đời, và cũng là nơi mà:" chỗ
đứng của người Thượng trong lòng dân tộc Việt Nam chưa
có đáp số" (Nguyễn Văn Huy, "Tìm Hiểu Nguyên Nhân Những
Cuộc Nổi Dậy Của Người Thượng Trên Cao Nguyên Miền Trung,"
Người Việt, 11 April 2001,B2). Nếu đúng thế, viễn tượng
"mai này chúng ta cùng về Việt Nam" để xây dựng lại quê
hương e sẽ có lắm gian nan và trắc trở.
Chiều ngày 3 tháng 6 năm 2002, đài
Phát Thanh Á Châu Tự Do loan báo:" Tin tức xuất phát từ
Cambodia cho biết, toán người Thượng Việt Nam tị nạn đầu
tiên đã rời thủ đô Phnom Penh hồi chiều hôm nay để lên
đường sang Hoa Kỳ định cư. Tin tức cho biết toán đầu
tiên gồm 50 người, sẽ đến Los Angeles vào sáng sớm mai,
tính theo giờ Việt Nam, và ở lại đây trong vòng 3 ngày trước
khi về bang North Carolina định cư."
Y Bion, rất có thể, sẽ là một
trong năm mươi người đầu tiên đặt chân đến Mỹ. Ở Hoa
Kỳ có hai tổ chức đấu tranh cho quyền lợi của những người
sắc tộc ở VN. Tổ chức thứ nhất có tên là Montagnard Foundation,
Inc. Trụ sở đặt tại South Carolina - do ông Ksor Kok, người
sắc tôc Gia Rai, đứng đầu. MFI chủ trương lập quốc, tách
hẳn Cao Nguyên Trung Phần ra thành một quốc gia biệt lập:
Ðây cũng là đòi hỏi của tổ
chức BAJARAKA (tên viết tắt của bốn sắc dân Bahnar, Jarai,
Rade, and Kaho - tiền thân của Fulro) kể từ năm 1957 (The
goal of the BAJARAKA was to have a separate nation with its own administration
and army. What it really means is the independence for Degar peoples
– http://montagnard-foundation.org/bajaraka.html).
Tổ chức thứ hai có tên là Montagnard
Human Rights Organization, thành lập năm 1998, có trụ sở ở North
Carolina, do hai ông Y Bhuat Eban (chủ tịch) và Nay Rong (phó chủ
tịch) lãnh đạo. MHRO có chủ trương ôn hoà và nhân nhượng
hơn: đấu tranh trường kỳ bằng những phương thức bất
bạo động cho đến khi nhà đương cuộc Hà Nội thừa nhận
và thoả mãn những đòi hỏi sau đây:
-
Chấp nhận người Thượng là chủ
nhân chính thống và hợp pháp của vùng Cao Nguyên Trung Phần
Việt Nam vàø quyền tự trị của vùng đất này, như đã
được thừa nhận bởi nước Pháp vào ngày 27 tháng 5 năm
46.
-
Tôn trọng quyền tự quyết, độc
lập, tự do và chủ quyền lãnh thổ của người dân Thượng.
-
Công nhận những quyền căn bản của
người Thượng, như đã được bảo đảm bởi bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do đại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc
công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948.
(The MHRO will carry out a long-term
struggle in peaceful means until the Hanoi government recognizes and satisfies
the following demand:
-
To recognize the Montagnard people as the
legal and rightful owners of the Central Highlands of Vietnam. And to
recognize the autonomy granted to the Montagnard people by the French on
May 27, 1946.
-
To respect the right to self-determination,
independence, freedom and territorial sovereignty of the Montagnard people.
-
To recognize the basic rights of the Montagnard
people that are guaranteed by the Universal Declaration of Human Rights
proclaimed by the General Assembly of the United Nations on December 10,
1948 - http://www.mhro.org/)
Montangard Foundation Inc. là động lực
chính của biến động 02/01, một biến động lớn nhất ở
Việt Nam kể từ khi người cộng sản cướp được chính
quyền. Về phiá Montagnard Human Rights Organization, họ đã tổ
chức nhiều cuộc biểu tình ở Washington D.C. và New York vào
năm 2001 để phản đối chính sách man rợ của nhà cầm quyền
Việt Nam đối với người dân bản địa. Sau đó, họ đã
thành công trong việc vận động chính giới Hoa Kỳ để những
người tị nạn ở Cao Miên (sau biến động 02/01) được phép
định cư ở Mỹ.
Tôi e rằng Y Bion không hề biết
đến những tổ chức vừa kể, cũng như chủ trương, và những
hoạt động của họ. Hầu hết người Việt (có lẽ) cũng
đều như thế. Chỗ đứng của "đồng bào" Thượng trong lòng
người Kinh chưa có đáp số, đã đành; chuyện khó đành hơn
là (dường như) cũng không mấy ai bận tâm xem là họ sẽ
"đứng", "nằm" hay "ngồi" ra sao cả. Cứ làm như thể họ
không hề hiện hữu vậy; hoặc giả, nếu có, cũng chỉ là
"chuyện nhỏ thôi"!
Cho đến nay, theo như tôi biết (và
tôi cầu mong rằng sự hiểu biết của mình hoàn toàn sai sót),
Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên là tổ chức duy nhất ở hải
ngoại có đề cập đến vấn đề chủng tộc, trong Dự Aùn
Chính Trị Dân Chủ Ða Nguyên của ho - xin tóm gọn, như sau:
"Ðất nước ta tuy có một lịch
sử dài nhưng lại là một đất nước mới. Miền Trung mới
hội nhập xong từ thế kỷ 17, miền Nam từ thế kỷ 18. Nước
ta đã tiếp nhận rất nhiều đóng góp mới về đất đai
và chủng tộc. Tuy vậy tổ chức của ta lại không thích nghi
với những thay đổi đó và vẫn được quan niệm một cách
sai lầm như là đất nước của một cộng đồng duy nhất:
cộng đồng người Kinh..."
Trong suốt dòng lịch sử, trừ
một vài ngoại lệ ít ỏi, người Kinh hầu như chưa hề nhìn
nhận một trách nhiệm nào đối với các sắc tộc ít người
mà chỉ áp đặt khuôn mẫu của mình, nếu cần bằng bạo
lực. Tình trạng này nếu không được nhận định rõ rệt
để kịp thời có chính sách thỏa đáng có thể dẫn tới
những hậu quả rất tai hại, nhát là trong bối cảnh thế
giới hiện nay và sắp tới. Nhiều quốc gia đang và sẽ còn
phải khốn đốn vì những cuộc nổi dậy cuồng nhiệt của
các sắc tộc ít người vùng lên đòi bản thể. Nếu chúng
ta không cảnh giác để cho tình trạng này xảy ra thì hai vùng
rộng lớn của đất nước là miền Thượng Du phía Bắc và
miền Cao Nguyên Trung Phần có thể trở thành bất ổn và không
phát triển được".
"Các cộng đồng đều phải được
tôn trọng như nhau trong một đất nước Vitệ Nam được định
nghĩa như là đất nước của các cộng đồng... Cộng đồng
người Việt gốc Khmer đã sống từ ngàn xưa tại miền Nam,
cộng đồng người Việt gốc Hoa đã góp công lớn khai mở
ra miền Nam phải được coi là những người Việt Nam trọn
vẹn trước luật pháp cũng như trong tình cảm dân tộc".
"Quốc gia Việt Nam phải gạt
bỏ hẳn ý đồ đồng nhát háo để mưu tìm đồng tiến trong
dị biệt. Chúng ta phải khẳng định rằng đất nước Việt
Nam không được định nghĩa bằng một chủng tộc mà bằng
sự chấp nhận chia sẻ một tương lai chung..."
"Lịch sử Việt Nam cũng phải
được xét lại và được coi như lịch sử của các sắc
dân đã họp lại để tạo thành đất nước Việt Nam..."
["Thành Công Thế Kỷ 21" (Dự Aùn
Chính Trị Dân Chủ Ða Nguyên) Paris 2001, trang 58 &59].
Tôi thiệt mát lòng mát dạ vì những
đoạn văn in nghiêng vừa trích dẫn, dù tự thâm tâm chưa
dám mong mỏi đến chuyện mọi con dân sống trên đất Việt
"phải được coi là những người Việt Nam trọn vẹn trước
luật pháp cũng như trong tình cảm dân tộc". Chuyện "tình
cảm", để đó, tính sau. Nguời ta "nhìn nhau" hoặc "coi nhau"
ra sao còn tuỳ vào "kích thước", nghĩa là "tầm nhìn"ø, của
từng cá thể. Nhưng ở bình diện quốc gia, và về phương
diện pháp luật thì mọi người người phải được đối
xử tuyệt đối bình đẳng, không phân biệt tuổi tác, phái
tính, tôn giáo, địa phương, quá khứ hay sắc tộc gì ráo.
Từ lâu, nhiều nước trên trên
thế giới đã tạo lập được đời sống ổn định và phú
túc cho dân chúng nhờ vào ý niệm bao dung và khai phóng như
thế- khi đặt mọi nền móng để xây dựng quốc gia của
họ.
Tại sao chúng ta (nhất là những
kẻ đã có dịp sống ở ngoại quốc) không học hỏi được
điều này từ những bài học đó? Tại sao đến hôm nay người
Việt (bất kể Kinh/Thượng) phải trở lại với cái ý niệm
"tự trị", và những phân định của người Pháp - từ tiền
bán thế kỷ XX - về một vùng đất mà họ phân định là
P.M.S.I. (Pays Montagnards du Sud Indochinois) hay gì gì đó. Ðó chả
qua là sách lược chia để trị, tiện lợi cho họ, vào thời
điểm cũ mà thôi. Sao cứ nghe đến người Pháp và những
phần đất được gọi là Bắc Kỳ, Trung Kỳ hay Nam Kỳ Tự
Trị …là tự nhiên tôi muốn … ói!
Tôi cũng không tin rằng thành lập
một quốc gia riêng ở Cao Nguyên Trung Phần, với dân số vài
trăm ngàn người, bao gồm hơn bốn mươi săc dân riêng biệt
(Bahnar, Jarai, Rhade, Koho, Sedang, Bru, Pacoh, Ktu, Jeh, cua, Halang,
Hre, Rongao, Monom. Roglai, Cru, Monong, Lat, Sre, Nop, Maa, Stieng, ect…),
giữa một vùng đất không có đường thông thương với thế
giới bên ngoài là một giải pháp thực tế và khả thi - ít
nhất thì cũng trong hoàn cảnh hiện tại. Ðiều này cũng không
mang lai lợi ích thiết thực (cho bất cứ ai) mà chỉ có nguy
cơ tạo ra bất ổn và chiến tranh, nhất là nội chiến.
(Con người vốn không thích hoà
bình mà chỉ thích chấm dứt chiến tranh. Ðiều này đúng
cho toàn thể nhân loại ở mọi nơi và mọi thời, trừ dân
tộc Việt - ở thế kỷ này. Người Việt đánh nhau, giết
nhau, chửi nhau, cư xử tàn tệ với nhau … như vậy đủ rồi.
Stop it!)
Tôi xin lỗi vì thái độ hơi thiếu
tự chế của mình qua những giòng chữ (chuyên chở quá nhiều
xúc cảm) như vừa viết. Chả qua vì tôi đã thất vọng quá,
thất vọng não nề, và thất vọng đến cùng cực về cách
mà dân Việt (nói chung, chứ chả riêng chi người không cộng
sản) cư xử với nhau, nhất là đối với những "đồng bào"
kém may mắn của mình - nơi miền sơn cước.
Tôi cũng xin được tha thứ, nếu
sai lầm, vì đã không ủng hộ đòi hỏi tự trị hay lập
quốc của những cư dân ở Cao Nguyên Trung Phần. Ðúng ra,
đây là những vấn đề mà thứ thường dân (như tôi) có
lẽ không nên lạm bàn. (Chúng sẽ được bàn cãi và đi đến
chung quyết bởi quốc hội Việt Nam, mai hậu, với đầy đủ
qúi vị dân biểu của mọi sắc dân).
Tuy nhiên, vì đã lỡ bàn (với tất
cả chủ quan), tôi đành "bàn" tiếp. Người Thượng chỉ có
một chỗ đứng duy nhất ở Việt Nam mà thôi. Họ đứùng
ngang hàng với người Kinh và với mọi sắc dân khác trên
đất nước Việt. Ðó cũng là đáp số duy nhất (đúng) cho
bài toán chủng tộc ở Việt Nam.
Chúng ta (có thể) không bình đẳng
tuyệt đối trong ánh mắt của nhau nhưng mọi người (bắt
buộc) phải tuyệt đối bình đẳng trước pháp luật. Nếu
không, tình trạng Việt Nam hậu cộng sản so sánh với hiện
trạng (nếu có khác biệt) thì chỉ là ở mức độ- chứ
bản chất nó vẫn là cái thứ xã hội xây dựng trên kỳ
thị, bất công và áp bức.
K’ Tien
|