Hồ
chí Minh và "Tầm hữu vị ngộ"
Tuệ Quang Tôn-thất Tuệ
Trong hợp tuyển thơ-nhạc-họa-ảnh
nghệ thuật "Quốc Học trường tôi" , do nhà xuất bản Thuận
Hóa (Huế) ấn hành năm 1996 nhân kỷ niệm 100 năm thành lập
trường Quốc Học Huế (1896-1996), thấy có trưng dẫn 100 bài
thơ gồm nhiều thể loại của 100 tác giả (vốn là những
người được xem như có liên hệ ít nhiều với trường,
hoặc giảng dạy hoặc theo học trong một thời gian dài hay
ngắn).
Ở hợp tuyển này có một nghi vấn
cần được giải minh liên quan đến bài thơ nhan đề "Tầm
hữu vị ngộ" (tt72,73) mà nhóm chủ trương thực hiện ghi
nhận là của Hồ chí Minh, có cả chữ ký của tác giả (tức
ông Hồ) ở cuối bài, có phần dịch nghĩa và dịch thơ (dịch
giả là Ðăng Thao) và phần chú dẫn dựa theo tạp chí Thế
Giới Mới số 2-1990.
Vấn đề được nêu ra nơi đây
là "Có phải thật chính ông Hồ chí Minh đã sáng tác bài
thơ này hay không ?" .
Thơ nguyên tác bằng chữ Hán , được
phiên âm như sau :
Tầm hữu vị ngộ
Bách lý tầm quân , vị ngộ quân
,
Mã đề đạp toán lĩnh đầu
vân .
Qui lai, ngẫu ngộ sơn mai thụ
,
Mỗi đóa hoàng hoa, nhất điểm
xuân .
Ðây là một bài thơ viết theo thể
cổ thi luật Ðường "thất ngôn tứ tuyệt", có niêm luật,
âm vận rất chỉnh, là một bài thơ hay lại viết bằng ngoại
ngữ. (Nhà văn cộng sản kỳ cựu Ðặng Thái Mai có lần hoài
nghi "không thể không lấy làm lạ là Bác đã viết thơ chữ
Hán") . Thơ ông Hồ, xét dựa theo phẩm chất một số bài
khác được ghi nhận là của ông, thật khó đạt được mức
điêu luyện này . Ở thơ ông, người ta thường thấy có ít
nhiều trục trặc về âm điệu, khó có thể ngâm lên nghe
cho êm thuận , chẳng hạn :
Nước ta ở về xứ nóng
khí hậu tốt ,
Rừng vàng biển bạc đất phì
nhiêu ... (1)
Những từ ngữ được ông dùng trong
thơ thường cũng đơn giản, mộc mạc nhiều khi theo lối "vè"
có vẻ rất "bình dân" , như :
Diên Hồng thề trước
thánh minh ,
Lòng dân đã quyết hy sinh rành
rành .
Nếu ai muốn đến giành đất
Việt
Ðưa dân ta ra giết sạch trơn
Một người Việt hãy đang còn
Thì non sông Việt vẫn non sông
nhà . (2)
hoặc :
Ba bốn năm trời luống nhớ thương
Nhớ chàng lưu lạc tại tha hương
Tóc thề đã chấm ngang vai thiếp
Lụy nhớ e chưa ráo mắt chàng
Thù nước thù nhà chàng gắng
trả
Việc nhà việc cửa thiếp xin
đương ... (3)
hoặc :
Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Hiên ngang dàn trận khắp trong
phường
Bác khen các cháu dân quân gái
Ðánh giặc Huê Kỳ phải nát
xương (4)
Xét về nội dung, bài thơ " Tầm hữu
vị ngộ "này thể hiện một tư tưởng phóng khoáng, lãng
mạn, trữ tình với thi tứ dạt dào, lai láng ... mang nặng
tính " vị nghệ thuật " không mảy may vương nhiễm chất "
văn nghệ tuyên truyền ", vốn là đòi hỏi tất yếu để
đáp ứng nhu cầu về đấu tranh tư tưởng của người cộng
sản . Với ông Hồ, văn nghệ phải có tính "vị chính trị"
(mà giới văn nghệ sĩ cộng sản mỹ hóa bằng nhóm chữ "vị
nhân sinh") , nghĩa là phải đáp ứng đòi hỏi phục vụ chủ
thuyết vô sản , cổ võ thế giới đại đồng :
Bác đưa một nước qua
nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại
đồng ... (5)
hoặc phải đề cao tình đoàn kết
thắm thiết keo sơn của khối Xã hội chủ nghĩa :
Nhân dân dũng cảm và
cần kiệm
Các nước anh em giúp đỡ nhiều
(1)
hoặc mang nặng tính sách động, hô
hào sắt máu :
Nam Bắc thi đua đánh giặc
Mỹ
Tiến lên ! toàn thắng ắt về
ta .
(Mừng xuân 1968)
Tóm lại , bài thơ " Tầm hữu vị
ngộ " xét về hình thức lẫn nội dung không phù hợp với
thi cách lẫn khuynh hướng của ông Hồ nói riêng và người
cộng sản nói chung .
Dưới các phần phiên âm, dịch
nghĩa và dịch thơ còn có phần chú dẫn như sau :
"Bài thơ này mới được phát hiện.
Ðược biết, Hồ chủ-tịch viết bài thơ vào mùa xuân 1954
khi người đến thăm bạn – một vị tướng "chiến hữu"
trong những ngày mở màn chiến dịch lịch sử Ðiện Biên
Phủ . Ðó là Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, một tài năng lớn
về quân sự, vốn cũng từng xuất thân từ trường Quốc
học-Huế (Theo tạp chí Thế Giới Mới số 2-1990)"
Với lời chú thích ngộ nghĩnh này,
không biết người ta muốn bốc thơm ca tụng hay là muốn chơi
khăm ông Hồ đây ? Nếu là để ca tụng thì lối ca tụng
này quá vụng về, để lộ rất nhiều sơ hở . Còn nếu để
chơi khăm thì đây quả là một cú chơi thâm và ác . Một
mai khi thần tượng "Bác" bị sụp đổ như thần tượng Staline
thì giai thoại thơ này sẽ được phổ biến rộng rãi để
mọi người có thêm một chuyện cười lúc trà dư tửu hậu
.
Bảo rằng bài thơ được ông Hồ
viết vào mùa xuân 1954 và mới được phát hiện quả thật
là chuyện khôi hài . Vào đầu thập niên 30 , khi ông Hồ bị
nhà cầm quyền Anh ở Hong Kong bắt nhốt và vào đầu thập
niên 40 , bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ ở tỉnh
Quảng Tây , chung quanh ông không có thuộc hạ thân tín mà
chỉ có những cai tù người Anh hay người Trung Hoa Quốc Dân
Ðảng , thế mà những bài thơ do các tù nhân Trung Hoa viết
lên vách ngục hay trên giấy thảo hoặc chỉ truyền miệng
đều được cho là do ông sáng tác , ma øcó dư luận quả
quyết rằng tác giả thực sự vốn là tù nhân khác (xem "Hồ
Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký" của Lê
Hữu Mục, Văn Bút Việt Nam Hải ngoại xuất bản 1990) đều
được góp nhặt, ghi chép, phiên dịch toàn bộ vào những
năm 1959,1960 đưa vào trong một tập thơ nhan đề " Nhật ký
trong tù " tức "Ngục trung nhật ký", để đem phổ biến khắp
nơi . Ðằng này , năm 1954 là một thời điểm hết sức quan
trọng của cuộc chiến , lúc đó ông Hồ đã là một lãnh
tụ cộng sản cao giá , hễ ông đi đâu hay ông làm gì bên
cạnh ông đều phải có nhiều cán bộ thủ túc theo sát để
bảo vệ, để nhận lệnh, để ghi chép thành tích của ông
thì tại sao một bài thơ được ông sáng tác hay ho đến thế
mà không người nào ghi chép , lưu giữ , đến nỗi phải bị
thất lạc , mãi tới năm 1990 (36 năm sau) mới được tạp
chí Thế Giới Mới phát giác và công bố ?
Giai đoạn mở đầu chiến dịch
Ðiện Biên Phủ , tình hình cực kỳ căng thẳng , hai phe đối
đầu không những chỉ tranh thắng bại trên chiến trường
lửa đạn mà còn kèn cựa hơn thua nhau trên các mặt trận
ngoại giao, tuyên truyền..., còn rình rập nhau về mặt gián
điệp tình báo... Liệu lúc đó lãnh tụ cầm đầu một phe
như ông Hồ lại dám bất cẩn khơi khơi cỡi ngựa đi thăm
bạn, không e ngại trở thành mục tiêu của máy bay địch
hay làm mồi cho biệt kích tình báo địch hay sao ? Vào thời
điểm này , bộ đội cộng sản mỗi khi chuyển quân, tiếp
vận đều phải ngụy trang kỹ , lắm lúc chỉ di chuyển ban
đêm ẩn núp ban ngày , lẽ nào các cán bộ lớn nhỏ của
"Ðảng" lại tĩnh bơ để "Bác" của họ thong dong cỡi ngựa
đi trăm dặm thăm bạn và tìm thi hứng ! Giữa lúc tình hình
đang đi vào giai đoạn gay cấn về mọi mặt , ông Hồ là
người đứng đầu một phe phải bận lo nghĩ trăm bề , làm
sao có thể thảnh thơi nhàn hạ đi tìm thăm bạn !
Ông Hồ là lãnh tụ , là chúa còn
ông Giáp là cán bộ, là bề tôi. Ông Giáp lúc đó đang điều
binh khiển tướng nghĩa là đang thi hành quân vụ , ông Hồ
đi thăm ông Giáp tức là đi thị sát mặt trận , theo lẽ
và theo luật ông Giáp có nhiệm vụ phải nghênh đón , phải
tích cực bố trí an ninh tối đa cẩn mật để bảo vệ ông
Hồ , phải lo trình diện để phúc trình , báo cáo , nhận
chỉ thị... đâu lại dám vắng mặt khơi khơi , khiến cho
ông Hồ đành thong dong rong vó ngựa ra về một cách thảnh
thơi để mà thơ thẩn ngắm nhìn hoa lá rồi tức cảnh làm
thơ ! Và, phải chăng ông Hồ ra về cô đơn lẻ loi một mình
nên tuyệt tác "Tầm hữu vị ngộ" không có ai ghi chép, bảo
quản đến nỗi bị thất lạc, mãi tới 36 năm sau mới được
phát hiện mà cũng chẳng thấy nói rõ được phát hiện cách
nào , ở nơi đâu và vào cơ hội nào ?
Ðối với ông Hồ , ông Giáp chỉ
là một thuộc cấp phụ trách mặt quân sự thường được
ông gọi bằng chú tức "chú em", không phải là bằng hữu
ngang vai vế để ông Hồ cần phải "bách lý tầm quân" . Trong
hệ thống cộng sản đẳng cấp được phân định rõ ràng
, làm gì có chuyện "chú Giáp" ngang vai vế với "bác Hồ" ,
"chú" chỉ là một đồng chí thuộc cấp của "bác" mà thôi
.
Bình sinh ông Hồ là người rất
tự tôn , đôi khi kiêu ngạo dám tự xem mình như đồng trang
lứa với tiền nhân một các khiếm lễ . Cứ tính trung bình
một thế kỷ có ba thế hệ thì Ðức Thánh Trần (thế kỷ
XIII) ít lắm phải cùng thời với cụ tổ mười tám đời
trước của ông Hồ , thế mà ông ấy dám nghênh ngang xưng
hô với Ngài bằng bác tôi , tôi bác :
Bác anh hùng , tôi cũng
anh hùng
Cũng bậc râu mày , cũng kiếm
cung .
Bác đuổi quân Nguyên vung kiếm
bạc ,
Tôi trừ giặc Pháp phất cờ
hồng ... (5)
Vậy thì nói chi tới Võ nguyên Giáp
, làm sao có được ví trí bình đẳng với ông Hồ đến độ
ông ấy phải "tầm quân vị ngộ quân".
Thông thường sau khi hoàn tất một
bài thơ , tác giả ghi bút hiệu hay tên thật ở dưới , đôi
khi có chua thêm ngày tháng và nơi sáng tác . Chỉ khi nào làm
thơ tặng ai mới có lời đề tặng và chữ ký . Trường hợp
nếu ông Hồ vì thận trọng , lo ngại có kẻ khác sang đoạt
thơ của mình nên cẩn thận ký tên để bảo chứng tác quyền
thì ông chỉ có thể ký ở nguyên bản sau khi hoàn tất, ông
cũng có thể ký ở các bản sao chép lại nhưng chỉ trong thời
gian ông còn tại thế mà thôi . Ðằng này trong hợp tuyển
"Quốc Học trường tôi" ,bài thơ "Tầm hữu vị ngộ" ở các
trang 72,73 rõ ràng được trình bày thực hiện ấn loát cùng
một lúc với 99 bài thơ khác , có cùng y một loại chữ ,
một cỡ chữ, một kiểu phối trí nghĩa là tất cả cùng
đều được thực hiện vào năm ấn hành 1996 thì làm sao ông
Hồ có thể cầm bút tự tay ký tên mình vào cuối trang thơ
khi ông đã qua đời từ năm 1969 . Rõ ràng có bàn tay của
một kẻ khác đã lá lay ký giùm "bác" hoặc cắt xén chữ
ký của "bác" từ một tài liệu nào đó (chẳng hạn một
huân chương , một bức ảnh , một chỉ thị...) đem ráp ghép
vào dưới bài thơ, nghĩ rằng như thế là có thể giúp "bác"
phần nào trong việc hợp thức hóa ngôi vị "danh nhân văn
hóa".
Ðây là một nghi án về thi ca mà
những ai yêu chuộng lẽ phải và sự thật cần phải lên
tiếng hầu ngăn chận tình trạng "đem râu ông nọ cắm cầm
bà kia" trong lĩnh vực văn học .
Ðể câu chuyện được sáng tỏ,
để biết ai thực sự là tác giả của bài thơ trên (mà nhất
định không phải là ông Hồ) , rất mong được sự tiếp
tay của mọi giới thức giả , nhất là những vị đang có
trong tay những tài liệu bằng chứng liên hệ .
Tuệ Quang Tôn-thất Tuệ
Chú thích:
(1)-Sổ tay văn hóa Việt Nam , Phần
I-Ðất nước và con người , trang 9 . Trương Chính và Ðặng
đức Siêu soạn , Nhà Xuất Bản Văn Hóa Hà Nội 1978 .
Thơ không có đầu đe à, chỉ thấy
tài liệu ghi "Hồ Chủ Tịch có bốn câu thơ " .
(2)-Nghĩ cạnh dòng thơ của Chế
Lan Viên , tr 174 , Nhà Xuất Bản Văn Học Hà Nội , 1981. Theo
tài liệu này , ông Hồ viết bài thơ năm 1927, dưới bí danh
Thầu Chin ở Xiêm .
(3)-Nghĩ cạnh dòng thơ của Chế
Lan Viên , tr 175, Nhà Xuất Bản Văn Học Hà Nội , 1981. Theo
tài liệu này năm 1940 " bài thơ ấy ông Trần-tên Bác lúc
bấy giờ-làm theo lời vợ đồng chí Trịnh Ðông Hải gửi
cho chồng làm công nhân ở Vân Nam ".
(4)-Người xa Huế , nhiều tác giả,
tr 22 (bài viết : Nguyễn Tuân với Huế của Ðoàn Minh Tuấn),
Nhà Xuất Bản Trẻ, 1999 .
(5)-Ngẫu hứng vào dịp viếng đền
thờ Ðức Thánh Trần, khoảng đầu thập niên 50 .

|