Tư
liệu về nhà thơ Trần Dần
Ông mới xuất hiện là
một nhà thơ thì cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Trở
về Nam Ðịnh ông tham gia kháng chiến và đảm nhận công tác
tuyên truyền. Sau khi Nam Ðịnh thất thủ, ông xung phong gia
nhập bộ đội và được cử lên mặt trận Sơn La. ở đây,
ông phụ trách điều khiển đoàn văn công, được các văn
nghệ sĩ trong Trung đoàn rất quý mến và được kết nạp
làm đảng viên. Nhưng là một văn nghệ sĩ, ông không chịu
nổi sự chèn ép của các cán bộ chính trị cấp Trung đoàn,
nên đến năm 1951, ông xin về Trung Ương. nhận công tác viết
báo cho cục Quân Huấn .
Trong thời kỳ này, ngoài
việc viết báo, ông con phụ trách giảng về văn nghệ nhân
dân và chính sách lãnh đạo văn nghệ của Ðảng đối với
văn nghệ sĩ trong những lớp đào tạo cán bộ văn công. Bị
phê bình là giảng sai đường lối của Ðảng, ông tức mình
xin đi công tác tiền tuyến và được cử lên mặt trận Ðiện
Biên Phủ. Xúc cảm trước sự tấn công ào ạt của quân
đội kháng chiến vào thành lũy của Pháp, nhất là trước
cái chết thê thảm của Tô Ngọc Vân, bạn đồng hành của
ông. Trần Dần sáng tác cuốn Người Người Lớp Lớp. Nhờ
cuốn sách này ông được Ðảng yêu chuộng trở lại và năm
1954 được cử đi Trung quốc để viết bản dẫn giải bằng
tiếng Việt cho cuốn phim "Chiến thắng Ðiện Biên Phủ" là
cuốn phim Việt Minh đóng lại trận Ðiện Biên Phủ do cán
bộ Trung cộng sang quay và mang sang Tàu thu thanh .
Nhân chuyến du hành này,
Trần Dần được tiếp xúc với nền văn hóa của Trung Cộng.
Ông lấy làm thất vọng nên khi trở về, ông nói nhỏ với
bạn bè : "Chớ nên theo đường lối văn nghệ của Trung Quốc".
Cùng đi với ông sang
Trung quốc có một cán bộ chính trị phụ trách về đường
lối giải thích , nhưng tên cán bộ này mặc dầu dốt đặc
về văn chương nhưng cũng cứ nhất định dùng quyền lực
chính trị của mình để sửa chữa từng câu, từng chữ của
Trần Dần, mà có khi ngang nhiên đọc lời giải thích của
mình cho Trần Dần viết. Ông lấy làm bất mãn, nên khi về
đến Việt Nam, ông cùng một số văn nghệ sĩ đảng viên
khác như Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh và Ðỗ Nhuận,
cùng trong cảnh ngộ, viết kiến nghị lên cấp trên yêu cầu
hạn chế sự can thiệp của cán bộ chính trị vào lãnh vực
văn nghệ .
Kiến nghị còn đang
được cứu xét thì xẩy ra một việc quan trọng hơn. Ðó
là việc Trần Dần tự tiện lấy vợ, bất chấp sự cấm
đoán của Ðảng. Theo một đạo luật bất thành văn mà Ðảng
đã đặt ra, các đảng viên cấp xã phải báo cáo cho cấp
trên biết trước mỗi khi dự định lấy vợ, lấy chồng
; các đảng viên huyện (trường hợp của Trần Dần) phải
xin phép Ðảng mới được cưới xin hoặc yêu đương, còn
về phần các đảng viên cấp tỉnh trở lên thì việc dựng
vợ gả chồng là đo Ðảng quyết định .
Trần Dần tuy là đảng
viên ,nhưng vẫn giũ tính chất văn nghệ sĩ, không chịu nổi
luyến ái quan Mác Xít. Hồi ở chiến khu bao nhiêu lần Ðảng
"xây dựng" cho ông với các nữ đồng chí , ông dều không
chịu và khi hòa bình trở lại, ông tình cờ gặp và mê ngay
một thiếu nữ tiểu tư sản ở phố Sinh Từ, sống bơ vơ
một mình, vì bố mẹ họ hàng di cư vào Nam không kịp mang
theo .
Trần Dần xin phép Ðảng
để cưới người yêu, nhưng Ðảng nhất định không cho vì
một lý do căn bản : người con gái đó theo đạo Thiên Chúa.
Tuy vậy, Ðảng không nêu lên lý do tôn giáo để từ chối
mà chỉ giải thích rằng người con gái đó sống về tiền
thuê nhà mà bố mẹ để lại nên thuộc vào thành phần bóc
lột, và một đảng viên không thể lấy vợ giai cấp "địch".
Trần Dần không chịu
cắt đứt tình yêu nên khuyên ý trung nhân mang nhà cửa bố
mẹ để lại giao cho ủy ban quản trị tài sản của những
người vắng mặt trông coi và thu hoa lợi; hai người đều
cam chịu sống trong cơ cực để yêu thương nhau. Ðảng bèn
rẽ duyên bằng cách điều động Trần Dần lên Việt Bắc
công tác, nhưng Trần Dần lấy cớ ốm đau xin về Hà Nội
nghỉ dài hạn và tự ý xin ra khỏi Ðảng, ngang nhiên đến
phố Sinh Từ sống với tình nhân không cần cưới xin. Ðảng
toan trừng trị, nhưng ngặt vì lúc đó đang có phong trào di
cư, nên không dám khủng bố bất cứ ai sợ làm náo động
nhân tâm khiến cuộc di cư bành trướng thêm. Ðảng bèn nuốt
giận làm lành, chỉ gây dư luận là Trần Dần đã sa đọa,
rơi vào hố tư sản phản động .
Nhưng sau khi đóng cửa
Hải Phòng, Trần Dần lại làm một việc táo bạo thứ hai
là phê binØh đả kích cuốn "Thơ Việt Bắc" của Tố Hữu,
một thi sĩ giữ chức trung ương ủy viên, phụ trách lãnh
đạo văn nghệ. Tố Hữu liền ra lệnh bắt cóc Trần Dần
mang nhốt trên một nhà giam ở Việt Bắc. Vợ Trần Dần lại
sống bơ vơ giữa Hà Nội một lần nữa, hỏi thăm chồng
ở đâu, không ai biết, vẫn thất nghiệp, lại thêm bụng
mang dạ chửa. Bạn bè của Trần Dần phải chung tiền giúp
đỡ và thay phiên đến thăm hỏi nâng đỡ tinh thần .
Tin Trần Dần bị bắt
mang đi biệt tích lan ra khắp Hà Nội và gây dư luận sôi
nổi trong giới trí thức kháng chiến. Ðể dẹp yên dư luận,
Ðảng bèn sửa sai bằng cách đưa Trần Dần về mạn xuôi,
bắt đi theo chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất. Ðảng cũng
gọi vợ Trần Dần đến cho công việc may vá cho Mậu Dịch
.
Không được bao lâu,
xẩy ra vụ Krushchev hạ bệ Stalin. Nhóm văn nghệ sĩ kháng
chiến nổi lên đấu tranh chống Ðảng bằng cách xuất bản
tập Giai Phẩm 1956 (sau này gọi là Giai phẩm mùa Xuân). Lúc
này Trần Dần không có mặt ở Hà Nội, nhưng Hoàng Cầm là
bạn thân, biết Trần Dần hồi 1954 có viết bài "Nhất định
thắng" có giá trị , nên đến nhà bảo vợ Trần Dần đưa
bản thảo và mang in trong tập Giai Phẩm .
Tờ tạp chí vừa in
xong thì bị tịch thu ngaỵ Ðảng ngờ rằng Trần Dần đã
bị nằm tù mà còn dám viết bài chống Ðảng nên gọi Trần
Dần về, mang ra đấu giữa một cuộc hội nghị của đông
đủ các văn nghệ sĩ, quy Trần Dần vào tội phản động,
lấy cớ là trong các bài thơ ông có dùng chữ "Người" viết
hoa nên gán cho ông có ý đả kích cụ Hồ và ra lệnh tống
giam vào nhà pha Hỏa-lò ở Hà Nội. Trần Dần uất ức quá
dùng lưỡi dao cạo cứa cổ, nhưng không chết, sau này vẫn
mang cái sẹo ở cổ .
Năm tháng sau, Việt cộng
tuân theo chỉ thị của Ðệ Tam Quôc' Tế phát động phong
trào sửa sai . Giới trí thức được dịp phát động phong
trào đấu tranh chống Ðảng. Họ xuất bản tờ Giai Phẩm
muà Thu và tờ Nhân Văn, lên tiếng phản đối vụ tịch thu
tờ báo Giai Phẩm Mùa Xuân và việc khủng bố Trần Dần .
Cụ Phan Khôi có nêu
hai vấn đề này trong bài "Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ" đăng
trong Giai Phẩm mùa Thu và Hoàng Cầm viết một bài nhan đề
"Con Người Trần Dần" đăng trong tờ Nhân Văn số đầu. Bị
công kích không có thế đỡ, Ðảng bèn thả Trần Dần về
và phục hồi danh dự bằng cách ra lệnh cho Hội Văn Nghệ
viết bản tự kiểm thảo đăng trên các báo. Nhóm Giai Phẩm
bèn tái bản tờ Giai Phẩm mùa Xuân trong đó có bài thơ "Nhất
Ðịnh Thắng" của Trần Dần .
Nhưng sau khi Nga Sô đàn
áp cuộc khởi nghĩa Budapest thì Việt cộng cũng đóng cửa
tờ Nhân Văn và Giai Phẩm. Một lần nữa, Trần Dần lại
bị quy là phản động và bị "treo giò" không được viết
văn. Nhưng đến tháng cuối năm 1957, nhân báo Văn trở lại
chống Ðảng, Trần Dần gửi đăng một bài thơ nhan đề là
"Hãy Ði Mãi" nói lên ý chí cương quyết đấu tranh đòi tự
do đến cùng .
Về thơ, ông còn sáng
tác những bài :
"Nói thật" trong đó
ông lý luận rằng chỉ vì cán bộ hèn nhát không dám nói
thật với Ðảng nên mới xảy ra vụ "sai lầm" trong cải cách
ruộng đất.
"Nhân Văn làm lớn con
người" trong đó ông đề cao nhân văn .
"Một bài thơ chưa có
đề" trong đó ông ám chỉ Tố Hữu là nhà thơ "ti tỉ đờn
bầu"
Về truyện, ông viết
:
"Chú bé làm văn" để
chỉ trích nền giáo dục Cộng sản chuyên môn tập cho trẻ
em nói dối từ thuở bé để sau này nói dối thuê cho Ðảng
.
"Mâu thuẫn với cả
nước" tả một nhạc sĩ bất tài (ám chỉ Lương Ngọc Trác)
dùng thế lực Ðảng, quy cho một nhạc sĩ có tài hơn mình
vào tội "mâu thuẫn với cả nước".
"Lão Rồng" tả một
nông dân hiền lành bị bọn "lý trưởng mới" chà đạp .
Nhưng đặc biệt hơn
cả là truyện Anh Cò Lắm, tả sự khổ cực của nông dân
trong cải cách ruộng đất. Trong đó có đoạn như sau:
"Tôi đi thẳng vào nhà
Cò Lắm. Vắng cả, nhà chả có ai, nhưng có tiếng trẻ khóc.
Ba gian nhà nhỏ vẫn một cái giường, một cái chõng, có thêm
một lá cờ đỏ rắt mái nhà rủ trước mặt bức ảnh Hồ
chủ tịch. Một đứa bé con độ lên hai bò giữa nhà, giời
rét mà độc một manh áo nâu, còn cởi chuồng, chân tay lắm
mụn, bôi phẩm xanh lè cả ngườị Thấy tôi nó càng khóc,
giơ tay quẹt má. Tôi nhìn: Tay nó có cái gì vàng vàng ? à
ra cứt, nó ỉa một đống còn kia, cổ chân nó lại buộc
một cái dây bằng vải khá dài, một đầu dây buộc vào cột
nhà, chắc hẳn mẹ nó buộc nó vào dây cho nó chơi một mình
."
Trừ có hai bài thơ Nhất
Ðịnh Thắng và Hãy Ði Mãi ông ký tên thật, còn tất cả
những bài khác đều ký bằng bí danh, sau này bị tra khảo
trong tù ông mới nhận là chính ông viết .
Sau đây chúng tôi chỉ
trích hai bài: Nhất Ðịnh Thắng và Hãy Ði Mãi vừa điển
hình cho lối thơ của ông, vừa nói lên tâm sự của thế
hệ mới ở Bắc Việt:
Bài thơ này đã gây
nên cuộc đấu tố tác giả, khiến tác giả phải cứa cổ
tự tử.
Vì vậy nên tuy dài,
chúng tôi cũng đăng trọn bài . Ðại ý của tác giả là nêu
sự đói rét của đất Bắc và nỗi u buồn trong lòng người
phương Bắc hiện nay.
NHẤT
ÐỊNH THẮNG
Tôi ở phố Sinh Từ
:
Hai người
Một gian nhà chật.
Rất yêu nhau sao cuộc
sống không vui ?
Tổ quốc hôm nay
tuy gọi sống hòa bình
Nhưng mới chỉ là năm
thứ nhất
Chúng ta còn muôn việc
rối tinh ...
Chúng ta
Ngày làm việc, đêm
thì lo đẫy giấc
Vợ con đau thì rối
ruột thuốc men
Khi mảng vui --- khi chợt
nhớ -- chợt quên
Trăm cái bận hàng ngày
nhay nhắt
Chúng ta vẫn làm ăn
chiu chắt .
Ta biết đâu bên Mỹ
Miếc tít mù
Chúng còn đương bày
kế hại đời ta ?
Tôi đi giữa trời mưa
đất Bắc
Ðất hôm nay tầm tã
mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
, máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào
chém trộm ?
A ! Cái lưỡi dao cùn
!
Không đứt được ---
mà đau !
Chúng định chém tôi
làm hai mảnh
Ôi cả nước ! Nếu
mà lưng tôi lạnh
Hãy nhìn xem : có phải
vết dao ?
Không đứt được mà
đau !
Lưng Tổ quốc hôm nay
rớm máu
Tôi đã sống rã rời
cân não
Quãng thời gian nhung
nhức chuyện đi Nam
Những con mưa rơi mãi
tối xầm
Họ lếch thếch ôm
nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người
ôm giận
Tôi đem thân làm ụ
cản đường đi .
- Dừng lại !
- Ði đâu ?
- Làm gì ?
Họ kêu những thiếu
tiền thiếu gạo
Thiếu Cha, thiếu Chúa
, thiếu vân vân
Có cả anh Nam chị Nữ
kêu buồn
- ở đây
- Khát gió thèm mây
...
- Ô hay !
Trời của chúng ta gặp
ngày mây rủ
Nhưng trời ta sao bỏ
nó mà đi ?
Sau đám mây kia
là cả miền Nam
Sao nỡ tưởng là non
bồng củ a Mỹ !
Tôi muốn khóc giữ
từng em bé
Bỏ tôi ư ? -- từng
vạt áo -- Gót chân
Tôi muốn kêu lên --
những tiếng cọc cằn ...
- Không ! Hãy ở lại
!
Mảnh đất ta hôm nay
dù tối
Cũng còn hơn
.... non bồng Mỹ triệu
lần ...
Mảnh đất dễ mà quên
?
Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư ? Sao chẳng
nói thực thà ?
Chỉ là :
- thiếu quả tim , bộ
óc !
Những lời nói sắp
thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi
chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời
mưa bão .
Họ vẫn ra đi .
- Nhưng sao bước rã
rời ?
Sao họ khóc ?
Họ có gì thất vọng
?
Ðất níu chân đi .
gió cản áo bay về
Xa đất Bắc tưởng
như rời cõi sống .
Tưởng như đây là
phút cuối cùng
Răng rối lại : - mỗi
lùm cây - hốc đá
- Mỗi căn vườn --
gốc vả -- cây sung
Không nói được chỉ
còn nức nở
Trắng con người nhìn
lại đất trời
Nhìn cơn nắng lụi,
nhìn hạt mưa sa
Nhìn con đuờng cũ,
nhìn ngôi sao mờ
Ôi đất ấy -- quên
làm sao được ?
Quên sao nơi ấm lạnh
ngọt bùi
Hôm nay đây mưa gió
dập vùi
- Mưa đổ mãi lên người
xa đất Bắc ...
Ai dẫn họ đi ?
-- Ai ?
Dẫn đi đâu ? -- mà
họ khóc mãi thôi !
Trời vẫn quật muôn
vàn tảng gió
Bắc Nam ơi, đứt ruột
chia đôi
Tôi cúi xuống-- quỳ
xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu
họ
- khổ nhiều rồi !
Họ xấu số -- chớ
hành thêm họ nữa
Vườn ruộng hoang sơ
- Cửa nhà vắng chủ
Miền Nam muôn dặm,
non nước buồn thiu
Họ đã đi nhưng chút
lại tâm hồn
Ôi đất Bắc ! Hãy giữ
gìn cho họ .
Tôi ở phố Sinh Từ
Những ngày ấy bao nhiêu
thương xót
Tôi bước đi
... không thấy phố
....không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
... trên mầu cờ đỏ
Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi
đầu về
-- Anh ạ !
... họ vẫn bảo chờ
...
Tôi không gặn hỏi,
nói gì ư ?
Trời mưa , trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm mhư lũ
trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi
buồn bã
Em đi
... trong mưa
........ cuối đầu
........... nghiêng vai
Người con gái mới
mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng
đi về lủi thủi
Bóng chúng
... đè lên
........ số phận
........... từng người
Em cúi đầu đi, mưa
rơi
Những ngày ấy bao nhiêu
thương xót
Tôi bước đi
... không thấy phố
....... không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
........... trên mầu
cờ đỏ
Ðất nước khó khăn
này
... sao không thấm được
vào Thơ ?
Những tủ kính tôi
dừng chân dán mũi
Các thứ hàng ế ẩm
đợi người mua
Nhưng mà sách --- hình
như khá chạy
à quyển kia của bạn
này -- bạn ấy
Quyển của tôi tư lự
, nét đăm đăm
Nó đang mơ : -- nếu
thêm cả miền Nam
Số độc giả sẽ tăng
dăm bảy triệu
Tôi đã biến thành
người định kiến
Tôi ước ao tất cả
mọi người ta
Ðòi thống nhất, phải
đòi từ việc nhỏ
-- từ cái ăn ... cái
ngủ ... chuyện riêng tư
-- từ suy nghĩ ... nựng
con ... và tán vợ .
Trời mưa mãi lây dây
đường phố
Về Bắc Nam tôi chưa
viết chút nào
Tôi vẫn quyết Thơ
phải khua bão gió
Nhưng hôm nay
....tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu ?
....Sao những vần thơ
Chúng không chuyển,
không xoay trời đất ?
Sao chúng không chắp
được cõi bờ ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
... làm việc khác
Nhưng hôm nay tôi mê
mải giữa trời mưa
Chút tài mọn
... tôi làm thơ chính
trị
Những ngày ấy bao nhiêu
thương xót
Tôi bước đi
... không thấy phố
........ không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
............ trên mầu
cờ đỏ
Em ơi ! -- ta ở phố
Sinh Từ
Em đương có chuyện
gì vui hử
à cái tin trên báo --
ừ em ạ
Chúng đang phải dậm
chân đấm ngực !
Vượt qua đầu chúng
nó.
.... mọi thứ hàng
Những tấn gạo vẫn
vượt đi
Những tấn thơ, tài
liệu
Vẫn xéo qua đầu chúng,
giới danh gì ?
ý muốn dân ta
... là lực sĩ khổng
lồ
Ðè cổ chúng mà xóa
nhòa giới tuyến
Dân ta muốn trời kia
cũng chuyển
Nhưng
Trời mưa to lụt cả
gian nhà
Ôm tất cả che mưa
cản gió
Con chó mực nghe mưa
là rú
Tiếng nó lâu nay như
khản em a
Thương nó nhỉ --- nó
gầy --- lông xấu quá
Nó thiếu ăn --- Hay
là giết đi ư ?
Nó đỡ khổ --- Cả
em đỡ khổ .
Em thương nó --- ừ
thôi chuyện đó
Nhưng hôm nay anh mới
nghĩ ra
Anh đã biến thành người
định kiến
Những ngày ấy bao nhiêu
thương xót
Tôi bước đi
.... không thấy phố
......... không thấy
nhà
Chỉ thấy mưa sa
.............. trên mầu
cờ đỏ
Tôi đi giữa trời mưa
đất Bắc
Tai bỗng nghe những
tiếng thì thầm
Tiếng người nói xen
tiếng người ầm ả .
-- Chúng phá hiệp thương
-- Liệu có hiệp thương
-- Liệu có tuyển cử
-- Liệu tổng hay chẳng
tổng
-- Liệu đúng kỳ ?
hay chậm vài năm ?
Những câu hỏi đi giữa
đời lỏng chỏng
Ôi Xưa nay Người vẫn
thiếu tin Người
Người vẫn thường
kinh hoảng trước Tương lai
Ngươi quên mất Mỹ
là sư tử giấy .
Người vẫn vội --
Người chưa kiên nhẫn mấy
Gan người ta chưa phải
đúng công nông
Người chửa có dạ
lim trí sắt
Người mở to đôi mắt
mà trông !
A tiếng kèn vang
... quân đội anh hùng
Biển súng
... rừng lê
... bạt ngàn con mắt
Quân ta đi tập trận
về qua
Bóng cờ bay đỏ phố
đỏ nhà ...
Lá cờ ấy là cờ bách
thắng
Ðoàn quân kia muôn trận
chẳng sờn gan
Bao tháng năm đói rét
nhọc nhằn
Từ đất dấy lên
... là quân vô sản
Mỗi bước đi lại
một bước trưởng thành
Thắng được Chiến
tranh
... Giữ được Hòa
Bình
Giặc cũ chết --- lại
lo giặc mới
Ðoàn quân ấy kẻ thù
sợ hãi
Chưa bao giờ mất bụng
dân yêu
Dân ta ơi ! Chiêm nghiệm
đã nhiều
Ai có Lý ? và ai có
Lực ?
Tôi biết rõ đoàn quân
sung sức ấy
Biết nhân dân
... Biết Tổ quốc Việt
Nam này
Những con người từ
ức triệu năm nay
.... Không biết nhục
........ Không biết thua
.............. Không biết
sợ !
Hôm nay
Cả nước chỉ có một
lời hô :
THỐNG NHẤT
Chúng ta tin khẩu hiệu
ta đòi
-- Giả miền Nam
.... Tôi ngửa mặt lên
trời
Kêu một tiếng -- bỗng
mầu trời rơi xuống
Vài ba tia máu đó rớt
vào tôi
Dân ta ơi !
Những tiếng ta hò
Có sức đâm trời chảy
máu
Không địch nào cưỡng
nổi ý ta
Hiền hậu lắm -- Nhưng
mà đi cả quyết ...
Hôm nay
Những vần thơ tôi
viết
Ðã giống lưỡi lê
: đâm
... Giống viên đạn
: xé
... Giống bão mưa :
gào
... Giống tình yêu :
thắm
Tôi thường tin ở cuộc
đấu tranh đây
Cả nước đã bầu
tôi toàn phiếu
Tôi là người vô địch
của lòng tin .
Sao bỗng đêm nay ,
.... tôi cúi mặt trước
đèn ?
Gian nhà vắng --- chuột
đêm nó rúc .
Biết bao nhiêu lo lắng
hiện hình ra .
Hừ ! Chúng nó đã biến
thành tảng đá
.... chặn đường ta
!
Em ơi thế ra
Người tin tưởng nhất
như anh
.... vẫn có phút giây
ngờ vực
Ai có lý ? và ai có
lực ?
Ai người tin ? Ai kẻ
ngã lòng tin ?
Em ơi
Cuộc đấu tranh đây
... cả nước
... cả hoàn cầu
Cả mỗi người đêm
ngủ vẫn lo âu
Có lẫn máu, có sót
thương lao lực
Anh gạch xóa tranh thơ
hằn nét mực
Bỗng mặt anh nhìn thấy
! lạ lùng thay !
Tảng đá chặn đường
này !
Muôn triệu con người
.... muôn triệu bàn
tay
Bật cả máu ẩy đá
lăn xuống vực !
Anh đã nghĩ : Không
có con đường nào khác
Ðem ngã lòng ra
.... mà thống nhất
Bắc Nam ư ?
Không không !
Ðem sức gân ra !
Em ơi em !
Cái này đỏ lắm ,
gọi là TIM
Anh cho cuộc đấu tranh
giành THỐNG-NHẤ T
Bài thơ này lúc đầu lấy
nhan đề là "Bài thơ Thống Nhất " và chỉ có đến đây là
hết. Hoàng Cầm khuyên Trần Dần nên làm thêm một đoạn
nữa để "giữ vững lập trường" mới có thể xuất bản
được. Vì vậy nên mới có đoạn văn sau này và bài thơ
cũng đổi nhan đề là "Nhất định thắng".
Hôm nay
Trời đã thôi mưa thôi
gió
Nắng lên đỏ phố
đỏ nhà
Ðỏ mọi buồng tim
lá phổi
Em ơi đếm thử bao
nhiêu ngày mưa !
Bây giờ
Em khuân đồ đạc ra
phơi
Em nhớ đừng quên
Em khuân tất cả tim
gan chúng mình phơi nắng hết
Em nhìn cao tít trời
xanh
Dưới phố bao nhiêu
cờ đỏ !
Hôm nay em đã có việc
làm
Lương ít --- Sống còn
khó khăn
Cũng là may ...
Chính phủ muôn lo nghìn
lắng
Thực có tài đuổi
bão xua mưa, không thì còn khổ
Em treo cờ đỏ đầu
nhà
Lá cờ trừ ma
Xua được bóng đen
chúng nó !
Những vết thương kháng
chiến đỏ lòm
Ðã mím miệng, lên
da lên thịt
Tôi bỗng nhói ở nơi
lồng ngực
Em ơi
Chúng đốt phố Ga-li-ê-ni
..... và nhiều phố
khác .
Anh đã sống ở Sài-gòn
thuở trước
Cảnh miền Nam thành
một góc tim anh
Chúng đốt tận đâu
..... mà lửa xém tim
mình
Tim nó bị đen thui một
nửa
Từ dạo ấy
.... mà em chẳng rõ
.
-- Em hãy đỡ cho anh
khỏi ngã
Ðứng đây
Một lúc !
Cờ bay
..... đỏ phố
..... đỏ nhà
Màu cờ kia là thang
thuốc chữa cho anh
Ai thắng ai thua ?
Ai có lý ? và ai có
lực ?
Em ơi
Hôm nay
. .. trời xanh
.... xanh đục
Nắng lên
.... đỏ phố
...... đỏ cờ
Cuồn cuộn mít tinh
Những ngày thương xót
đã lùi xa
Hòa bình
..... thêm vững
Anh bước đi
.... đã thấy phố thấy
nhà
Không thấy mưa sa
Chỉ thấy nắng lên
.... trên màu cờ đỏ
.
Ta ở phố Sinh Từ
Em này
Hôm nay
.... đóng cửa
Cả nhà ra phố
.... mít tinh
Vung cờ đỏ
.... hát hò
.... vỡ phổi .
Hỡi những người
..... thành phố
..... thôn quê
Ðói no lành rách
Người đang vui
Người sống đang buồn
Tất cả !
.... Ra đường !
Ði !
.... hàng đoàn
.... hàng đoàn
Ðòi lấy tương lai
:
HÒA BÌNH
.... THỐNG NHẤT
.............. ÐỘC LẬP
........................DÂN
CHỦ
Ðó là tim
.... là máu đời mình
Là cơm áo ! Là ái tình
Nhất định thắng
TRẦN DẦN
G. -- Ngụ ý của tác giả
trong bài này là kêu gọi những người yêu chuộng tự do hãy
tranh đấu đến cùng, bất chấp mọi sự đe dọa.
HÃY
ÐI MÃI
Khi trái đất còn đeo
bom
.... trước ngực
thắt lưng
..... còn lựu đạn,
bao xe : ---
Khi bạo lực còn khua
.... môi mõm mốc xì
,
khẩu đại bác mỏi
đừ
.... vẫn sủa ; ----
Khi bóng tối
.... còn đau như máy
chém
những lời ca đứt
cổ
.... bị bêu đầu
Lũ đao phủ tập trung
.... hình cụ
mặt trời lên
.... phải mọc giữa
rừng gươm ; ---
Khi thế kỷ còn rung
..... chuông lừa bịp
.
Những canh gà
..... báo trượt rạng
đông .
Con rắn lưỡi cắng
người như cắn ngóe : ---
Khi xe tăng
...... chửa đi cấy
đi cày ,
như
.... một lũ tội nhân
cần cải tạo ; ---
Khi
.... con thò lò ngày
đêm hai mặt đói meo ,
còn quay tít
...... trên kiếp người
hạ giá ; ---
Những khi ấy
..... sẵn sàng
..... nổi giận,
loài người
..... còn tổ chức nhau
đi .
Hãy đi mãi như người
..... cộng sản
có thể mỏi mọi điều
..... không mỏi tấn
công !
Phải làm lại chúng
ta, tất cả ---
.......... không tha ,
để đừng có một
ai lần lữa,
khi nào
..........chân lý gọi
tên đi ,
Hãy đi mãi ! ---
........ dù mưa băm nát
mặt
Sương rơi, hơn đạn
xưa
........ đau đầu .
Dù bốn mùa
....... nhung nhức nắng
mưa
mùa bão tuyết thế
chân
....... muà gió độc
.
Hãy đi mãi ! ---
...... dù mưa đông phục
kích
hay
...... lửa hè đánh
trộm sau lưng
Dù những đêm
....... buồn như sa mạc
hoang vu
Ðoàn du mục tủi thân
........ vùi bãi cát.
Dù
...... những ngày, mũi
kiếm heo may
đi hành hạ
..... những tâm tư trằn
trọc
Hãy đi mãi ! ---
..... Dù trên biển cả
sống như người vật
vã
........ khắp đại dương
.
Dù những con tầu
.......... bỗng nhớ
bến bình yên .
còi rúc mãi những tiếng
kêu rùng rợn
Hãy đi mãi ! ---
......... Dù khi cần
thiết
người ta cần đói
khát
......... vượt bình
xa .
Ta bỗng có thể nhịn
lâu
........... hơn cả lạc
đà .
đi
..... đến tận những
kinh thành no ấm .
Hãy đi mãi ! ---
........ Dù có phen chót
ngã
Hãy bó đôi chân lầm
lỡ
.......... mà đi .
Hãy tin chắc
......... rồi ta
......... xứng đáng
một vòng hoa đỏ nhất
......... phủ quan tài
Tôi chửa có khi nào
quên táo bạo
chửa khi nào quên hát
........ quên đau .
Tôi yêu đất mẹ đây
---
....... có cỏ hoa làm
chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này
....... cờ đỏ cãi
cho tôi .
Nhưng
...... chẳng thể rúc
kèn củ rích ,
vác loa mồm kêu :
...... "Hiện tại rất
thiên đường !"
Không !
Thiên đường chúng
ta
....... là nối đuôi
nhau
....... vô tận triệu
Thiên đường .
Ði mãi
...... chẳng bao giờ
thỏa .
Tôi có thể mắc nhiều
...... tội lỗi,
chẳng bao giờ quá ngu
đi
....... mắc tội : nằm
!
Han rĩ
....... khac' gì cái chết
?
Chết con tim chẳng còn
dám đau thương .
Chết khối óc
........... chẳng còn
dám nghĩ !
Nếu
..... tôi chửa đến
ngày thổ huyết
phổi tôi còn xâu xé
mãi
.............. lời thơ
.
Tôi có thể mặc thây
............. ngàn tiếng
chửi tục tằn
trừ tiếng chửi : ---
..........."Sống không
sáng tạo !"
Nếu tôi bị gió sương
.............. đầu độc
,
một hôm nào ngã xuống
............. giữa đường
đi
tôi sẽ ngã
........ như người lính
trận
hai bàn tay chết cứng
........ vẫn ôm cờ
.
Nếu vầng nhật
........ thui tôi làm
bụi,
nắng oan khiên đốt
lại
.................. làm
tro
Bụi tôi sẽ
......... cùng ta ---
.................... vẫn
sống
vẫn chia nhau gió bấc
................... xẻ
mưa phùn .
Nếu dĩ vãng đè trên
lưng
..................... hiện
tại
nặng nề
............ hàng tạ
đắng cay ,
tôi sẽ nổ tung
..................... ngàn
kho đạn tiếng kêu
tan xác pháo
.................. mọi
cái gì cũ rích,
Nếu
.... hàm răng chuột
nhắt của gia đình
gậm nhấm
cả tình yêu cùng dự định
tôi
sẽ biến thân tôi thành
thép
nguội
làm thất bại
mọi
thứ rũa đã quen rũa người
tròn
trặn quá hòn bi .
ở trong tôi
.............. nếu còn
sức mạnh gì
chính là sức những
ai
..................... nghèo
khổ nhất .
những ai
................ lao lực
nhất ---
...................... địa
cầu ta .
Tôi vẫn nâng chiếc
đầu lâu
............... nặng nề
sáng tạo
như
.... nâng một viễn
vọng đài
trên cuộc sống hàng
ngày
................ nhí nhách
Tôi vẫn cháy
............. ngọn hải
đăng con mắt
ở trong biển sống
................. từng
đêm .
Tôi vẫn đóng những
câu thơ
.................... như
người thợ
.................................
đóng tàu ,
chở khách
.................. đi về
phía trước ,
nói
.... loài người ---
............ đã biết
sống chung nhau .
Nói
..... tất cả ---
............ chẳng còn
ai bần tiện ,
chẳng còn lo
........... cơm áo
..........................
nợ nần .
(Diễn đàn Liên mạng
Trí thức VN)
|