Về
Những Viên Ngọc Hoàng Trân Ở Biển Nam
PHAN LANG
(Tặng con cháu Mỵ
Châu, Huyền Trân, Ngọc Hân của nước Việt vào những năm
2000)
Những viên ngọc hoàng trân tin
là tìm được từ biển Việt Nam. Người đầu tiên mua được
là một người Ý ở Lugano tên Savero Repetto. Y thú thực mua
được 6,7 viên gì đó tại Sài Gòn năm 1990. Còn ông bạn
của Ben là người mua nốt số ngọc còn lại, cũng tại Sài
Gòn. Nay ông đã nài được hết số ngọc từ Repetto, tổng
cộng ông có 23 viên. Ông ta đang làm chủ xâu ngọc trai của
hoàng hậu Marie Antoinette, vợ vua Napoleon. Xâu chuỗi này từng
vào tay một triệu phú Mỹ, trả với giá 1 triệu Mỹ kim vào
thời kinh tế khủng hoảng, năm 1929. Ben trố mắt, hỏi: “Nếu
phải chọn một trong hai, xâu ngọc trai của hoàng hậu Marie
Antoinette, hoặc những viên hoàng trân Việt Nam, ông chọn thứ
nào?”. Ông đáp không đắn đo: “Tôi chọn những viên hoàng
trân Việt Nam.”
Benjamin Zucker sinh trong một gia
đình giàu có. Tốt nghiệp Yale, và có bằng luật Harvard. Thời
trẻ ôm một giấc mơ: ngày nào đó làm chủ trong tay bao nhiêu
vòng vàng châu báu của ông vua bà chúa đời xưa. Giấc mơ
ấy ngày nay đã thành sự thật, chỉ trừ có được một
xâu ngọc trai cổ quí hiếm. Màu hồng hồng chẳng hạn.
Một buổi trưa đang ngồi ở văn
phòng Harvard Club, điện thoại reo. Tiếng một người đàn
ông bên kia, một người bạn là tay buôn kim hoàn nổi tiếng
đến từ Thụy Sĩ, giọng hối hả:
”Có thì giờ không? Tôi mang cho
ông xem cái này hay lắm”.
Người gọi dùng điện thoại
công cộng, một điều chưa từng xảy ra với ông bạn này.
Ben chịu gặp. Năm phút sau, ông ấy đi vào cửa. Tay trang trọng
ôm một cái hộp quí bọc da cá sấu mở ra 23 viên ngọc trân
châu màu vàng rực rỡ. Ben thốt lên như không tin mắt mình.
Hai người nói chuyện bằng tiếng Pháp.
”Ngọc thật?”
”Oui”
”Trước nay, có bao giờ thấy
ngọc trai vàng chưa?”, Ben lại hỏi.
“Lần đầu”.
Viên lớn nhất to hơn trứng chim
sẻ, đường kính 23 mi li mét, nom giống trái quất chín, hoặc
lòng trứng gà non, ưng ửng đỏ. Ông Thụy Sĩ cho biết: ngọc
này của Việt Nam, có lẽ ngày xưa là báu vật trong kho tàng
nhà Nguyễn. Ngắm nghía hồi lâu, máu đam mê nổi lên, Ben
ngỏ ý xin mua lại một ít. Ông Thụy Sĩ gạt đi “khoan đã”,
đề nghị trước hết Ben sắp xếp một cuộc nghiên cứu
điều tra, tìm cho ra nguồn gốc và chủ nhân của những viên
hoàng trân tuyệt quí này. Ben, người mà giới chuyên môn xếp
hạng “một nhà sưu tầm tư trang, châu báu hàng đầu của
nước Mỹ”. Trong đống vô số vòng vàng châu báu của ông
hoàng bà chúa Ấn Ðộ, Ả Rập v.v..., Ben hiện làm chủ một
chiếc nhẫn kim cương của một vì vua La Mã vào thế kỷ thứ
3; một viên lam ngọc (sapphire) xanh tím cực kỳ lớn, cỡ 202
carat; một viên bích ngọc (emarald) hình bát giác của nhà vua
Shah- Jahan người xây ngôi đền trứ danh Taj Mahal. Nhưng đối
với Ben, người nặng tâm hồn đam mê cổ ngoạn, trị giá
của tiền bạc thế gian không sánh bằng nỗi say đắm cái
đẹp cổ, vĩnh cữu và huyền bí trước sự thăng trầm của
lịch sử loài người. Ben bèn nhận lời xúc tiến cuộc điều
tra. Ông nghĩ phải đi sang tận Việt Nam.
Ông bạn Thụy Sĩ tạm gửi lại
cho Ben khảo sát vài hôm. Ông vội mang ngay đến cho Kenneth
Scarratt, một bạn thân là chuyên gia đá quí ở viện Gemological
Institute of America. Ken cho biết trong đời, đã một lần thấy
một viên hoàng trân như vậy, xuất xứ từ biển Việt Nam.
Theo Ken, trong suốt 30 năm qua giới chuyên môn quốc tế tổng
kết khắp thế giới chỉ có 4 viên ngọc hoàng trân được
biết đến mà thôi. Thế mà giờ ngồi trước mặt đến 23
viên, không tưởng tượng nổi!
Ben biết những viên ngọc vàng
này rất cổ. Ken Scarratt đã nhận ra những vết li ti của
tuổi thời gian, dấu lạc tinh vì đã qua tay bao đời. Ngọc
ưng ửng đỏ màu huyết tẩm, lên nước cổ. Ben đã tìm đọc
đâu đó biểu tượng thiêng liêng của vua chúa An Nam là đôi
rồng đuổi theo một trái châu bốc lửa, thường trang trí
trên những món đồ sứ trân ngoạn Blue de Hue tuyệt vời.
Như thế Ben càng say đắm khi thấy mình đã giữ trong tay một
báu vật mà bao đời tưởng chỉ có trong huyền thoại, màu
vàng rực lửa. Các nhà đông phương học xưa nay chưa ai ngờ
điều này, lẽ giản dị có ai được nhìn tận mắt đâu!
Ben sắp xếp chuyến đi Việt Nam
cùng với hai người bạn: Derek Content, một học giả về đông
phương, và James Traub một nhà báo. Họ đặt chân trước tiên
đến Hà Nội vào ngày trước Tết âm lịch 1996. Thiên hạ
đang xôn xao đón Tết. Ngoài phố nhan nhản bầy bán những
cành đào, cành mai và hàng quán Tết. Chẳng còn ai nhắc đến
chuyện thời chiến. Ðối với người Mỹ như Ben, Việt Nam
như thể cái tên của chiến tranh, chết chóc, chứ không phải
một đất nước, con người. Những nụ cười hiếu khách
không che dấu nét tiều tụy cùng khổ nhan nhãn. Hà Nội, thành
phố với những ngôi biệt thự tây dọc theo boulevards như
những hồn ma bóng quế của thời thuộc địa, tường vôi
vàng, cánh cửa sổ xanh dương.
Người được giới thiệu đến
tìm gặp đầu tiên là giáo sư Trần Quốc Vượng. Ông Vượng
sống trong một ngôi nhà nhỏ, tràn ngập sách vở. Chủ khách
tiếp chuyện nhau bằng tiếng Pháp. Khi nghe nói đến chữ “perle”,
“Perle flambé”, ông Vượng thao thao nói đến truyền tích
“Lưỡng long tranh châu”. Ông nói về ngọc “lưu li” của
Chàmpa phương nam. Ông tìm ra một cuốn sách cũ, rồi lấy
giấy bút thảo ra nét chữ Hán thật bay bướm. Ben đột ngột
hỏi:” Ông có biết loài trân châu vàng?” Ông Vượng ngạc
nhiên. Ông chưa hề biết.
Trang trí Lưỡng Long Tranh Châu,
và Long Phượng Tranh Châu. Ðám khách kéo đi thăm vịnh Hạ
Long. Vùng núi nước ở đầu trang sử cổ của người Giao
Chỉ, nỗi khổ nhục phải ”lặn mò ngọc trai dưới biển;
kiếm sừng tê trên rừng”. Trên đường đi, Ben lòng tràn
trề hy vọng nơi đây sẽ giải tỏa ít nhiều sự bí mật
đang truy tầm. Trước khi rời New York, Ken Scarratt cho biết
loại ngọc vàng này sinh ra từ loài ốc tên khoa học là melo
melo ( tiếng Việt gọi ốc tai tượng). Ốc tai tượng không
đồng loại với loài trai sò, sinh ra ngọc trắng hay đen.
Cả bọn thuê một nhà khách bập
bềnh trên bến nước, ngày ngày giong thuyền khắp vịnh, lân
la với đám dân chài, lấy thuyền làm nhà trên sông nước.
Hỏi đến ốc tai tượng, thì dân chài không ai lấy làm lạ.
Nhưng không ai hề biết trong ốc này có ngọc. Chợt có một
chiếc thuyền con vội cặp đến. Qua người thông dịch, y
nói rằng y có 6 viên ngọc ốc tai tượng. Y bỏ đi rồi một
chốc sau quay lại, lôi ra từ trong thùng đựng gạo trên ghe
6 viên ngọc. Có vài viên khá lớn màu hơi đục, có viên hơi
vàng, và vài viên thật vàng. Y nói đây là vật báu của gia
đình mình. Y cho biết người anh mình say mê thú săn tìm ngọc
vàng trong ốc tai tượng melo melo. Theo y, tìm trong hàng trăm
con ốc, may ra một con có ngọc. Sáu viên ngọc mà khổ công
đến thế, huống hồ 23 viên ngọc toàn hảo, đẹp tuyệt
vời, thì xiết bao công lao. Ben thầm nghĩ trong một nước
Việt Nam xưa, quyền lực phú quí đều gồm thâu vào vua chúa
cung đình, thì chẳng ai ngoài giới ấy, chắc chắn là chủ
nhân những viên hoàng trân này.
Cả bọn đi vào Huế, cố đô
nhà Nguyễn. Ben tin rằng những viên ngọc này tuổi từ thế
kỷ 18, thuộc kho tàng hậu Lê, về sau lọt vào tay nhà Nguyễn
mà Bảo Ðại là vì vua cuối. Gặp thời loạn lạc, số ngọc
thất thoát ra khỏi nội cung. Nay đã không còn chiến tranh.
Cựu hoàng Bảo Ðại còn sống (năm 1996). Trước đây James
Traub đã tự tay viết một bức thư sang Pháp cho cựu hoàng
để dò hỏi. Thư không được hồi âm.
Tại Huế, các ông được giới
thiệu tìm đến một cụ già xưa hầu trong nội cung nhà Nguyễn.
Cụ Phạm Văn Thiết hiện đang sống giữ ngôi nhà cổ của
bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Ðại. Cụ Thiết được triệu vào
cung năm 12 tuổi (1937), lớn lên thành một tay cung văn trong
ban nhạc ngự. Cụ Thiết mặc chiếc áo dài the đen, đôi bàn
tay xương xẩu xếp vào nhau, móng tay để dài theo kiểu cổ.
Cụ ngồi ngay ngắn trên chiếc tràng kỷ khảm xà cừ, miệng
chậm rãi hút điếu cẩm lệ. Cụ bắt đầu kể về cựu
hoàng Bảo Ðại: đó là “ một ông vua thích ăn chơi”, nhưng
”tính bình dân”, thường phá lệ đột ngột ghé vào thăm
một nhà dân nghèo, ngồi thăm hỏi tình cảnh bên chén trà
nóng. Nhà vua không hoài cổ, “thích tân, chê cổ”, chỉ
thích đồ tây, đánh tennis. Ben đưa cụ xem hình chụp những
viên ngọc vàng. Cụ Thiết nói:”tôi chưa hề thấy ở nội
cung”.
Khắp thành phố Huế cũng không
ai biết. Những tay chuyên môn, người làm ở viện bảo tàng,
các tay chơi đồ cổ. Ðâu đâu cũng nghe lập lại huyền tích
“lưỡng long tranh châu”, “Rồng chầu mặt nguyệt”, hoặc
những lời than vãn về chuyện thất táng của kho tàng nhà
Nguyễn, trách móc tính thờ ơ của vua Bảo Ðại về báu vật
của tiên vương. Những viên ngọc hoàng trân, chẳng ai biết.
Chỗ hy vọng cuối cùng là thành
phố Hồ Chí Minh, vẫn còn gọi tên là Sài Gòn. Phải ghé
đến đây cho đủ một vòng đất nước. Tại đây các ông
gặp Nguyễn Trung Sơn, một tay sưu tập đồ cổ, một người
rất am tường về kho tàng nhà Nguyễn. Sơn quả là một nhân
vật có phong thái đặc sắc. Ðang trong một xứ sở nghèo
khổ, anh sống thơ mộng giữa những món cổ ngoạn đẹp tuyệt
vời sứ Bleu de Huế. Giống như những người chơi đồ cổ
Việt Nam Ben đã gặp, tâm hồn anh mơ về một quá vãng vàng
son trước thời tây đô hộ. Chính nguồn gốc anh, cũng là
con dòng cháu giống một quan thượng thư lớn trong triều đình
Huế.
Anh có học thức và rành lịch
sử, người đầu tiên kể cho các ông khách phương xa biết
nhiều chi tiết về kho tàng triều Nguyễn: ấn, kiếm, đồ
sành sứ. Rồi anh nói về ngọc, về trân châu. “Việt Nam
là xứ của ngọc trai”. Anh kể cho khách nghe câu chuyện:
Năm 1780, vua Lê Chiêu Thống cống cho nhà Thanh 2 viên trân châu
to bằng quả trứng gà. “Thế ông biết màu gì không?” Khách
hỏi. Anh trả lời gì đó bằng tiếng Việt rất lâu, người
thông dịch chỉ nói gọn lỏn: “Không biết. Vì không thấy
sử chép đến”.
Rời Việt Nam, Ben tưởng chừng
đang bỏ ra đi cái quê hương đã sinh ra những viên hoàng trân
huyền bí kia, mà dấu tích đã thất lạc ngay chính trên quê
hương mình.
Về New York, ông tìm được số
điện thoại tư gia cựu hoàng Bảo Ðại. Ông gọi. Giọng
một bà đầm trả lời: ”Cựu hoàng thủa bé đến lớn chưa
từng thấy. Nên chúng không thuộc của hoàng gia”. Cuộc tìm
kiếm chưa chấm dứt tại đây. Ông thiết tha gặng hỏi cho
ra nơi ông bạn Thụy Sĩ, kẻ đã mang đến những viên hoàng
trân này. Cuối cùng, cũng biết được người đầu tiên là
một người Ý ở Lugano tên là Savero Repetto. Y thú thực mình
mua được 6,7 viên gì đó tại Sài Gòn năm 1990. Còn ông bạn
của Ben là người mua nốt số ngọc còn lại, cũng tại Sài
Gòn. Nay ông đã nài được hết số ngọc từ Repetto, tổng
cộng ông có 23 viên. Khi được Ben hỏi chơi vì sao mua. “Vì
chúng quá quí hiếm, và đẹp như giấc mơ”. Ông đáp, rồi
một chặp sau, bèn kể rằng mình đang làm chủ một xâu ngọc
trai của hoàng hậu Marie Antoinette, vợ vua Napoleon. Xâu chuỗi
này đã từng vào tay một triệu phú Mỹ, trả với giá 1 triệu
Mỹ kim vào thời buổi kinh tế khủng hoảng, năm 1929. Ben trố
mắt, và hỏi: “Nếu ông phải chọn một trong hai, xâu ngọc
trai của hoàng hậu Marie Antoinette, hoặc những viên hoàng trân
Việt Nam, ông chọn thứ nào?”. Ông đáp không đắn đo: “Tôi
chọn những viên hoàng trân Việt Nam”.
Trên đây là phần dịch bài viết
nhan đề “Mysterious Pearls” (Những viên trân châu huyền bí)
của James Traub trên tạp chí Smithsonian, số tháng bảy năm
1997. Tôi đã đọc số báo ấy khi được một người bạn
cho biết. Khoảng mười hôm sau, bà Kathy Schulman của viện
bảo tàng Metropolitan of Arts New York gọi nói về bài báo ấy,
và bà quen thân với Benjamin Zucker. Bà Kathy là chị của một
người bạn Mỹ thân. Bà đã nói với ông Ben về tôi, và
ông nhờ bà ấy sắp xếp để liên lạc với tôi.
Một ngày chủ nhật tháng 10 năm
1997, Ben gọi tôi. Giọng Ben trầm tĩnh. Chúng tôi hàn huyên
về chuyến viếng thăm Việt Nam. Về vịnh Hạ Long mà tôi
cùng các bạn Mỹ đến đi thuyền ở đó, kể ông nghe chúng
tôi bằng phương tiện riêng đã đến thăm viếng, khảo cứu
cả tuần tại núi Ðọ, thuộc làng Thiệu Lâu huyện Ðông
Sơn, trên núi còn có những di tích rìu đá xưa 30 đến 40
ngàn năm, thời cựu thạch khí của người cổ Việt Nam. Ben
hỏi về những viên ngọc vàng. Ông đã mua từ người bạn
Thụy Sĩ. Như tôi có nói với bà Kathy, trong khi nghiên cứu
để dịch ra Anh Văn một số sử liệu cổ Việt Nam, tôi đã
khám phá được một thông tin rất quan trọng khả dĩ soi sáng
nguồn gốc huyền bí xung quanh những viên trân châu vàng kia.
Trong câu chuyện tôi nhắc tới ông nghe chuyện có ba nàng con
gái thuộc hàng công chúa đã chói ngời vẻ ngọc suốt từ
đầu đến gần cuối dòng lịch sử dân tộc Việt Nam: nàng
Mỵ Châu, nàng Huyền Trân, nàng Ngọc Hân. Tôi thích thú truy
tìm thêm tài liệu, có thể cung cấp cho ông. Ben rất mừng.
Nhưng ngay trong buổi nói chuyện đầu, tôi đã chừng mực
lưu ý Ben một điểm hồ nghi, dựa theo sử liệu Lê Quí Ðôn.
Ông khẩn khoản xin sao chụp những sử liệu ấy, có bản
dịch Việt ngữ và nguyên tác Hán văn. Phần tôi sẽ gửi
kèm bản dịch Anh văn, cùng những ý kiến nhận xét của tôi,
xin chép ra đây đúng nội dung thư từ đã gửi cho Ben.
Nguồn sử liệu xin chép ra đây
từ Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Ðôn viết năm 1776, mà
các chính sử của nhà Nguyễn về sau, phần lớn cũng dựa
theo đó, ở đoạn nói về Hoàng Sa:
”Xã Yên Vĩnh, thuộc huyện Bình
Sơn, phủ Quảng Nghĩa ở gần bãi biển. Về hướng đông
bắc, ngoài biển có nhiều đảo và có nhiều núi linh tinh
hơn 130 đỉnh. Từ trên khoảng núi ra đến biển cách nhau
có chỗ một ngày đường, hoặc mấy trống canh. Trên các
ngọn núi, thỉnh thoảng có suối nước ngọt. Ở trong các
hòn đảo, có bến cát vàng, chiều dài ước chừng hơn ba
mươi dặm, bằng phẳng và rộng lớn, nước trong veo nhìn
suốt đáy. Ở bên các hòn đảo, có vô số tổ yến, còn
các thứ chim thì kể đến hàng nghìn, hàng vạn con, hễ thấy
người chúng vẫn đậu quanh người, không hề tránh né. Kề
bên bến, có rất nhiều hải vật lạ lùng. Có thứ ốc nhiều
rằn mang tên là ốc tai voi, lớn như chiếc chiếu, trong bụng
có nhiều hạt châu như ngón tay trỏ lớn, sắc đục không
bằng sắc con trai châu. Vỏ ốc ấy, nếu người ta vót đẽo,
có thể làm thành bia, cũng như dùng vỏ ốc làm thành vôi
(để sơn quét nhà cửa)”.
Lướt qua một đoạn mô tả các
loài ốc khác, tiếp theo là: “Ngày trước nhà Nguyễn có
thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã
Yên Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy
tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Ðội Hoàng
Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương. Họ chèo năm
chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới
đến đảo (tức đảo Hoàng Sa). Họ tha hồ lượm lặt, tự
ý bắt chim, bắt cá làm đồ ăn. Họ được những đồ vật
như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc,
đồ đồng, thiếc khốn, chì đen, khẩu súng, ngà voi, sáp
ong vàng, đồ chiên dạ, đồ sứ... Họ còn lượm nhặt những
vỏ đồi mồi, những con hải sâm, những hạt ốc vân (ốc
tai tượng) rất nhiều.
”Ðến kỳ tháng tám, thì đội
Hoàng Sa ấy mới trở về cửa Eo, rồi họ tới thành Phú
Xuân trình nạp các vật hạng đã lượm nhặt được. Người
ta cân, khám nghiệm và định xong đẳng hạn các sản vật,
rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc vân, hải sâm,
hải ba. Bấy giờ đội ấy nhận lãnh cấp bằng trở về
nhà, những vật hạng lượm nhặt được ngoài biển có khi
nhiều, có khi ít không nhứt định, cũng có lần họ ra đi
rồi trở về không”(1).
Sự gửi người ra đảo để khai
thác hải vật, có lẽ nhà Nguyễn tiếp tục thi hành theo nếp
cũ của Champa, từ khi mở nước lần về phương nam. Trước
Lê Quí Ðôn, đã có sách Thiên Nam Tứ Chí Ðồ Thư, gồm 4
quyển do nho sinh họ Ðổ Bá, tên tự là Ðạo Phủ soạn khoảng
năm 1650-1653, cũng cho biết họ Nguyễn đã làm công việc ấy
từ lâu: “Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông, đưa 18
chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, nhặt được phần
nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn (của tàu đắm trôi
dạt vào). Chỗ bãi cát ấy cũng có đồi mồi”. Như thế,
việc tìm kiếm những ngọc hoàng trân tại Hoàng Sa đã có
từ lâu, nối tiếp công tác từ Champa. Sử liệu này là minh
chứng hùng hồn quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thuộc lãnh hải
chủ quyền của Việt Nam ngay khi mở nước về phương Nam.
Ở đoạn chót, thuộc quyển 6
Phủ Biên Tạp Lục, xin trích ra đây một chi tiết rất lý
thú Lê Quí Ðôn chép về ”ngọc”:
”Xứ Thuận Hóa, có thứ ngọc
gọi là “Hạc đính ngọc”, giống như ngà voi, mà sắc lại
vàng có hơi điểm đỏ, trông rất tinh tế, sáng sủa, tươi
nhuần. Người ta dùng ngọc này để làm những cái hộp đựng
hương sáp và làm chuỗi trường hạt để niệm kinh. Mang thứ
ngọc ấy trong mình, người ta có thể trừ được các loài
rắn rít.
”Ngọc này nguyên từ
tàu tây
dương đưa đến bán chứ không phải thổ sản xứ Thuận
Hóa.
”Xét sách Võ Bị Chí” có chép
rằng: “Nước Tam Phật Tề còn có một tên nữa là nước
Cựu Cảng, thường sản sinh một thứ chim là “hạc đính”
lớn hơn con vịt. Não cốt (xương óc ở sau gáy gồ lên) chim
ấy dài đến hơn 1 tấc, ngoài vàng trong đen, xinh tươi, đẹp
mắt đáng yêu. Nước Bột Nê (không biết nước nào và ở
đâu) cũng có thứ chim ấy”.
Ngọc được tạc từ mỏ chim
hạc đính (helmeted hornbill) tiếng Việt gọi là chim Bồ Cắt.
Mỏ chim màu vàng, thật lớn và cứng, hai bên điểm màu đỏ.
Nghệ nhân Trung Hoa nhất là khoảng đời Thanh trở đi rất
quí chuộng mỏ chim hạc đính. Họ xử dụng nó làm chất
liệu để chạm khắc nên những tác phẩm mỹ ngoạn đặc
biệt nhất là khóa đai nịt, các kiểu tị yên hồ (snuff bottle)
dành cho các công tử đại gia lắm tiền nhiều của.
Qua tư liệu này ta nhận thấy
thế kỷ thứ 18, vào thời Lê Quí Ðôn mỹ nghệ phẩm bằng
mỏ chim hạc đính đã có thuyền buôn Hòa Lan bán sang Thuận
Hóa qua cửa Hội An rồi. Và đặc biệt trong các món mô tả,
có những viên tạc tròn “để làm trường hạt niệm kinh”.
Nếu khảo sát bằng cách kết hợp hai đoạn tư liệu của
Lê Quí Ðôn về ngọc vàng ốc tai voi tại đảo Hoàng Sa, và
ngọc vàng tròn tạc từ mỏ chim hạc đính, ta không khỏi
thấy nảy sinh một nghi vấn khá lý thú. Vì sự ưa thích của
khách hàng và sự hiếm quí của loại trân châu vàng, có lẽ
nghệ nhân khai thác đặc sản mỏ loài chim của núi rừng
nhiệt đới Mã Lai này, để mô phỏng tạc nên những viên
ngọc vàng, cho giống trân châu vàng thiên nhiên dưới đáy
biển cũng nên. Trong cuộc tiếp xúc lần đầu, tôi cũng thông
báo cho Benjamin Zucker về chi tiết đáng lưu ý này dựa theo
nguồn tư liệu của Phủ Biên Tạp Lục. Ðầu giây bên kia
một thoáng lặng yên. Có lẽ đối với ông là một thông
tin rất bất ngờ. Nhân thể, trong khi chờ đợi bản dịch
và tư liệu tôi gửi cho ông, tôi giới thiệu ông một số
bài viết của giáo sư Alexander Woodside, một sử gia nghiên
cứu Việt Nam, đọc rất rành rẽ Lê Quí Ðôn, đặc biệt
về Phủ Biên Tạp Lục. Hiện ông dạy tại University British
of Columbia.
Bẵng đi khoảng hơn một tháng
sau, ông Ben gọi lại nhà, giọng rất niềm nở và vui vẻ
khác thường. Tôi đoán là sau thời gian đó ông đã nhờ chuyên
gia các nơi xác định lại chất liệu, có lẽ đã tan đi cơn
hồ nghi. Ông hỏi thăm tôi, có biết ở nước Mỹ, có ai sưu
tập được ”blue de Hue” nhiều không? Tôi biết có một
số người, ông bèn đề nghị mong sao một ngày gần đây
sẽ kết hợp làm chung một triển lãm các đồ sứ của triều
đình Lê, Nguyễn, nhân dịp giới thiệu những viên hoàng trân
hiếm quí của lòng biển Việt Nam, ở cả hai miền đông và
tây nước Mỹ. Lần đó, tôi kể ông nghe chuyện nàng công
chúa Huyền Trân, cắt nghĩa tên nàng là viên “trân châu đen”.
Người Việt Nam như tôi vẫn thắc mắc không biết vô tình
hay cố ý, cái tên của nàng phổ vào duyên số phải cưới
gả về một ông vua Chàm. Hoặc tên nàng đặt cho sau cuộc
hôn nhân? Tôi nói với ông rằng tôi tưởng đoán trong quà
hỏi cưới nàng, đời sau chỉ biết nước vua cha được dâng
hai châu Ô, Lý, biết đâu của lễ còn có thêm những viên
ngọc huyền trân cực kỳ quí hiếm mà Chế Mân tặng riêng
cho nàng? Ông nói đùa: “Chúng ta sẽ đi tìm”.
Khi thăm nước tôi, các ông nhận
xét rằng những nụ cười thân ái không che dấu được nỗi
nghèo khổ. Nhưng các ông nên biết đó là nụ cười của
đám con giòng cháu giống lỡ vận, bất đắc chí của mẹ
trân quí Mỵ Châu, Huyền Trân, Ngọc Hân v.v... Huyền sử Việt
Nam thơ mộng và triết lý sâu trầm. Ðọc nó phải hiểu ngược
lại; người đẹp Mỵ Châu là hóa thân của loài trân châu
Việt; và lòng tham của phương bắc hiện thành Trọng Thủy
(nhà Tần xâm lăng xuống phương nam vì tham ở đấy có nhiều
ngọc châu- sách Ðiều Thị Lục Châu Ký). Ngày trước người
ta đã gọi mảnh đất ấy là Ấn- Trung Indo-Chine cũng phải.
Vì Mỵ Châu đã bị Trọng Thủy chiếm đoạt; và Chế Mân
đã lấy được Huyền Trân.
Tự bao giờ đến bây giờ, nước
Việt như người con gái cứ bị mãi ép duyên với các chủ
nghĩa ngoại lai. Nhưng cái lõi tâm linh, cái nét tâm hồn, giống
như viên trân ngọc ẩn trong vỏ ốc. Và đã là trân ngọc,
thì không cháy được trong lửa.
|