Phương
Nam, Không Hề Thiếu Hào Kiệt...
Như trận chiến không
hề chấm dứt của ba mươi bảy năm trước, "Người Tù Kiệt
Xuất Nguyễn Hữu Luyện (*)"lại thêm một lần xung trận.
Nhưng lần nầy là mặt trận im lặng không tiếng súng, không
va chạm vũ khí, chỉ do quyết tâm Kẻ Sĩ không khoan nhượng
điều mưu toan hiễm độc, sự dối trá bày bức hại, và
làm vấy nhục con người. Trận chiến của những con người
muốn giữ gìn lương tri, phẩm giá bản thân, của Người
Lính QLVNCH, cũng cho cả Miền Nam, và toàn thể Việt Nam khổ
nạn. Cao quý và đáng kính phục biết bao, dù đã phải gánh
chịu hơn 22 năm tù nơi Miền Bắc, thêm ba năm tù ở Miền
Nam, nhưng Anh không hề mệt mõi trong trận chiến không cân
sức giữa một Con Người và bên kia là bộ máy bạo lực
bức hại toàn Dân Việt, và hôm nay Anh lại thêm một lần
bắt đầu. Thế nên, chúng tôi muốn bày tỏ - Vâng, Chiến
Hữu, Chúng Tôi luôn có mặt cùng Anh. Bởi, nếu vắng mặt
sẽ là một tội rất lớn - Tội bỏ ngũ khi đồng đội hiến
thân.
(*) Tính danh của Ký giả Lô-răng
Phan Lạc Phúc viết về Nguyễn Hữu Luyện, người sĩ quan
QLVNCH bị chế độ cộng sản Miền Bắc cầm tù lâu nhất:
1965-1987, chưa kể những hai hạn tù do "tội vượt biên"
sau khi đã trở về lại Miền Nam.
1- Diễn tiến: Ðến Mỹ lúc
tuổi 60 sau những năm tháng tù dài bằng 1/4 thế kỷ ở những
trại tù "chết người" như Trại Quyết Tiến trên đỉnh núi
Tây Côn Lĩnh, "Cổng Trời" ở Hà Giang, biên giới cực bắc
Việt Nam, nơi tổng số ngôi mộ nhiều hơn tập thể tù nhân.
Nay, Người Lính Nguyễn Hữu Luyện lại thêm một lần xung
trận để giữ vững nguyên tắc về "Tính Thiện-Sự Thật"
qua vụ án không cân sức giữa cá nhân anh đối chứng với
trường đại học bảo thủ, bề thế, mạnh cả tiền, lẫn
thế lực - Ðại Học Massachuchettes-Boston. Vụ án thành hình
và diễn tiến như sau:
Khoảng mùa Thu năm 1998, khi đang
theo học chương trình cao học với học trình "Khảo Cứu Ðộc
Lập về đề tài American Studies 696" tại Ðại Học Massachusettes-Boston
(UMass-Boston), Nguyễn Hữu Luyện được biết về chương trình
dự án biên soạn đề tài:"TÁI LẬP TÍNH DANH VÀ
VỊ TRÍ TRONG CỘÂNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT LƯU VONG Ở HẢI NGOẠI
- (RE)CONSTRUCTION IDENTITY AND PLACE IN THE VIETNAMESE DIASPORA").
Từ phần nghiên cứu đã thực hiện trong khóa học, anh nghĩ
mình sẽ được hữu dụng đối với công tác thực hiện
dự án. Khi nộp bài nghiên cứu đến Giáo Sư Kiang, giáo sư
bảo trợ luận án, ông nầy đã chuyển đến anh một tài
liệu về "Học Bổng Nhân Văn của Cơ Sở Rockeffeller tài trợ
cho Kế Hoạch Khảo Cứu của Ðại Học Mass- Boston" về đề
tài kể trên. Sau một thời gian, Giáo Sư Kiang yêu cầu anh
giới thiệu vài người có khả năng cáng đáng công việc
nghiên cứu, anh trả lời có biết một số người, và họ
có thể kêu gọi thêm một số người khác một khi chương
trình được phổ biến.
Nguyễn Hữu Luyện thật sự đã
xúc động mạnh mẽ khi đọc những chủ đề "Năm Thứ Nhất"
của kế hoạch khảo cứu, bởi bản thân anh là nhân chứng
sống, đã dự phần suốt giai đoạn trên của lịch sử Việt
Nam với hoàn cảnh tù từ Bắc vào Nam (vì thêm "tội vượt
biên" sau "tội Lính Biệt Kích"), những khắc nghiệt đọa
đày "đi vùng kinh tế mới", thảm kịch vượt biên của chính
gia đình anh, cũng như toàn thể Miền Nam sau 30 tháng Tư, năm
1975. Từ những lý do nầy, anh nghĩ rằng, bản thân quả xứng
đáng để viết về những chủ đề của chương trình, nên
luôn liên lạc cùng với giới truyền thông thuộc Cộng Ðồng
Người Mỹ gốc Việt vùng Boston để ngóng chờ thông báo
về việc tuyển dụng nhân viên nghiên cứu. Nhưng quả tình
chỉ là vô vọng. Tất cả hệ thống truyền thông gồm nhật
báo, tuần báo, đài phát thanh, đài truyền hình của Người
Mỹ gốc Việt vùng Massachusettes hoàn toàn không nhận được
bất cứ quảng cáo, tin tức gì về chương trình hoạt động
nghiên cứu của Trường Ðại Học Mass-Boston.
Ngày 11 Tháng Tư, năm 2000,
Ông Lê Anh Tuấn, Chủ Tịch Cộng Ðồng Người Việt vùng
Massachsettes chuyển đến anh một phong bì, và một thông cáo
báo chí, do Trung Tâm William Joiner (một Ban của UMass-Boston)
đã gởi tới ông bằng đường bưu điện. Dấu bưu điện
đề ngày 4 tháng Giêng, 2000. Thông cáo ấy đề
ngày
22 tháng 12, 1999, và ấn định
hạn chót để nộp
đơn ứng tuyển là 31 tháng giêng, 2000. Nguyễn Hữu Luyện
và Cộng Ðồng Người Việt vùng Massachusettes quả ở phải
vị thế "nước ngập đến cổ" như trong cuộc tranh
đua với một tập đoàn đang yên vị nơi an toàn, thuận lợi,
trong lúc lũ lụt vùn vụt dâng cao.
Ngày 12 tháng Năm, 2000, Giáo
Sư Peter Kiang chuyển đến anh qua đường email Thông Cáo Báo
Chí đề ngày 15 tháng Tư, 2000, để thông báo về việc
"đã tuyển chọn xong người" nghiên cứu chủ đề "Năm
Thứ Nhất" của chương trình. Vài ngày sau, Ông Kiang trao thêm
cho anh bản sao của Thông Cáo Báo Chí (kể trên), và cũng đã
chuyển đến cho Ông Nguyễn Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Ðồng
Người Mỹ gốc Việt vùng Masschusettes bản văn tương tự.
Nguyễn Hữu Luyện tin rằng, và tin đúng, thông cáo nói trên
chỉ được gởi riêng cho anh và Nguyễn Bình mà thôi - nghĩa
là tất cả những gì gọi là "vấn đề đã được phổ
biến đến báo chí và quần chúng".
Quá đỗi ngạc nhiên và bất bình
về vụ tuyển chọn, từ tháng Năm cho đến cuối tháng Mười,
năm 2000, Nguyễn Hữu Luyện lắng chờ kết quả vận động
của Cộng Ðồng Người Mỹ gốc Việt (vùng Massachsettes),
cũng như toàn thể người Việt rải rác khắp thế giới nhằm
phản đối quyết định của Trung Tâm William Joiner, với hy
vọng rằng trung tâm sẽ điều chỉnh việc tuyển chọn sai
lầm của họ. Nhưng cuộc phản đối đã bất thành, nên ngày
27 tháng Mười, 2000, Nguyễn Hữu Luyện khởi tố vụ kiện.
Nếu xét về mặt
thuần lý
và cầu lợi, thì thật sự đây không là một vụ án
lớn có hậu quả nghiêm trọng quyết định đến sinh mạng,
tài sản vật chất của bất cứ cá nhân, hay số đông tập
thể nào. Trường Ðại Học Mass-Boston có tuyển dụng Nguyễn
Hữu Luyện hay một người nào khác viết về đề tài "Năm
Thứ Nhất - Với những kinh nghiệm trực tiếp về chiến tranh
thực dân (nhiều cuộc chiến tranh); về trại cải tạo, và
cuộc định cư tại những vùng "Kinh Tế Mới", và quá trình
vượt biên ra khỏi Việt Nam sau 1975..." Phụ Bản 2, Trang
2, đính kèm Biện Minh Trạng (BMT) của NHL đối chứng với
Biện Hộ của ÐH/UMass-Boston", chắc hẳn không là vấn
đề, cũng không là vấn đề lớn đối với mỗi người,
hay một cộng đồng người Việt nào trong đời sống hiện
tại nhiều bận rộn, lo toan trên đất Mỹ nầy. Ðối với
người Mỹ chính gốc thì câu chuyện lại càng vô nghĩa, hoàn
toàn không tác dụng. Nhưng đối với Nguyễn Hữu Luyện (và
với chúng tôi sau khi được thông báo, tham dự vào vận động,
diễn tiến vụ án) thì đây là VẤN ÐỀ SINH TỬ- BỞI NỖI
ÐAU NẦY LÀ NỖI ÐAU CHUNG - Nỗi đau thương của hết tất
cả người Việt trong, ngoài nước, dài theo vận mệnh lịch
sử dân tộc. Chúng tôi không nói quá lời, bởi đây không
phải mối đau riêng rẻ, mau chóng lướt qua của một cá nhân
tại một tình huống đặc biệt nào, cũng không phải lần
bị bách hại của một tập thể người có chung một số
quyền lợi cố kết, liên hệ, cũng không là khổ nạn dài
lâu riêng đối với khối người Việt Miền Nam, những công
nhân, viên chức, quân nhân thuộc chế độ Việt Nam Cộng
Hòa và gia đình họ sau lần sụp đổ 30 tháng Tư năm 1975
- cho dù đây là tổng số lớn lao điển hình nhất. Không
phải hoàn toàn như thế. MỐI ÐAU NẦY LÀ CƠN
KHỐN NHỤC LÂU DÀI CỦA TOÀN DÂN TỘC VIỆT - KHÔNG LOẠI TRỪ
MỘT AI (KỂ CẢ ÐẢNG VIÊN CỘNG SẢN)- KHI LỊCH SỬ BỊ CƯỠNG
ÐOẠT, ÐÁNH TRÁO, VÀ VIẾT LẠI THẬM TỆ ÐÊ TIỆN TỪ MƯU
ÐỊNH CHÍNH TRỊ CỦA TẬP ÐOÀN CẦM QUYỀN - ÐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM, BỘ PHẬN CỦA ÐỆ TAM QUỐC TẾ. Công
việc đáng bị kết án và cần phải trừ bỏ nầy do đảng
cộng sản Việt Nam điều động, thực hiện với những người
làm văn hóa của họ. Hai người tên Nguyễn Huệ Chi, Hoàng
Ngọc Hiến là hai trong số bốn thành viên được Trung Tâm
William Joiner tuyển dụng để viết lại đoạn lịch sử lềnh
đầy máu, nước mắt của hằng triệu người Việt lâm nạn,
bởi cái chết và chiến tranh không hề phân biệt, buông tha,
miễn thứ cho bất cứ thân phận người nào trên quê hương
đất Việt. Hai nhân sự nầy là những hạt nhân vô cùng thiết
yếu của quá trình tiếâm dụng, vấy nhục lịch sử mà đảng
cộng sản Việt Nam đã hằng xử dụng, và xử dụng có hiệu
quả từ ngày 3 tháng 2, năm 1930, ngày đảng thành lập, kéo
dài cho hết thế kỷ qua, và hiện nay đang tiếp tục.
Nguyễn Hữu Luyện không thể
im lặng như Anh đã hằng phẫn nộ, không khuất phục Sự
Aùc và Tính Không Thật của chế độ cộng sản suốt trận
chiến đấu không khoan nhượng dài theo cuộc đờøi Anh.
2-Người và Việc - Lý của vụ
án: Nguyễn Hữu Luyện không hề có thái độ, tinh thần
quá khích "chống cộng" khi dựng nên vụ án mà bản thân,
gia đình anh là nạn nhân trước tiên chịu sự khốn đốn
về vấn đề tài chánh trong cuộc chiến không cân sức. Chúng
tôi cũng không cố tâm thực hiện việc làm "bất cận nhân
tình" khi nêu lên tính danh về những nhân sự, người tổ
chức nên hiện tượng bất công bằng trong phạm vi văn học,
và lịch sử - chính trị nầy. Chúng ta cần nói rõ về người,
việc, và phần lý, tình của sự kiện.
Trước tiên, về Trung Tâm William
Joiner, đơn vị thụ lãnh, điều động thực hiện chương
trình khảo cứu "Tái Lập Tính Danh và Vị Trí Trong Cộng
Ðồng Người Việt Lưu Vong". Thành lập từ năm 1982 với
mục tiêu "Nghiên Cứu Chiến Tranh (VN) và
Những Hậu
Quả Xã Hội" (gây nên từ (những) cuộc chiến tranh đó).
Từ năm 1987, trung tâm đã bảo trợ nhiều cuộc trao đổi
sinh hoạt văn hóa, giáo dục với Việt Nam (tất nhiên là Việt
Nam cộng sản), điển hình việc mời hai nhà văn "nổi danh"
Lê Lựu và Ngụy Ngữ thực hiện cuộc "thăm viếng lịch
sử", đánh dấu lần trao đổi văn hóa của hai quốc gia,
mà hai người kia là "đại biểu thuần thành" của quân
đội hai miền Bắc, Nam Việt Nam. (Lê Lựu là thành viên của
Hội Nhà Văn Hà Nội; Ngụy Ngữ vốn là một chuẩn úy đào
ngũ thuộc QLVNCH, tác giả vài truyện ngắn được gọi là
"văn chương phãn chiến"đăng trên một tạp chí văn
học ở Sài Gòn trước 30 tháng Tư, 1975, Phụ Bản 6, Trang
7, đính kèm BMT của NHL). Sau thời gian dài trao đổi văn hóa
với Việt Nam (cộng sản), Trung Tâm WJC có được kết luận
chung cuộc khái quát về tình hình trong nước, và cộng đồng
người Việt hải ngoại như sau: "Hiện thời, giới học
giả ở Việt Nam không chú ý gì mấy về cộng đồng Người
Việt hải ngoại - họ (giới học giả trong nước) đánh
giá thấp tiềm lực kinh teá của tập thể nầy - vì tất
cả chỉ nhắm vào ưu tiên tiêu thụ do thành phần ở hải
ngoại nầyï đã xuất phát từ một quốc gia đã bị tàn
phá tan nát do chiến tranh (chỉ thiếu chữ "Mỹ-Ngụy" là đủ
cho cụm từ mà Hà Nội thường dùng để tố cáo nước Mỹ
và VNCH - Người viết, PNN), mà nay đang cần tái kiến thiết
hạ tầng cơ sở; và cũng do thái độ cố chấp chống đối
chính quyền (trong nước) của một vài thành phần người
tỵ nạn hiện sống trong cộng đồng lưu vong. Nhưng, điều
nầy đang thay đổi". Trung tâm William Joiner tiếp tục có
thêm lời đánh giá chẳng mấy tốt đẹp gì hơn: "Cộng
đồng (Người Việt) lưu vong là những cá nhân, hay là những
nhóm người bị trói buộc bởi lịch sử, họ sống trong "âu
lo, thấp thỏm", và hiếm khi có được những niên biểu đầy
đủ". Nhận định của Chaliand và Rageau, trích trong "Quan
Ðiểm của Chương Trình Học Bổng Nhân Văn thuộc Cơ Sở
Rockfeller năm 1999 - Trang 4, Ðoạn thứ Nhất, Phụ Bản số
7, đính kèm BMT của NHL ". Vì Cộng Ðồng Người Việt
hải ngoại kém cỏi như thế nên chi Trung Tâm JWC và Ðại
Học Mass-Boston phải cậy đến những "học giả đáng tin
cậy và có khả năng" từ trong nước.
Chúng ta bàn tiếp về Nguyễn Huệ
Chi và Hoàng Ngọc Hiến, hai người được Trung Tâm JWC tuyển
dụng. Ðúng ra trung tâm đã tuyển dụng được bốn người,
nhưng một trong số bốn người nầy là công dân Mỹ bản
xứ, người thứ hai là một nữ giáo sư Mỹ gốc Việt, cô
Ðàm, Kiều Linh đến Mỹ từ lúc bốn tuổi. Cả hai dẫu hội
đủ bằng cấp, học vị theo tuyển lựa nhưng hiễn nhiên
không thể nào có đủ "kinh nghiệm, hiểu biết về chiến
tranh, trại tỵ nạn, trại cải tạo- những đề tài của
dự án Năm Thứ Nhất"- Và tất nhiên họ đã "bị hoặc
được" loại bỏ theo như "kế hoạch" dự trù của
trung tâm. Thế nên, chỉ còn lại Nguyễn Huệ Chi và Hoàng
Ngọc Hiến với mặt trận mở rộng thuận tiện quen thuộc.
Bởi đây là lần thứ ba Trung Tâm William Joiner phục kích đánh
bẩn dứt điểm cộng đồng người Việt. Lần thứ nhất
tổ chức cuộc "gặp gỡ lịch sử của hai nhà văn Lê Lựu-Ngụy
Ngữ " nói trên, lần thứ nhì xuất bản tuyển tập "Writing
Between Lines - Viết Giữa Hai Lằn Ðạn", một tuyển tập
truyện ngắn được đánh giá "tập trung những cây bút
tiêu biểu của hai miền Nam-Bắc, viết "trung trực" về chiến
tranh Việt Nam" gồm 12 người viết văn phát xuất từ Hà
Nội và mật khu Miền Nam trong tổng số 14 người. Trước
khi bàn tiếp vụ việc liên quan đến Nguyễn Huệ Chi, Hoàng
Ngọc Hiến, chúng tôi cần phải nói rõ một điều (tưởng
là thừa nhưng thật cần thiết đối với tâm lý người đọc
hải ngoại): Những điều sắp trình bày sau "hoàn
toàn không do cảm tính" của người viết đối với hai
nhân sự đang đề cập, đời sống cá nhân họ và chúng tôi
tuyệt đối không một liên hệ tâm lý, tình cảm, vật chất
nào - Họ chỉ là những "cái cớ", đối tượng của
vấn đề chung nên nay phải đề cập đến. Hai người nầy
là viên chức văn hóa cao cấp của chính quyền Hà Nội, một
người, Nguyễn Huệ Chi, cán bộ chính trị tư tưởng Khoa
Giáo Trung Ương giảng dạy tại Trường Ðảng Nguyễn Aùi
Quốc (trường và báo Nhân Dân là hai cơ quan được xem
ngang với cấp Bộ về tổ chức và chức năng; về
mặt chính trị quan trọng như một Ban); người
thứ hai, Hoàng Ngọc Hiến, giám đốc Trường Dạy Viết Văn
Nguyễn Du. Từ những cán bộ văn hóa nầy, dưới điều khiển
trực tiếp của Ban Tư Tưởng thống thuộc Ban Tổ Chức Trung
Ương Ðảng/Bộ Chính Trị hình thành nên chính sách văn hóa
của đảng cộng sản, chỉ đạo chính trị toàn thể 76 triệu
người Việt Nam (không loại trừ ba triệu người Việt ở
hải ngoại). Họ chỉ đạo tinh thần người Việt theo nguyên
tắc "bất khả nghị của lý thuyết cộng sản" (mà
cộng sản Việt Nam lại là người học trò thuần thành, tuyệt
đối - hơn hẳn kẻ khai sinh, và giảng dạy cho mình-những
đảng cộng sản Ðức, Nga, Tàu)- Nguyên tắc ấy là: TÍNH
ÐẢNG LÀ TÍNH TỐI THƯỢNG.
Ta có thể nhắc lại một vài câu khẳng định bất hủ: "Muốn
có Phong Trào Cách Mạng- Phải có Lý Thuyết Cách Mạng. Muốn
có Lý Thuyết Cách Mạng- Phải có Ðảng Cách Mạng". Hoặc:
"Ðảng là tất cả - PhongTrào Công Nhân (quốc tế) không
là gì cả".
Những ngôn ngữ nầy phần lớn của Lê-nin,
các lãnh tụ cộng sản thế giới biến đổi
đi đôi chút,
nhưng ở Việt Nam, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẫn... thường
lập lại không sai sót; cán bộ cao, trung cấp viết, nói lại
đúng từ cách ngắt câu, dấu chấm. Chúng tôi không nói điều
hài hước châm biếm. Sau đây là "lập thuyết" của Hoàng
Ngọc Hiến về kỹ thuật viết văn,
... Trong tham luận "Viết Như Thế
Nào" vừa nêu ra, có hai câu hỏi:
-
Khi ta viết, thì viết cho Người
Ðọc nào?
-
Khi ta viết, thì viết cho Mục Ðích
gì?
Trên đây là đề cương mà Bác
Hồ đã gói trọn trong toàn bộ bài giảng của Bác. Ðó là
hai câu hỏi bao gồm hết tất cả các vấn đề.
Và HNHiến "giáo dục" tiếp về
nghệ thuật viết văn:
... Dựa trên lời dạy của Chủ
Tịch Hồ Chí Minh về mục đích của những bài viết, thì
mục tiêu của một nghệ sĩ cách mạng (người viết văn)
là nhắm vào việc "cải tạo - giáo dục cách mạng xã hội".
(Văn Học và Học Văn, Hoàng Ngọc Hiến, NXB Văn Học,
Hà Nội 1999.)
Những nội dung như trên không là
chữ nghĩa lý thuyết xuông, chúng biến thành nguyên tắc chỉ
đạo hành động cho người cầm viết, lẫn người cầm súng
(ở Miền Bắc trước 1975, và cả nước sau nầy). Thế nên
lềnh đặc trong tất cả mọi văn hoá phẩm gọi là "văn hóa
xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua
đã tràn đầy những chữ nghĩa tàn nhẫn dậy mùi máu.. Miền
Nam từ vực thẳm thảm khốc của Mậu Thân, 1968 do "thành
quả chiến thắng" của đạo quân xâm lược đi từ Miền
Bắc, bôn tậïp từ mật khu về được Tố Hữu mô tả,
Ðẹp như Huế đầu xuân
dậy đỏ cờ
Miền Nam trong lửa đạn sáng
ngời...
Và Chế Lan Viên thêm vào màu đỏ
hung hãn kia men say xác chết người Nam lâm tử nạn,
Tao đánh mầy hân hoan
như sinh đẻ
Và linh thiêng như xây dựng kỳ
đài
Lời kêu gọi máu nầy không phải
chỉ có ở thời điểm Mậu Thân 1968, nhưng đã dậy nên từ
rất lâu với bài hát dục người vào chỗ chết, dựng sự
nghiệp sát nhân - Ðiển hình với Tiến Quân Ca của Văn Cao,
Ðường vinh quang xây xác
quân thù
"Quân thù" đó không giới hạn chỉ
là đạo quân viễn chinh quân đội Pháp của những năm 1945-54,
nhưng khi cần đáp ứng cho một tình thế chính trị, ở một
thời điểm khẩn cấp nào đó, người "nghệ sĩ cách mạng
cộng sản Việt Nam" thấy ra "kẻ thù giai cấp"
ngay chính trái tim của mình,
Ai về làng Bái Hạ
Nhắn "vợ chồng thằng thu"
Rằng,
Chúng bây là lũ quốc thù
"Vợ chồng thằng thu" kia chính
là Ông, Bà Ngô Xuân Thu, bố mẹ sinh thành ra "nghệ sĩ cách
mạng nhân dân", cũng là "thi sĩ tình yêu" Xuân Diệu của Hà
Nội trước 1945, mà nay không xứng đáng gọi tên với một
chữ viết hoa do đã trở nên đối tượng thù nghịch của
đợt Cải Cách Ruộng Ðất 1953, và phải được thanh toán
không nương tay,
Giết! Giết! Giết!
Bàn tay không phút nghỉ
Ðể ruộng đồng thêm tốt lúa
thêm xanh.
Những chữ nghĩa đồng tính với sự
ác như trên của người cộng sản không hề cũ, sau năm 1975,
chúng được gắn lên thây xác của những đối tượng mới
- những xác trẻ con, phụ nữ (bởi đàn ông hầu hết ở
trại cải tạo) vượt biên tấp vào bờ biển Vũng Tàu, cầu
Rạch Chiếc, xa lộ Thủ Ðức - với lời buộc tội ngang ngược
"Bọn phản bội tổ quốc bỏ nước ra đi!"
Những xác
chết nầy chỉ được nhận về chôn với điều kiện - Thân
nhân không được khóc, và trả "tử phí" với giá biểu, xác
người lớn 1000 đồng, xác trẻ con 600 đồng, khoảng vài
ba đô-la Mỹ!
Những nhân sự, người cầm bút
Miền Bắc vào, ở hẳn Sài Gòn, miền Nam như Dương Thu Hương,
Vũ Thư Hiên, Bảo Ninh, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Duy, Tiêu Dao Bảo
Cự.. chẳng lẽ không biết về những "đối tượng kẻ
thù"ø mới mẻ nầy, (Hãy đọc "Nhân ngày giỗ Nguyên
Hồng, thấy xác chết người vượt biên trên Bãi Trước,
Vũng Tàu" của Trần Mạnh Hảo)- Chuyện vừa xẩy ra trong
thập niên 70, 80 kéo dài đến 90 dài theo bờ biển Việt Nam.
Tập đoàn công tác "văn hóa - lập
thuyết" cho chế độ cộng sản Hà Nội, há không nghe tiếng
gào phẫn uất của nông dân ở Thái Bình, Nam Ðịnh, chiếc
nôi nuôi sống "cách mạng giải phóng dân tộc, và cách
mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam" suốt chặng đường
dài lâu hơn nửa thế kỷ, từ những ngày khởi nghĩa 1945.
Với chữ, nghĩa của mình, những người thêm men "chủ nghĩa
anh hùng cách mạng" cho chế độ độc tài, độc đảng
ở Việt Nam há không biết cơn trào dâng khát khao dân chủ,
tự do của người dân nơi Long Khánh, Komtum, Pleiku, Ban Mê Thuộc...
Những con người đơn giản, trung hậu có thể đã hơn một
lần "nuôi dấu, che chở cách mạng giải phóng Miền Nam". Các
anh không nghe tiếng kêu đau của vị Sư già Thích Quảng Ðộ,
Thích Huyền Quang vì xót thương sinh linh bị bách hại (nghĩa
là gồm cả các anh- những con người vị tước đoạït mất
phẩm chất khí phách, tự do kẻ sĩ mà tự thân không hay biết).
Những người cầm bút Hà Nội có bao giờ nghĩ ra chiếc cùm
Cha Thadéo Nguyễn Văn Lý trong hai mươi năm nặng nề và tàn
nhẫn gấp bội phần so với vài ba tháng "quản chế" của
Tiêu Dao Bảo cự? Chẳng lẽ người viết văn gốc Hải Phòng
mới biết "phản kháng để đảng trở nên trong sáng"
do thấm đòn tranh chấp quyền lợi của tập đoàn cầm đầu
ở Hà Nội, còn "đám viết văn ở Bolsa, California chỉ là
bọn chống cọng điên cuồng của "lũ ngụy sàigòn- nối dài
(lưu ý, không viết chữ hoa dù danh từ riêng, vì không xứng
đáng)" như Như Phong Lê Văn Tiến, Doãn Quốc Sĩ, Hà Thượng
Nhân và hằng trăm người khác, kẻ chết tan xác (Dương Hùng
Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường.. ), sống khắc
khoải, đày ãi Nguyễn Thụy Long, Thụy Vũ.. không được quyền
biết đau vì phận nghiệp viết văn hay sao? Có một ai trong
đám viết văn ở Hà Nội, Miền Bắc kia nói lên một tiếng
nhỏ về nỗi khốn nhục của những "văn hữu" Miền Nam phải
gánh chịu sau 30 tháng Tư 1975 (do "tội" từ những chữ viết
của mình), nếu không nói là thái độ hã hê thống khoái
của kẻ được báo thù ty tiện. Nguyễn Khải, tổng thư ký
hội nhà văn Hà Nội với "Tháng Ba Tây Nguyên" là một đặc
trưng nổi bật nhất của những kẻ làm "văn chương- văn
hóa nơi chốn thủ đô của phẩm giá con người kia".
Hitler sẽ chỉ là một gã lu loa
vô hại nếu không có những con người "mộng tưởng"
như Rudolf Hess giúp y thực hiện giấc mộng đại chủng tộc
Ðức; với kỹ thuật "lật ngược bộ não" con người, Goebbels
đã tận dụng văn chương, triết học, điện ảnh, kỹ thuật
truyền thanh để biến anh thợ sơn mồm mép kia nên người
xô toàn thế giới vào cơn hung tàn Thế Chiến thứ Hai, giết
6 triệu người Do Thái, 5 triệu khác gồm người Gypsies, chủng
tộc Slaves, kẻ đồng tính, đảng viên cộng sản. Cũng tương
tự như thế, anh thanh niên tên gọi Nguyễn Tất Thành vốn
học hành kém cỏi, phải tha phương kiếm ăn do gia đình phá
sản vì lỗi từ người cha trong cơn say, bạo ngược cuồng
khấu giết người; anh ta sẽ chỉ là một "kiều bào" như
trăm ngàn người Việt khác sống lưu vong ở Pháp, và khi về
già lộ hẳn tính cuồng dâm bệnh hoạn (hãy xem lại những
hình ảnh ông Hồ ôm hôn trẻ nhỏ, thiếu nữ, sẽ thấy rõ
ra bệnh dâm"ấu nhi dục" của con người nầy; không cần phải
đọc hồi ký Ðêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên về sự
kiện ông ta im lặng đồng thuận cho bộ trưởng công an Hà
Nội Trần Quốc Hoàn hiếp, giết cô Xuân người đã ăn nằm
thai sinh ra con ông (sau đó, giết luôn những người liên hệ
của cô để diệt đầu mối). Nhưng do từ chữ viết, lời
ca, băng nhạc, phim truyện, sách vở giáo khoa, bích chương
quảng cáo, ảnh thờ gia đình, lẫn cả đồ chơi con nít,
thiệp chúc Tết- nghĩa là toàn bộ "văn hóa phẩm cách mạng"
sản xuất tại Miền Bắc, (sau 1975 đối với cả nước) trong
suốt nửa thế kỷ thế kỷ qua, và hiện nay vẫn đang tiếp
tục - đã biến con người bệnh hoạn, hiễm độc kia đã
trở nên bất tử, luôn hiện diện dẫu đã chết do bịnh
già hơn ba mươi năm qua. Ta có thể kể ra vài lời xưng tụng:"Hôm
nay trên đường hành quân ra mặt trận. Trùng trùng quân đi
theo ánh sao lá cờ của Bác.."; hoặc, "Từ khi vượt núi qua
đèo. Quân đi Bác vẫn nhìn theo tháng ngày.."; hay, "Bác theo
lính Miền Bắc hành quân diệt Mỹ-Ngụy; Bác quan tâm chị
em Miền Nam bị máy bay Mỹ ném bom nên "hành kinh" không
đều"; Bác chăm sóc cho người lớn từ lọ "tương cà mắm
muối"; bác lo từng đứa trẻ để "ai ai cũng được học
hành". Tóm lại, Bác tham dự vào tận giấc ngủ, quyết
định đến chuyện ăn nằm vợ chồng - Bác là "bản ngã thứ
hai" thay thế toàn diện tâm thức lẫn cơ cấu sinh lý của
triệu con người gọi là "nhân dân tiến bộ". Những
chữ trong ngoặc kép kể trên thuần là "chữ của Bác", hoặc
chữ ngợi ca Bác, mà theo thống kê của chuyên viên điều
hành kỹ thuật tuyên truyền thế giới, thì họ Hồ là một
trong những người được nhận sự tôn sùng nhất của nhân
loại - Thành quả nầy không thể thiếu sự góp mặt của
người cầm bút trong hàng ngũ "cán bộ văn hóa- văn công cộng
sản". Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi là những "cán bộ"
nầy-những cán bộ cốt yếu hàng đầu được thực chứng
khả năng, lòng nhiệt thành phục vụ sau hằng 40, 50 năm công
tác đảng. Chữ, nghĩa dưới ngòi bút của những con người
nầy đã rơi xuống mức sa đọa tệ hại nhất, bởi cầm
bút là "hiện thực cách thế sống Tự Do" gần như toàn
vẹn nhất trong cuộc sống nhân sinh, nhưng những con người
kia đã biến chữ viết nên thành một "phương tiện phục
vụ, cung ứng" cho nhu cầu cuồng dâm, bạo ngược của
kẻ cầm quyền thực hiện một chủ nghĩa đã bày ra đầy
đủ tính bất nhân tàn hại cho toàn nhân loại và các dân
tộc. Những Lenine, Staline, Ceaussecu, Mao Trạch Ðông, Kim Nhật
Thành, Hồ Chí Minh, Polpot.. Dân Tộc Việt chịu khổ nạn trầm
luân đọa đầy nhất, bởi nay đang bắt đầu thế kỷ 21,
nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt đầu
mối nguồn bất hạnh lớn lao kia. Bởi "làm văn hóa lầm
sẽ tác hại đến muôn đời" mà kẻ sĩ người Việt đã
từ lâu hình như đã đánh mất chức năng cao quý thiêng liêng
của mình, đồng thuận một cách rất đáng chê trách để
trở nên thành "cán bộ văn hóa" của chế độ bạo
ngược, phục vụ những kẻ cầm quyền vô lại. Một gã vô
học, hung hăng, thô tục như Lê Duẫn qua "Thời Dựng Ðảng"
của ngòi bút Thép Mới đã biến thành "Anh Ba", với
đầy đủ hào quang quyền lực, đến nỗi một người sắc
sảo như Indira Gandhi phải ngỏ lời trầm trồ khen ngợi về
tính chất huyền thoại!!
Và cụ thể, gần đây, những người
ở Hà Nội, ở Việt Nam như Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến
đã nghĩ, lý luận, viết như thế nào về thực tiển Việt
Nam "tụt hậu"(chữ của người cộng sản) xuống hàng
nghèo đói thứ tư kể từ dưới lên của thống kê mười
nước nghèo nhất thế giới. Người "làm văn hóa Miền Bắc"
nghĩ gì về tình trạng giáo dục tan nát với hiện tượng
lớp học trẻ con ngay tại Hà Nội ngồi trên đòn thấp đặt
lên đất; thầy, cô giáo kiêm luôn nghề bán hàng rong trước
cửa lớp; và cơ quan chính quyền nhận được chỉ thị "tận
dụng huy động đồ cứu trợ của nạn nhân bão lụt"
(thật sự là hành vi ăn cướp giữa ban ngày - ăn cướp trên
thây chết của đồng bào mình - tương tự như "lệ phí"
đóng trên xác người vượt biên hai mươi năm trước), gồm
10 triệu Mỹ kim của Liên Hiệp Quốc, và 10 triệu của cộng
đồng người Việt hải ngoại - Nhưng, cộng đồng
lưu vong nầy vẫn không có tiềm năng kinh tế và sống trong
sợ hãi lo âu (không nói rõ sợ ai, và lo âu điều gì)".
Bản nghiên cứu của JWC không vô cớ, vàø tự nói nên
những lời nầy, chúng chỉ thành hình do "chỉ đạo" có hiệu
quả theo trục Hà Nội- Boston với những "sứ giả- những
nhà văn hóa thuần thành, trung trực" xuất phát từ trường
đảng Nguyễn Aùi Quốc.
3- Không Phải Khi Nào Chính Nghĩa
Cũng Thắng.
Cuối cùng, vụ kiện diễn ra không
như suy nghĩ giản dị, trung trực của Nguyễn Hữu Luyện,
và UMass-Boston đã bác bỏ những cáo buộc của anh với biện
hộ thực tiển: "Tất cả sự tố cáo của Nguyên Ðơn chỉ
là: "Trường Ðại Học tuy đã rao báo, nhưng tự hậu chỉ
tuyển dụng những người khác vào "chức vụ công tác" (đây
là chương trình học bổng) mà ông ta không hề nộp đơn ứng
tuyển". Không mướn một người nào đó vì người ấy
đã không nộp đơn ứng tuyển không phải là một hành vi
phạm pháp. Giống như 270 triệu người khác trên toàn
quốc (nước Mỹ) đã không nộp đơn ứng tuyển vào chức
vụ này, Nguyên Ðơn chẳng có quyền gì để kiện chúng tôi."
Chúng ta không thể không cảm thấy
xa xót với câu trả lời nhẫn tâm bất chấp nhưng thực tiển
kể trên. Và chúng ta làm gì được đối với một việcï
đã rồi, qua sự kiện "những hành vi đã hoàn tất trước
khi thông báo". Hóa ra, khi cần thiết vào Việt Nam thì có
tuyên cáo long trọng: "Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ
tuyến 17, và Ngô Ðình Diệm là con người thần kỳ- TT Dwight
Eisenhower"; khi chuẩn bị rút đi thì có đánh giá kinh miệt:
"Sài Gòn ví như một ổ điếm khổâng lồ- TNS Mike Mansfield",
và "đám tướng lãnh ở đấy chỉ là một đống rác- Ðại
sứ Maxwell Taylor"; cuối cùng cần buộc Miền Nam mau chóng
đi vào lần sụp đổ cuối cùng, 1975, thì tuyên bố thẳng
thừng: "Không nên cho chúng (Chính phủ Sài Gòn) thêm một
đồng xu nào nữa".
Cách nói tàn tệ của Abzug, dân biểu
Hạ Viện Mỹ, nổi tiếng do thái độ thù ghét, chống đối
chính quyền, quân đội Miền Nam.Và nay, cần viết lại lịch
sử Việt Nam để yên ổn giải thích sự thất bại của mình
(do đánh giá sai bởi chủ quan, và yếu đuối đối với kẻ
thù hiểm độc, bất nhẫn coi khinh bạn bè), nên tuyển dụng
ngay những kẻ gây nên "tình trạng lưu vong" của ba triệu
người Việt hải ngoại, để từ đó sẽ có những câu kết
luận soạn sẵn: "Cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại
chỉ là tập họp những di dân vì lý do kinh tế, hoặc có
tộâi với nhà nước Việt Nam, kém văn hoá, không viết nên
được niên biểu sinh hoạt cho tập thể mình, sống âu lo,
và sợ hãi ngày mai vì không có tiềm năng kinh tế...".
Những người như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi đã, và
đang hợp thức hóa, chính thống hóa những nhận định nầy
có sự tiếp tay của những người Mỹ - Kẻ luôn muốn chứng
tỏ vị thế tối thượng của mình trong tất cả mọi tình
huống - Ở đây, họ thủ đắc thêm quyền hạn từ quá trình
hành xử, hoàn tất, và cho phép tay sai thực hiện Sự Aùc.
Khi Thượng Ðế đã bị giết
thì Con Người còn lại gì? Người Mỹ đang giải quyết chương
trình nầy với văn minh kỹ thuật tối ưu của họ một cách
vụng về, rất nhiều lầm lẫn.(*)
Cuối cuộc, và dù cay đắng đến
bao nhiêu chúng tôi vẫn phải bày tỏ cùng Anh (hay nhắc nhở
cho chính bản thân, và tất cả bằng hữu, những tấm lòng
chung thủy sắc son)- Cái giá đầu tiên mà Kẻ Sĩ, người
Chiến Ðấu phải trả là sự thiệt hại của chính bản thân,
và nỗi đơn độc thăm thẳm trên đường đi, giữa bóng đêm
trùm lấp. Vụ án của Anh (hay của chung chúng ta) sẽ vô cùng
giản dị, dễ giải quyết, có khả năng thâu đoạt thắng
lợi, nếu như quỹ vận động có một khoảng tiền tương
đối vừa đủ cho án phí. Tương tự như thế, chính phủ
Thái sẽ không thể nào ngang ngược, lật lọng trong vụ xét
xử Lý Tống, nếu toàn bộ ba triệu người Việt trên toàn
thế giới đồng lòng trong một ngày tẩy chay tất cả
hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến, của, từ Thái Lan -
Phải,
chỉ một ngày thôi cũng đủ. Lý Tống ắt trở về cùng chúng
ta.
Thế nhưng, Chúng Tôi luôn có mặt
cùng Anh. Dẫu cái chết. Dẫu vũng tối. Vì Quê Nhà đang mãi
giữa đêm dày.
Mùa Lễ Chiến Binh Mỹ
Phất phới Cờ Hoa bay
Quê Hương sâu mạch đất
Máu xương lớp lớp rây.
Minnesota, 28 tháng Năm, 2001
phan nhật nam
(*)
Bài viết được hoàn thành trước tai họa 11 tháng 9, 2001
ở New York, DC, Pennsilvania, vẫn có giá trị như một báo trước
đối với cơ quan cầm quyền, nhân sự lãnh đạo Mỹ Quốc.
|