Tạp Chí
Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt
Nam Tự Do Dân Chủ P.O.
Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada Phone+Fax:
(604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179 Email:
nsvietnamyahoo.com
Cập nhật hóa
hàng ngày
Chủ
Biên:Hải Triều Ðại
diện nhóm Úc châu: Trương Minh
Hoàng
- Ðại diện nhóm Âu châu:
Trần Hữu Phúc - Ðại diện
nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn
- Ðại diện nhóm nội địa:
Hồng
Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những
người góp phần đấu tranh
cho một Việt Nam tự do, thực hiện
bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành
trên toàn thế giới.
Ngày 14 tháng 9, năm
1972 cách đây đúng 30 năm tại
Thị Xã Quảng Trị, thành phố
cực Bắc của lãnh thổ Việt
Nam Cộng Hòa, đã diễn ra trận
chiến của giai đoạn cuối cùng,
quyết định đối với hình
thái quân sự, để từ
đó kết thúc vận mệnh chính
trị Miền Nam, giải quyết vấn đề
Việt Nam. Chiến trận mở đầu
cuộc tổng công kích toàn miền
Nam do Bộ Tổng Quân Ủy Hà Nội
trực tiếp chỉ huy mang danh hiệu Nguyễn
Huệ với ba điểm mục tiêu:
Quảng Trị, An Lộc (Bình Long) và Kontum,
Tây Nguyên. Hôm nay, chúng ta chỉ giới
hạn với mục tiêu vùng trận
địa nam sông Bến Hải thuộc hai
tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên. Ðúng
vào trưa ngày Lễ Phục Sinh, 30 tháng
3, 1972 hệ thống pháo, cối, hỏa tiễn
cộng sản gồm súng cối 82 ly, hỏa
tiễn 122 ly, pháo 122, 130 ly, và 152 ly đồng
loạt đổ xuống năm căn cứ
hỏa lực do các Trung Ðoàn 2, 56,
57 Sư Ðoàn 3 Bộ Binh, Lữ Ðoàn
147 Thủy Quân Lục Chiến, và Liên
Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân trấn
giữ - phần đất phía nam khu
Phi Quân Sự ngăn đôi hai miền
Nam-Bắc, chạy dài từ bờ
biển vào biên giới Lào Việt.
Cùng ngày, cùng giờ, căn cứ
Aùi Tử, bản doanh Sư Ðoàn
3, đơn vị chỉ huy tổng quát lực
lượng mặt trận giới tuyến
cũng cũng chịu chung một hoàn cảnh
thụ động tan tác - nằm im hứng
đạn pháo. Bởi một điều
đau đớn khắc nghiệt đã
xẩy ra và không phương cứu
vãn: Pháo binh quân lực Miền
Nam không có khả năng phản pháo
đến những vị trí pháo
kia của bộ đội Miền Bắc vì
tầm bắn ngắn hơn - mà dẫu
có với tới đi chăng nữa
thì cũng không chắc phá hũy
được vì những vị trí
pháo nầy đã được
thiết lập, củng cố, bảo trì
từ sau Mậu Thân 1968, rút kinh nnghiệm
từ trận Hạ Lào, Khe Sanh (1971). Nương
theo đợt pháo kích kéo dài
liên tục trong suốt 6 ngày kể từ
ngày giờ kể trên, một lực
lượng gồm hai Sư Ðoàn 304,
308 bộ binh phối hợp cùng những
trung đoàn địa phương, đặc
công, độc lập của Mặt Trận
B5, có sư đoàn 324 B làm trừ
bị (mặt trận vùng Trị-Thiên do
Bộ Tổng Quân Ủy Hà Nội đặt
ám danh) có khoảng 200 xe tăng tùng
thiết, đồng loạt tấn công những
vị trí hỏa lực của quân đội
Miền Nam. Cần nói rõ thêm, Sư
Ðoàn 3 Bộ Binh lại là một đơn
vị tân lập, số đông binh sĩ
(kể cả sĩ quan) là thành phầân
quân phạm, hoặc lao công đào binh,
nên đơn vị thiếu hẳn khả
năng, kinh nghiệm chiến đấu trên
những chiến truờng quy mô - Thế
nên, việc rút bỏ Quảng Trị vào
những ngày cuối tháng Ba phải
xẩy đến như một điều hẳn
nhiên, sau khi dãy căn cứ hỏa
lực tiền phương Nam sông Bến
Hải bị phá vỡ. Nhưng lần
lui binh bi thảm tàn khốc nầy được
ngừng lại tại phòng tuyến sông
Mỹ Chánh (địa giới thiên
nhiên giữa Quảng Trị - Thừa
thiên) với Tiểu Ðoàn 2 Thủy
Quân Lục Chiến chỉ huy bởi TrungTá
Nguyễn Xuân Phúc. Ðơn vị và
người chỉ huy được đánh
giá là biễu tượng hàng
đầu của sức chiến đấu
quân lực Miền Nam - Không chỉ từ
phía dân, quân VNCH mà chính bởi
thành phần cán binh bộ đội cộng
sản khi vào khi đoạt chiếm phần
đất nầy (tháng Ba 1975) qua lần
báo thù sát hại không nương
tay đối với "Trâu Ðiên-
Tiểu Ðoàn 2 TQLC".
Từ phòng tuyến Mỹ
Chánh, ngày 28 tháng 6, Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân
Ðoàn ra lệnh khai diễn chiến dịch
tái chiếm Quảng Trị với kế
họach Lôi Phong trãi một màn lưới
lửa, bão thép tới mục tiêu
cuối cùng - Cổ Thành Ðinh Công
Tráng, khối gạch nung mỗi cạnh dài
500 thước, với năm thước
cao và bề dày- lên tới hai
bờ nam, bắc sông Bến Hải; từ
bờ biển vào sâu trong Trường
Sơn, dọc theo đường tiếp
vận của Bắc quân với huy động
tất cả hỏa lực, phi pháo có
được ở đất liền,
ngoài biển Ðông: Hạm Ðội
7, những phi cơ B52 nơi các phi trường
Guam, ngoài khơi Thái Bình Dương,
hoặc ở Utapao, Udon, Thái Lan. Vào giai
đoạn Hai của Lôi Phong, trong suốt 48
giờ kể từ 12 tháng 9, không
quân chiến lược B52 liên tục
trải thảm từ sông Thạch Hãn
(bắc cổ thành) đến Ðông
Hà (Bắc Quảng Trị 50 cây-số)
để dập nát tất cả vị
trí pháo binh, hoả tiễn, bộ chỉ
huy, điểm tiếp vận của phía cộng
sản; tiếp đến hải pháo từ
Hạm Ðội 7 bắn vào các điểm
nghi ngờ vào những lúc phi cơ
tạm rời vùng; pháo binh diện
địa 175 ly từ Phong Ðiền tăng
cường quấy rối, đặc biệt
chiếu cố thật kỹ vị trí toạ
độ cổ thành; 12 khẩu đại
bác 155 ly, 54 khẩu 105 ly cơ hữu của
Sư Ðoàn TQLC được lệnh
tác xạ không ngừng một phút,
pháo thủ chỉ thay nhau ngủ vài giờ
nửa đêm, từng khẩu pháo
được điều chỉnh để
không một trái đạn rớt
ra ngoài bờ thành. Tám tiểu
đoàn của hai Lữ Ðoàn
147, và 369 TQLC sau khi thay thế lực lượng
nhảy dù kể từ ngày 27, tháng
7, đã chiến đấu qua từng
tấc, từng phân vuông của mục
tiêu chiến trận để tiến tới
khu vực cổ thành. Và trong 48 giờ
cuối cùng nầy, người lính
giữa cảnh chết, vượt sự
chếtđã tiến lên, xốc tới
để xác chứng minh cùng lịch
sử, quốc dân, cùng thế giới:
QUÂN LỰC VNCH LÀ MỘT QUÂN ÐỘI
CÓ SỨC CHIẾN ÐẤU THẦN
KỲ VÀ HỌ ÐÃ OAI HÙNG CHIẾN
THẮNG.
Rất nhiều quân lực,
binh đoàn của lịch sử thế
giới được nhở sau chiến
tích. Nhưng quân đội VNCH đã
bị lãng quên. Rất nhiều đơn
vị được tuyên công. Nhưng
tập thể quân đội VNCH đã
bị xúc phạm. Nhiều đoạn quân
sử hằng hằng ca ngợi biểu
dương. Nhưng thật có một đời
dài chiến đấu bị xóa bỏ
và tàn nhẫn hạ nhục. Ðơn
vị đó là của Chúng Ta. Tập
thể đó là Chúng Ta. Ðoạn
quân sử bi hùng đó do chính
Chúng Ta viết nên bằng xương
máu của triệu người Việt
Nam chết thảm, với mỗi Ðơn
Vị, của từng Người Lính.
Nhưng bởi trị giá
của chiến thắng lẫm liệt ngày
14 tháng 9, 1972 vừa kể trên chỉ
được xem như là viên đá
tảng giúp người Mỹ đặt
xuống bàn hội nghị tại Paris để
hoàn thành Hiệp Ðịnh Tái Lập
Hòa Bình tại Việt Nam (đúng thời
hạn dự dịnh, tháng 10) trước
kỳ bầu cữ tổng thống Mỹ
- qua nhận định tự tin, đắc
chí của Ngoại Trưởng Kissinger:"Quả
thật, chưa bao giờ chúng ta có
được vị thế thượng
phong như thế khi bàn thảo trong giai đoạn
chiến tranh. Bởi vì ngày 15 tháng
9, quân lực miền Nam đã chiếm
lại QuảngTrị, thị xã bị mất
vào tay Hà nội trong cuộc
tấn công trước đây"(*).Hoặc
chỉ để Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu mạnh dạn tuyên bố (đối
với những áp đặt của
chính phủ Mỹ) trong ngày 20 cùng
tháng vào buổi lễ mừng chiến
thắng ở Huế: "không ai
có quyền bàn thảo và chấp
nhận một giải pháp", ngoại trừ
dân chúng Miền Nam"(**). Trong khi cả
hai cùng biết rõ rằng: Vào giai
đoạn bản văn hiệp định sắp
sửa hoàn thành thì cộng sản
Hà Nội đã lợi dụng cơ
hội, công khai đưa vào Nam khối
lượng lớn quân trang, quân
cụ, vũ khí, nhân, vật lực
để chuẩn bị lần xâm lược
toàn diện; như chỉ trong một ngày
26 của tháng Hai, 1973 một số lượng
gồm 175 xe vận tải chở đầy
người, vũ khí bình thản
vượt qua sông Bến Hải, vùng
Phi Quân Sự, hoặc 223 chiến xa đi
ngã đường mòn Hồ Chí
Minh, chạy ngang đất Lào. Bởi
cả hai phía (Mỹ lẫn Việt) đồng
quan niệm: "Chiến thắng quân
sự kia chỉ giúp họ thế mạnh
chính trị, giữ vị trí quyền
lực lâu thêm một đoạn thời
gian", chứ không là cơ hội xây
dựng, củng cố đội ngũ chiến
đấu cho Miền Nam, của lực lượng
bảo vệ Tự Do-Dân Chủ." Thế
nên, thất bại ngày 30 tháng Tư
1975 không riêng đối với Dân
Tộc Việt, người Miền Nam nhưng
là hiện thực lần chiến thắng
của Bạo Lực và sự khiếp
nhược tinh thần của toàn thế
giới đã im lặng đồng
lõa đối với Sự Ác.
Hãy nhìn vào tình cảnh lầm
than, đau thương đã xẩy ra đối
những dân tộc trên bán đảo
Ðông Dương, ở Nicaragua, Salvador,
Rawanda, Ethiopia, Apghanistan.. Chính sách khủng
bố đang tràn lan khắp địa
cầu hiện tại không là hiện tượng
ngẫu nhiên, đột phát. Riêng
những người lãnh đạo
Miền Nam thì tự thân bày ra mục
tiêu cá nhân mà lâu nay họ che
dấu dưới những chiêu bài
"quốc gia, tự do, dân chủ" - Họ
không nghĩ tới, không đủ
sức đi tới cùng đích
cao cả của Lịch Sử, hoàn tất
sứ mệnh lớn lao của toàn
Dân Tộc: Sống-Chiến Ðấu
để Bảo Vệ Tự Do - Phẩm Giá
Con Người. Những cụm danh từ,
tỉnh từ hàm súc, thiêng liêng
nầy nầy hoàn toàn không là
chữ nghĩa, khẩu hiệu suông - Chúng
được xác chứng với
máu, xương của lớp lớp
Người Việt liên lũy ngày,
đêm (kể từ 30 tháng 4 đến
14 tháng 9, 1972 và tiếp theo cho mải đến
ngày 30 tháng 4, 1975) nằm chung với
xác chết (nếu như họ chưa phải
chịu cơn lâm tử rất chắc
chắn xẩy ra ở phút, giờ
kế tiếp), hít thở không khí
đầm đìa mùi người
chết, uống nước hố bom lây
lất máu thịt thây người.
Nhưng những con người trong hoàn
cảnh nguy nan kiệt cùng kia vẫn sắc
son, bền bỉ lòng tin: "Mình về
Quảng Trị. Mình ở lại cùng
Quảng Trị bởi lính mình đã
đổ bộ nơi Mỹ Thủy, ở
Hải Lăng, lấy lại Cổ Thành..."
THẾ NÊN, GIÁ TRỊ
CHIẾN THẮNG 19 THÁNG 4, 1972 Ở QUẢNG
TRỊ VẪN SỐNG MÃI TRONG LÒNG MỖI
NGUỜI DÂN NƯỚC VIỆT. NƠI
MIỀN NAM.
(*ø**): White House Years,
Henry Kissinger, Little, Brown Co, 1979; pp 1333, 1335.