Trời
Hành Cơn Lụt Hằng Năm..
Mỗi dân tộc có một từ ngữ
riêng để chỉ sự hình thành, cấu tạo nên quốc gia mình…
Pays, Patrie của người Pháp, dân xứ Gaule; Country, Nation của
sắc dân thuộc chủng tộc Anglo Saxon; người Trung Hoa đọc,
và viết nên các chữ tượng hình: 1/ chỉ một nhóm "Dân"
sống trong một "phạm vi đất đai"; 2/ trong phạm vi ấy có
một ông "Vua"; 3/ hoặc để chỉ một nhóm người dùng "khí
giới" bảo vệ một thành quách có bốn cạnh- Tất cả để
nên thành chữ: "Quốc- Nước". Riêng Người Việt do tính thực
tế và cũng thuần hậu hơn, bên cạnh những từ Hán-Việt
như "Tổ Quốc", "Quốc Gia", có thêm những từ thuần Việt,
những tiếng Nôm giản dị nhưng mang ý hàm xúc cảm động:
Ðất-Nước - là một từ đầy đủ ý nghĩa cao quý nầy.
Nước là một của Năm thành phần cội nguồn bản thể vũ
trụ. Nước cũng là yếu tố xây dựng nên giải đất thân
thiết gọi là Quê Hương - Quê Hương ta dài theo những giòng
Sông, và cận kề Biển lớn. Sông, biển chuyển nước nuôi
sống người, và cũng dâng nước nên thành lũ lụt. Dân tộc
ta nhận tặng vật tồn tại từ đất-nước, nhưng cũng hứng
chịu bao tầng khắc nghiệt đọa đày do thiên nhiên thân thiết
nầy.. Trời hành cơn lụt hằng năm.
Trước khi nói đến những tàn phá,
thảm cảnh do cơn lụt năm nay, chúng ta có thể trở lại trận
bão lụt gớm ghê tàn khốc của đầu thế kỷ vừa qua, cũng
một Năm Thìn, 1904 mà dấu ấn tai ương đã thể hiện qua
một cụm từ để chỉ điều bất hạnh xưa cũ, nên thành
mối đe dọa thường trực rình chờ, "Năm Thìn Bão Lụt".
Mười giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1904
tức ngày Rằm tháng Ba âm lịch, năm Giáp Thìn, gió bắt đầu
thổi mạnh từ khơi xa kéo vào đất liền… Cơn gió mỗi
lúc mỗi cuồng loạn, tăng dần, và kéo dài cho đến mười
giờ đêm. Gió thổi dâng nước biển thành những đợt sóng
thần ập nhanh vào bờ như một đàn voi hung hản bị đốt
rừng, suốt một vùng từ Trà Vinh, Mỹ Tho, Bến Tre tới Gò
Công, trung tâm hứng chịu đầu ngọn bão. Mọi người đang
sinh hoạt bình thường vội vàng bỏ chạy, tìm những nơi
cao để trú ẩn, nhưng sức người không kịp với tốc độ
kinh hoàng của nước cuốn… Người, vật, nhà cửa đồng
bị trôi phăng như những mảnh nhỏ vỡ tan tác. Vào đến
chiều tối, toàn vùng Tiền Giang ngập chìm dưới mặt nước
như biển Ðông chuyển nguồn tràn vào đất liền, rãi rác
trên làn nước hung hản những đụn rơm, mái nhà, những dề
độc bình khổng lồ vướng cây, cành củi mục phăng phăng
trôi ra biển, tiếng kêu cứu vang vang trên đồng nước xám
đục… Nhưng may mắn thay, chỉ trong vòng hai ngày, nước mau
chóng rút xuống, phơi lại một vùng đồng bằng ra đến vàm
sông Tiền lềnh kênh xác người, thú vật, đồ đạc, nhà
cửa ngỗn ngang tơi tả, đồng ruộng toàn phủ một màu bùn
xám đục, lay lắt những bụi lùm xiêu lệch, điêu tàn. Chiều
ngày 16 tháng Ba âm lịch, người sống họp đoàn với nhau
đi tìm thân nhân, mực nước còn khoảng ngang đầu gối, họ
đi dò dẫm giữa đám thây chết nằm chật cánh đồng bốc
mùi bùn non và tử khí. Sáng 17, nước cạn nhiều, kẻ sống
sót đi lùng sục khắp nơi, thấy xác chết, họ lật lên để
nhìn mặt, gặp phải thân nhân thì chôn ngay tại chỗ, không
cần quan quách, hòm gỗ, thậm chí không có đến chiếc chiếu
bó. Bởi, người chết còn không nơi trú thân, đàn ông phải
đi bòn mót cây vụn, lá nát về cất tạm chòi; đàn bà lo
kiếm nồi, niêu, soong chảo, chum vại, hốt lúa đổ để bòn,
sàng, phơi khô, hong, sấy để có đồ đựng nước, nấu cái
ăn. Thảm cảnh được ghi lại qua những giòng thơ nhân gian
đơn giản, bi thương:
… Rủ nhau đập xác cho
liền
Gặp đâu chôn đó, chớ nề
ai khiên
Thân chết chôn rồi đã yên
Còn người sống sót, gạo tiền
đâu ăn?
(Năm Thìn Bão Lụt, Hứa Hoành, Ði
Tới 30&31, Tháng 2&3, 2000, Canada)
Bão lụt Năm Thìn đầu thế kỷ
kia chỉ gây tác động trong hai ngày ngắn ngủi với những
tỉnh ven biển, lưu vực sông Tiền Giang, do cơn thịnh nộ
từ thiên niên giáng xuống riêng phần đông những "người
cùng khổ"- chúng ta sẽ giải thích yếu tố nầy ở phần
tiếp theo. Nhưng "bão lụt Năm Thìn" đầu Thiên Niên kỷ thứ
Ba nầy có nguồn gốc, mức tác động sâu xa, cùng khắp mà
không những chỉ do khắc nghiệt của "ông Trời", nhưng con
người đã dự phần vào lần tàn phá với tất cả thậm
tệ ngu dốt, tham tàn ác độc - những kẻ đang cầm quyền
ở những quốc gia nơi khu vực Ðông-Nam Châu Á - những nhà
nước gọi là "nhà nước xã hội chủ nghĩa". Chúng
ta hãy xét xem thành quả từ những tập đoàn cai trị "của
dân, do dân, vì dân…(1)" trong tương quan "núi liền núi,
sông liền sông (2)" của chúng. Vì do "núi liền núi,
sông liền sông…",
nên "nhà nước anh em Trung quốc"
xây tám chiếc đập không lồ trên thượng lưu sông Cửu Long,
miền Vân Nam bất chấp sự phản đối của những thành viên
Uûy Ban Sông Cửu Long (gồm Thái Lan, Lào, Kampuchea, và Việt
Nam)- như thế có nghĩa, người Trung Hoa đã thay Trời (nói
đúng ra là qua mặt Trời), giữ hết nước trong mùa khô,
và tháo nước trong mùa lũ xuống vùng hạ lưu sông. Ôâng
Trời thật đã rất khôn ngoan, tài giỏi lường trước những
sự kiện kể trên, nên khi đến Nam Vang, nối thêm vào sông
Cửu Long một phụ lưu khác là sông Tonlésap, tiếp giòng chảy
với Biển Hồ, với sức chứa 80 tỷ m3 nước. Từ hợp lưu
nầy, sông chia làm hai nhánh; nhánh chính- Sông Tiền - đi về
đông, qua Neak Luông chảy vào Việt Nam ở cửa khẩu Tân Châu,
Mộc Hóa, Hồng Ngự thuộc tỉnh Kiến Phong (sau 1975, chính
quyền cộng sản đổi tên là Ðồng Tháp), tiếp đi qua Sa-
Ðéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Gò Công để ra biển ở Cửa Tiểu,
Cửa Ðại, Hàm Luông, Cổ Chiêm và Cung Hầu. Nhánh thứ hai
- Sông Hậu - chảy qua Châu Ðốc, Long Xuyên, Cần Thơ đổ
ra biển bởi ba cửa: Ðịnh An, Ba Thắc, Trần Ðề. Nối hai
sông là những kênh đào có chức năng giao thông và trị thủy.
Với một hệ thống kênh, rạch, sông được thiên nhiên và
con người phối trí như trên, miền Nam dù cho có chế độ
thủy văn khác biệt vào hai mùa mưa, nắng, các cơn lụt hằng
năm trong suốt thế kỷ qua (vào những năm 1961, 64, 84, 91…)
không hề gây nên những tác hại quá đổi nghiêm trọng (trừ
trường hợp cơn bão lụt năm 1904 như vừa kể trên mà chúng
ta sẽ có dịp so sánh ở những phần tiếp theo liền sau),
bởi Biển Hồ và sôngTonlésap quả là một đường thoát lũ
kỳ diệu, nên đến mùa lũ lụt, mực nước đồng bằng Cửu
Long chỉ dâng lên từ từ, và cũng chính nhờ đó mà Miền
Nam mới có vụ "lúa xạ- làm chơi ăn thiệt- nước dâng
đến đâu, lúa nổi đến đó". Nhưng hai mươi lăm năm
sau ngày "nước nhà thống nhất về mặt nhà nước- nhà
nước xã hội chủ nghĩa- xã hội chủ nghĩa tiến tiến",
tất cả lợi thế thiên nhiên, kinh tế, môi trường thuận
lợi, tốt lành như trên (do Trời dựng nên) đã không còn
nữa… "Chế độ Mỹ- Ngụy với chất độc màu da cam"
được nêu lên hàng đầu để giải thích sự suy thoái
môi trường ở Việt Nam, nhưng khổ thay, "miền Bắc xã
hội chủ nghĩa" lại là không nằm trong đối tượng chịu
sự phá hoại của "lực lượng phản động với phương
pháp khai quang tối độc kể trên", mà lại là địa bàn
"thí nghiệm thực hiện" di chúc của "hồ chủ tịch
vô vàn kính yêu", với ngày Mồng Năm Tết âm lịch là
"ngày trồng cây nhớ bác"- mà cây bạch đàn là mẫu
mực thi đua trồng xuống. Bạch đàn là một loại cây vô
dụng tệ hại nhất trong tất cả các "loại cây công nghiệp
được quy hoạch hóa trồng đại trà", thậm chí dùng cho
việc đun bếp cũng bất lợi vì quá nhiều khói, và không
giữ nhiệt. Thiên nhiên miền Bắc trong mười năm xã hội
chủ nghĩa bị phá nát mau chóng hơn cả 100 năm chế độ thực
dân Pháp bóc lột – đấy là thống kê của giới chuyên
viên, nghiên cứu Miền Bắc chứ không là kết luận tùy tiện
từ một kẻ "tuyên tryền chống đối chế độ của Ngụy
quân, Ngụy quyền Miền Nam". Quê hương Miền Nam còn chịu
phần tệ hại hơn, vì đây là đối tượng của "đòn thù
giải phóng" sau 30 tháng Tư , 1975, nên thảm thực vật cận
sơn Miền Trung, cây rừng Miền Ðông, kênh rạch Miền Tây,
toàn bộ hệ thống thoát nước, đê, đập, cầu đường suốt
Miền Nam, ngay tại Sài Gòn (thành phố mang tên bác!!)… hiện
nay tất cả đồng ở mức báo động cuối cùng. Trở lại
nguyên cớ đầu tiên, do người "anh em môi hỡ răng lạnh"
Trung Quốc đóng tám chiếc đập thượïng nguồn sông Cửu
Long, đổ theo giòng sông một lượng chất độc cực tai hại
gấp bội hiện tượng nhiễm độc tại vịnh Minamata, Nhật
Bản gây ra bởi công ty hóa chất Chisso… Ðầu sông bị đổi
giòng, giữa sông nước không thoát kịp, và cuối sông, hệ
thống giòng chảy bị tắt nghẽn… Thế nên, không cần đợi
đến "năm Thìn bão lụt-2000", để "ông Trời " lập
lại phần tàn ác như định mệnh báo trước mà từ năm 1999,
hai Sông Thạch Hãn, Quảng Trị, và Hương Giang, Huế-Thừa
Thiên đã lên đến "đỉnh cao của mức tàn phá với kỷ
lục nhận chìm Quốc Lộ 1 dưới hai thước nước!!" dẫu
rằng đỉnh lũ của Thạch Hãn, và Hương Giang năm 1999 nầy
chỉ hơn đỉnh lũ 1968 ở QuảngTrị là 12 cm, và hơn kỷ lục
1983 của Thừa Thiên 9 cm - Trên phương diện thủy học, sự
chênh lệch nầy hầu như vô nghĩa - (Nguyễn Minh Quang, SÐD
như trên). Nhưng năm 2000 nầy, tai họa tưởng như là chuyện
hoang đường, bởi "lũ dâng từ tháng 7, chứ không phải
chỉ hai ngày chóng vánh của đầu thế kỷ", và các chuyên
viên cứu nạn của Hội Hồng Thập Tự Thế Giới đã ước
tính nên con số dữ kiện chính xác: Phải di tản khoảng 175.000
người hay 35.000 gia đình ra khỏi vùng tác động bởi lũ lụt
thuộc khu vực Tiền Giang, và toàn bộ vùng đồng bằng phải
lên đến tổng số 300.000 người. Nhưng tất cả hóa ra
chỉ là con số để nhà nước cộng sản xử dụng làm báo
cáo với Liên Hiệp Quốc để đòi tiền cứu trợ - Và chỉ
cứu trợ cho những "gia đình có công với cách mạng"- những
hộ sống ở Khu Ba Ðình Hà Nội, hoặc quanh phi trường Tân
Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH cũ!! Do từ chính sách
"cứu trợ cách mạng" nầy nên "hằng ngày có đến
từ 20 đến 30 đứa trẻ chết đói hoặc rơi xuống giòng
chảy do cha mẹ phải vắng nhà để để kiếm cái ăn"- Tình
cảnh của gia đình bà Nguyễn Thị Hợp ở Cao Lãnh, Kiến
Phong- Tin của Reuter, AP ngày 10 tháng 10. Bản tin cũng nêu rõ,
có đến 236 đứa trẻ chết trong tổng số 319 người bị
nạn. Ða số là con trẻ dưới 3 tuổi.
-
Kẻ vô lại và nhà nước cộng
sản Hà Nội
Nhân trận bão Năm Thìn, 1904, những
kẻ vô lại, trộm cướp, điếm đàng thừa nước đục thả
câu, đi tìm những xác chết phụ nữ để lột nữ trang, hoặc
chẻ rương để lấy tiền của; tồi tệ hơn, chúng đi bắt
gà, vịt, heo, bò còn sống để làm thịt nhậu nhẹt. Bọn
người tán tận lương tâm nầy chỉ là thiểu số, vì quả
là con người nên không ai nỡ "tìm cách sinh lợi kinh teá"
trên xác chết của đồng loại. Và từ hoạn nạn năm xưa
kia đã sáng rực nên danh thơm về những người có tâm chất
nhân ái, hào hiệp… Ông Lộ Công Tập, Cả Bỉnh, Tham Biện
Adamolle ở Gò Công, hoặc những người đại tâm "ân nghĩa
vô danh" đã cùng nhau cứu khổ đồng bào bằng phương tiện
riêng…
Ông Cả (Bỉnh) làm phước
ân thi
Gạo lức nước mặn ăn đi đỡ
lòng…
Hoặc, Năm Dinh một đấng sĩ
hiền
Bao nhiêu xin xỏ, hỏi liền cấp
ngay
Hương Sang, Hương Chỉ tay cũng
thảo
Chứa một nhà cơm cháo dưỡng
nuôi..
(Hứa Hoành, SÐD)
Năm nay, sau tai họa lũ lụt 2000, thống
kê Liên Hiệp Quốc nêu lên con số: Ðã có 5 triệu đô-la
Mỹ do các chính phủ, 5 triệu do tổ chức tư nhân, cộng đồng
Người Việt khắp thế giới yểm trợ về nạn nhân; Hồng
Thập Tự Thế Giới và Liên Hiệp Quốc đang có kế hoạch
vận động thêm 10 triệu nữa (Tin AP ngày 16 tháng 10, 2000).
Cũng theo các thống kê trên - mỗi nạn nhân bão lụt Việt
Nam (lẽ tất nhiên không phải là "thành phần có công với
cách mạng") đã nhận được một số tặng phẩm cứu trợ
ngang giá 25 cent, một phần tư đô - la Mỹ.
Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, dẫu
đã 73 tuổi, nhưng bởi quá xót đau vì cảnh khổ chúng sinh,
nên Người đã hướng dẫn một phái đoàn gồm 55 tăng, ni,
đạo hữu xuống Miền Tây cứu trợ, nhưng cá nhân hoà thượng
và phái đoàn đã bị công an cộng sản bắt giữ đưa trở
lại Sài Gòn. Năm 1994, Người đã bị bốn năm tù vì một
hành vi từ bi tương tự. Bên Nam Vang, Hunsen, một kẻ cầm
đầu đang theo "chủ nghĩa xã hội-mô hình Hà-Nội- Bắc
Kinh", cũng đang có lời xin quốc tế cứu trợ đồng bào
Kampuchea bị nạn lụt sông Cửu Long, nhưng không nghe tin người
nầy bắt giam những sư sải đi cứu giúp người cùng khổ.
Hóa ra kẻ nào itù nhiễm phải "tư tưởng Mác-Lê Nin - Hồ
Chí Minh" thì kẻ ấy còn có đôi chút tính người hơn.
MN, 11 tháng 11, 2000.
(1&2): Cụm từ tự đánh giá
về chế độ, và chỉ mối kiên hệ giữa Hà Nội - Bắc Kinh |