Phải
nói lên Lời Thật!
"..Những
điều bất cận nhân tình, vô nghĩa lý kia không bao giờ có
thể nói ra, nếu như còn có Thượng Ðế":
Rabindranath Tagore- SÃDHANÃ- The Realization of Life.
Dẫn Nhập. Bài viết dưới đây
căn cứ trên bản văn của các tác giả: Nam Dao, O Ninh,
quá khứ và hiện tại, Thời Báo Số 141 Tháng 1/2005,
Denver, Corlorado; Tôn Nữ Như Không, Tâm Dao Găm
lấy từ hệ thống NET; và Vann Phan, Nguyễn Cao
Kỳ nói xấu tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, Người
Việt, Chủ Nhật, 23 Tháng 1, 2005 Little Saigon, Cali, USA.
Trước khi trình bày ý kiến cá
nhân về những nhân sự mà các tác giả nêu trên đã đề
cập qua những văn bản trình bày rõ ràng, khách quan, trung
trực danh tính, hành vi, tiếng lời của mỗi người - Chúng
tôi TIN như thế vì đấy là những nội dung xác thực, văn
phong chuẩn mực, luận lý đúng đắn của những người cầm
bút hiểu rõ trách nhiệm đối với những giòng chữ viết
nên, từ, với lương tâm trung hậu - Người viết cũng cần
nói rõ thêm yếu tố: Bản thân cá nhân hoàn toàn không có
tương quan, liên hệ trên bất cứ lãnh vực nào đối với
những đối tượng đang nói đến, ngoài hiểu biết căn cứ
trên hành vi thực hiện, tiếng lời nói ra, chữ, nghĩa viết
nên phát xuất từ những con người ấy. Ðấy là những hành
vi, tiếng lời, chữ viết sẵn tính toán, có mục đích lăng
mạ, xỉ nhục, dày xéo lên Nỗi Ðau của một cộng đồng
đông đảo - Những Người Lính và Dân của Việt Nam Cộng
Hòa trước 1975 (cũng của cả nước trong hiện tại) - Một
quốc gia đã thất trận ba-mươi năm trước, hiện nay tiếp
tục bị xuyên tạc, lấm nhục bởi phe đoạt thắng: Người
và Ðảng Cộng Sản đang cầm quyền ở Việt Nam được phối
hợp, thêm sức, cổ vũ bởi những nhân sự đồng mục tiêu,
chung quyền lợi. Cay đắng và mĩa mai thay, đấy lại là những
con người xuất thân từ quốc gia bị thất trận kia hằng
mang căn cước, danh xưng Công Dân Việt Nam Cộng Hòa,
ra khỏi nước từ cửa khẩu Sài Gòn. Và hơn thế nữa, đấy
lại là những cá nhân thủ đắt vị thế lãnh đạo, hành
xử nhiệm vụ hướng dẫn tâm linh, khai phóng văn hóa cho người
và chế độ của miền Nam vĩ tuyến 17 mà hôm nay họ đang
ra sức chối từ, cố công lăng nhục.
Ngoài ra, phần sắp trình bày e sẽ
có những thiếu sót kỹ thuật do bản thân đang ở tình trạng
hậu giải phẫu, xa nơi thường trú, nên không sẵn những
hồ sơ, tài liệu gồm chứa những yếu tố chính xác, cụ
thể về người, việc, niên hiệu, số liệu.. của những
trích dẫn cần nêu ra (ngoài ba văn bản kể trên). Nhưng chắc
rằng nội dung đại cương luôn được trân trọng trình bày,
dẫn chứng đích xác. Mọi thương xác cần thiết sẽ được
bổå túc nếu trường hợp có bạn đọc nêu thắc mắc, cần
thảo luận.
Một. Tôn Nữ Thị Ninh: Một
Tôn Nữ không biết tôn trọng phẩm giá Người Nữ.
Người đề cập đầu tiên là Tôn
Nữ Thị Ninh, Phó Trưởng Ban Ðối Ngoại của Quốc Hội do,
của đảng, nhà nước cộng sản dựng nên hiện tại ở Việt
Nam (không là một quốc hội dân cử như danh xưng, chức năng
ở những chế độ dân chủ định nghĩa, xác lập). Bài viết
của Nam Dao, người nữ thuộc thế hệ người Việt lớn lên
và xử dụng ngòi bút sau 1975 nơi hải ngoại. Nam Dao là Bạn
Ðời của nhạc sĩ Phan Văn Hưng, tác giả những ca khúc, Khát,
Thằng Bé Tát Dầu, Tôi Vẫn Ðợi (phổ từ giòng Thơ kỳ
diệu của Thượng Tọa Tuệ Sĩ – Vị đại biểu thuần thành
hiện thân Tâm Linh Việt Tộc vô úy cao cả trong thời đại
Con Người bị khinh miệt, đày đọa tột cùng bởi Tính Ác)..
Những ca khúc của Phan Văn Hưng không phải là bài hát theo
ý nghĩa thông thường mà là cáo trạng mãnh liệt, hiện thực
tiếng kêu trầm thống của một dân tộc bị bức hại. Nam
Dao và Phan Văn Hưng là lớp sinh viên du học tại Pháp trong
thập niên 1960-70, vàø từ khởi đầu xa xôi nầy, có thể
họ (hoặc các bạn của họ) đã có mặt trong những lần
xuống đường trong năm 1968 yểm trợ Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam; hay hoan hô Nguyễn Thị Bình trước, sau ngày ký Hiệp
Ðịnh Paris 1973 theo cơn lốc "phản chiến" do những phong
trào khuynh tả kích động, vốn là một đặc trưng sinh hoạt
chính trị của tuổi trẻ Paris, nối tiếp từ truyền thống
cách mạng tư sản 1789. Nhưng cũng chính họ – Những người
tuổi trẻ với trái tim trung trực không hề thỏa hiệp với
gian trá, độc tài và bạo lực - Sau thời điểm đau thương
của Miền Nam cuối tháng 4 năm 1975, khi được biết toàn bộ
các tỉnh miền Trung và Cao Nguyên đã bị bỏ lại cho cộng
sản; hàng trăm ngàn chiến sĩ đãõ bị rơi vào tay địch
một cách tức tưởi.. Chính họ lại xuống đường với khí
thế không khuất phục. Ngày 27.4.1975, Nam Dao, Phan Văn Hưng
có mặt trong đoàn người tuổi trẻ dưới lãnh đạo kiên
cường của Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Trần Văn
Bá đã tổ chức ngày Ðể Tang Cho Chiến Sĩ Cộng Hòa
trên đường phố Paris. Ngày 30.4.1975, hung tin Miền Nam rơi
vào tay người cộng sản đã làm toàn bộ sinh viên trong Tổng
Hội bàng hoàng rúng động. Tuy nhiên, sau những phút xúc động,
họ đã lấy lại bình tỉnh, giúp Tòa Ðại Sứ Việt Nam Cọng
Hòa thủ tiêu các tài liệu mật, và đem những tài liệu nầy
về cất giữ tại trụ sở Tổng Hội trước khi chính phủ
Pháp trao sứ quán cho Hà Nội.
Không còn Tòa Ðại Sứ VNCH, Tổng
Hội Sinh Viên tự nguyện lãnh nhiệm vụ giúp đở những người
Việt quốc gia đang sống tại Pháp hoặc mới qua với tinh
thần bất vụ lợi, thắm nghĩa đồng bào. Và những người
tuổi trẻ nầy là lực lượng xung kích tiếp tục đương
đầu, đối mặt với thành phần sinh viên Việt thân cộâng
do cán bộ nhà nước Hà Nội (vốn đã thao túng diễn trường
Paris từ hơn nửa thế kỷ) dựng nên, điều động - Những
cán bộ cộng sản do chính Hồ Chí Minh huấn luyện, đào tạo,
khuynh loát, khuyến dụ (như đám cán bộ nòng cốt sau nầy
của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, những Dương Quỳnh Hoa,
Trương Như Tảng...) Và cũng chính là Hồ Chí Minh từ đầu
Thế Kỷ 20 chứ không ai khác. Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam
với Chủ Tịch Trần Văn Bá đã tập hợp những người tuổi
trẻ như Nam Dao, Phan Văn Hưng nên thành phần xung kích phá
vỡ lần đi xin viện trợ của Phạm Văn Ðồng qua các nước
Tây Âu, điển hình ở Pháp năm 1976. Từ quá khứ dài lâu
nơi môi trường sinh hoạt Paris nầy, Nam Dao đã thấy ra, và
hiểu rõ Tôn Nữ Thị Ninh ngay từ dạng tướng đầu tiên..
"Tôi bắt đầu biết đến O Ninh (do anh (của ND) gọi theo
cách thân mật của người Huế) với mái tóc đen dài óng
mượt trên khuôn mặt trái soan làm nổi bật nét đẹp kín
đáo của người thiếu nữ Việt Nam. Tuy nhiên với dáng dong
dỏng cao, và cách phục sức rất là theo thời trang thuộc
loại "chic" của Pháp, nếu không nhìn mặt (chỉ nghe giọng
nói) thì người ta nghĩ đấy là một cô đầm Parisienne.. Thêm
vào đó cách hút thuốc lá, và nhất là cử chỉ phà khói
thuốc rất ư là đầm con.. Nam Dao ibd" Nhưng không
chỉ với nhân dáng với cách trang phục "đúng gout, à la
mode" vừa mô tả, Thị Ninh còn rất "up date" với
thời trang chính trị: "Riêng O Ninh rất "mặn mòi" về chuyện
kết án sự có mặt của Mỹ ở Miền Nam, đã đẩy bao phụ
nữ Miền Nam vào con đường bán ba cho Mỹ. O đổ tội xã
hội Việt Nam bị băng hoại là vì "đế quốc Mỹ". O thương
dân nghèo không có tiền mua gạo, thịt để ăn trong khi chính
quyền lại tham nhũng "hút máu mủ của đồng bào".. Nam
Dao ibd".
Chúng ta có thể tạm ngưng trích
dẫn bản văn của Nam Dao để nói chuyện trực tiếp
cùng Tôn Nữ Thị Ninh về những "bức xúùc" mà "O
Ninh mặn mòi" từ những năm tháng tuổi trẻ với
trái tim rất nhiều thao thức thể hiện qua qua hơi khói thuốc
lá thở ra như một cô đầm con. Trước tiên, chúng tôi có
xác định, "Câu chữ: " Xã hội Việt Nam băng hoại
vì sự hiện diện của đế quốc Mỹ nơi Miền Nam, đẩy
bao phụ nữ VN vào đường bán ba cho Mỹ.." chắc chắn
không phải riêng của O Ninh. Cách lập luận với chữ,
nghĩa ấy khởi đầu được Ban Tuyên Huấn Trung Ương Ðảng
Cộng Sản đề xuất; xong được báo Nhân Dân ở Hà
Nội thực thi phương án phổ biến; tiếp được báo
Văp Nghệ Giải Phóng của Cục R nơi Miền Nam thi hành nghiêm
chỉnh.. Nó phát xuất từ lúc nào, chúng tôi không xác
định được, chỉ biết, chúng được xử dụng rất thông
tục, cùng khắp và thống nhất.. Nhóm chữ, "..đế quốc
Mỹ; chính sách thực dân mới của Mỹ; xã hội Miền Nam băng
hoại; tập đoàn tay sai Ngụy quân, Ngụy quyền hút máu mủ
đồng bào, đẩy phụ nữ Việt Nam thành gái bán ba cho Mỹ..v.v"
không những chỉ xuất hiện trên những bản văn, bài viết
của báo Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân; Văn Nghệ Giải Phóng..
Chúng còn là ngôn ngữ chuẩn của Lê Ðức Thọ, Nguyễn
Thị Bình nơi bàn hội nghị ở La Cell St. Cloud trong bất cứ
đề tài thảo luận tại thời điểm nghị hội nào. Chúng
xuất hiện hằng ngày, hằng giờ trên miệng lưỡi của Trần
Văn Trà, Võ Ðông Giang, Bùi Tín.. mà bản thân đã hằng nghe
qua, phải ghi nhớ trong suốt mấy trăm phiên họp từ 28 tháng
1, 1973 đến ngày cuối cùng 30 tháng 4, 1975 tại Ban Liên Hợp
Quân Sự nơi Tân Sơn Nhất, Gia Ðịnh. Chúng không ngừng được
xử dụng tại thời điểm 30 tháng 4, 1975 mà sau đó còn nở
rộ qua hệ thống gọi là "bài học": "Ðế Quốc Mỹ xâm
lược nước ta, là kẻ thù của Nhân Dân ta; Ngụy Quân, Ngụy
Quyền là tay sai của đế quốc Mỹ bóc lột Nhân Dân ta.."
suốt Miền Nam, nơi những trại tù Miền Bắc. Chúng vẫn được
(luôn được) xử dụng như là "thuốc giải" để
chửa trị "vụ tiêu cực của hiện tượng Năm Cam",
biện minh cho lần tên phó cục trưởng cục thể thao Lương
Quốc Dũng cậy thế chức quyền của đảng cưỡng dâm cháu
bé mười-ba tuổi..v.v. Chúng được dùng tận lực như một
loại chất độc màu da cam còn đọng lại trên đất nước
khi muốn chạy tội những "tiêu cực, chưa tốt", kể
cả tội bán nước, tham những, hoặc chuyện ăn nằm lén lút
bất chính với đàn bà của "bác Hồ, anh Ba, ông Hùng, bí
thư đảng ủy X, Y, Z". Tóm lại, tiếng lời trên miệng,
lưỡi "cô đầm con, O Ninh" ở những năm 70, hay của
"Phó chủ tịch ủy ban đối ngoại quốc hội, Tôn Nữ Thị
Ninh" của năm 2004 hôm nay là Một - Là loạt âm độâng
chung tính chất, cường độ khua lên bởi một loại sinh vật
có khả năng lập lại những ngôn từ do kẻ khác mớn dạy
đã mất hết nội dung.
Ðể nối tiếp công việc so sánh
của Nam Dao, chúng tôi có thể trưng ra thêm những cảnh tượng
về người và việc (đang xẩy ra ở Việt Nam) hầu làm "cớ
chứng" cụ thể cho một lời cáo buộc có nội dung khác,
"xã hội Việt Nam băng hoại; người phụ nữ Việt Nam bị
mất phẩm giá" mà O Ninh ngày trước hằng nêu lên,
nay Tôn Nữ Thị Ninh luôn nại đến. Người
chúng tôi cậy đến là ký giả Vi Anh của Việt Báo (Số ra
ngày 3 tháng 4, 2004; Nam Cali, USA): "..Cù Lao Dung nước ngọt,
đất tốt, vườn sung, gái đẹp, bây giờ dân Miền Tây gọi
là "Cù Lao Ðài Loan" vì là nơi mấy ông Trượng Ðài Loan qua
cưới vợ nhiều nhất.." Không phải cưới hỏi theo nghĩa
thông thường giữa hai người nam, nữ có liên hệ yêu thương
nhưng là cảnh: "..những người đàn ông Ðài Loan, già có,
trẻ có, tàn tật, bịnh hoạn ngồi chọn vợ giữa một
đám thiếu nữ trần truồng đi qua lại – mà thực chất
chỉ là – "mua bán phụ nữ một cách hợp pháp."
Những cuộc hôn nhân tàn tệ nầy được thực hiện giữa
những, "cô dâu sống ở nông thôn thuộc Ðồng
Bằng Sông Cửu Long, trình độ học vấn không cao, lấy
chồng vì mục đích kinh tế; nhưng không ít người gặp rủi
ro, chẳng những không đạt được mục tiêu (để giúp đở
gia đình) mà còn phải chịu nhiều đau khổ,
nhục nhằn (biến thành nô lệ tình dục
cho những người đàn ông trong gia đình (của người gọi
là chồng kia), cùng bạn bè của họ; và cũng là đầy tớ
không công, bị hành hạ, đánh đập". Và những chú rễ, "thu
nhập thấp, trình độ giáo dục không cao (vì chẳng ai
có học vấn, được giáo dục để hiểu biết, tôn trọng
giá trị nhân phẩm lại đi "mua" người gọi là vợ
theo cách trên - pnn), ngoại ngữ kém, không biết tiếng Việt.
Các "chú rễ" đến đây chỉ vì một lý do cực kỳ quan trọng:
"Chi phí cưới một cô vợ Việt Nam thuộc hàng thấp (thấp
nhất- pnn) so với các nước trong khu vực.. Cũng như giá
nhân công lao động thuộc loại rẻ nhất vậy".
Viết như trên đã là quá rõ, vậy
O Ninh ngày xưa, Thị Ninh của hôm nay hãy đừng lôi kéo
vào "công nghiệp "kết hôn với người nước ngoài"do
đảng lãnh đạo; nhà nước quản lý; nhân dân làm chủ (thực
hiện)" những đối tượng không liên quan gọi là, "đế
quốc Mỹ và chế độ thực dân mới của Mỹ", cộng thêm
thành phần "tay sai bán nước Thiệu, Kỳ". Những tổ
chức và nhân sự bị mắc níu vô cớ nầy quả thật rất
oan uổng, bởi có người đã chết như ông Nguyễn Văn Thiệu
– Và cũng chẳng lấy đâu ra một điều luật để cáo buộc
một kẻ (đã chết) nên không hề (không thể) có mặt tại
nơi xẩy ra hiện trạng, ở một thời điểm sau cái chết
của người ấy (!?). Họa chăng, ông Thiệu chỉ có "liên
hệ tội trạng" do ngày trước anh ông, Nguyễn Văn Kiểu
đã từng làm đại sứ ở Ðài Loan – Nhưng muốn xử dụng
đến "cớ chứng" nầy thì Thị Ninh phải có một trí
tưởng tượng siêu đẳng để cũng có thể kết tội đến
cả Vua Quang Trung – Vì người anh hùng dân tộc đã là khởi
đầu của mối hôn nhân Hoa-Việt từ cuối Thế Kỷ 18 (qua
việc định hỏi cưới em gái Vua Càn Long), sau khi đánh tan
đạo quân Thanh xâm lăng Ðại Việt trong mùa Xuân Kỷ Dậu,
1789! Còn đối với kẻ còn sống như Nguyễn Cao Kỳ, thì hiện
tại đương sự nầy lại đang được nhà nước ta xử dụng
như một cán bộ cùng chức năng, ngành nghề "giải độc"
với y thị (Sẽ trở lại với nhân sự nầy ở phần thứ
ba của bài viết). Hơn nữa, chắc rằng O Ninh ngày trước
ở Sàigòn cũng không mấy rành rẻ về nội dung, sinh
hoạt gọi là "đồi trụy" đã tạo nên nguyên cớ của cáo
trạng, "đế quốc Mỹ và tay sai bán nước Thiệu, Kỳ
gây nên cảnh băng hoại, trụy lạc" nơi Miền
Nam. Bởi, với "gốc người Huế, giòng Tôn Nữ nhà Nguyễn
khuê các, con vua, cháu chúa ", hẳn O không thể có
điều kiện, phương tiện, và tư thế ăn chơi (cho rằng đã
có khả năng thổi khói thuốc lá theo cách điệu của một
"cô đầm con") để đi vào những ba rượu nơi Ðường
Tự Do, khu Lăng Cha Cả, Sàigòn trước 1975 - Những nơi chốn
rộn ràng cảnh sinh hoạt "đồi trụy dưới chế độ Mỹ-Thiệu-Kỳ.
Cũng như hôm nay (đầu Thế Kỷ 21), Tôn Nữ thị Ninh ắt
đã không nhìn ra cảnh tượng đau lòng ở Nam Vang của những
cháu gái người Việt vị thành niên (trên dưới 10 tuổi)
chấp tay lạy một người (Tây Phương) lớn tuổi để đừng
bắt cháu phục vụ kiểu khẩu dâm!! Nhưng cũng bởi Thị Ninh
và chế độ Hà Nội không có đủ manh tâm (dẫu đã hoàn
tất quá trình "lưu manh hóa" cách mạng xã hội chủ nghĩa)
để dựng nên cáo buộc: "Kẻ tàn tệ hành dâm với trẻ con
người Việt ở Nam Vang kia là "hiện thực của chính sách
thực dân mới của Mỹ, có tiếp tay đắc lực của tập đoàn
tay sai Ngụy quân, Ngụy quyền Miền Nam", nên các đương
sự đã chuyển qua một đề tài buộc tội ghê gớm hơn, "Bọn
Ngụy quân, Ngụy quyền Miền Nam bán nước" để thay thế
tội, "làm Miền Nam băng hoại", mà thật ra chưa thấm
vào đâu so với ba-mươi năm dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa ưu việt. Ðiển hình chỉ với một xã Bình Thạnh Ðông,
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, tính đến 27 tháng 3, 2003 đã
có hai trăm-mười (210) phụ nữ và trẻ em biến mất! Họ
đã đi đâu? Xem phóng sự điều tra của Ðài NBC đêm 23 tháng
1, 2004 mới hay: Số lượng phụ nữ, trẻ con nói trên đã
có mặt nơi những động điếm ở Nam Vang để gây nên cảnh
tượng đồi trụy đáng kinh sợ vừa kể ra trên. Trước ngày
khởi sự cuộc cách mạng gọi là "cách mạng tháng 8, 1945",
ông Hồ chủ tọa họp quốc dân đại hội dưới cây đa làng
Tân Trào (Bắc Ninh) để bàn chuyện làm cách mạng, cứu nước,
an dân. Sau buổi hội, ông bế một đứa bé và nói lên lời
tha thiết: "Ðời tôi chỉ có một ước muốn duy nhất là
mong cho những em bé như em bé nầy luôn được cơm no, áo ấm,
ai ai cũng được học hành.." Nhiều đại biểu đã bật
khóc do thái độ và lời nói chí nhân của ông chủ tịch.
Coi đấy là một lời thành thật, nên đứa bé ngày hôm
ấy (nay bằng tuổi người viết những giòng chữ nầy) xin
thành thực khẩn cầu sao cho những trẻ em người Việt ở
Thế Kỷ 21 đừng phải bị bán thân làm điếm lúc tuổi chưa
tới lên mười – Số tuổi bằng lớp con, cháu của Tôn Nữ
Thị Ninh.
Tiếp tục, chúng ta hãy xét đến
tội danh "bán nước" không thể khoan thứ của "tập
đoàn Ngụy quân, Ngụy quyền Miền Nam". Thật ra, loại
cáo buộc nầy không phải mới mẻ, bởi lịch sử như một
trò đùa khắc nghiệt, luôn chỉ là những sự việc được
tái diễn – Lại là tái hiện những điều sai lầm tai họa,
và tai hại, với những người, việc bất xứng, vô nghĩa
lý. Quả thật, người cộng sản luôn là chuyên viên hàng
đầu của kỹ thuật buộc tội (bán nước) đối với bất
kỳ ai, trong bất cứ tình thế nào. Bắt đầu từ những năm
40 với Cụ Nguyễn Hải Thần: "Hải Thần có cái Việt Nam..
Thần đem đi bán cho quan Tàu phù.."; Bọn "bán nước"
được nối kết với "Phát-xít Nhật, Phát-xít Ðức (qua chế
độ thực dân Pháp của chính quyền Pétain ở Ðông Dương)
để nên thành những đối tượng phải nhất quyết triệt
hạ: "Ðồng bào tuốt gươm vùng lên, dưới lá cờ đỏ
ánh vàng sao.. Diệt phát-xít và "bầy chó đê hèn" của chúng!!"
Tiêu đề ác độc tàn nhẫn "bầy chó đê hèn" kia
được gán ghép đến bất cứ ai, bởi bất cứ cán bộ cộng
sản nào.. Từ những anh thanh niên mới qua tuổi hai mươi (vào
những năm trước, sau 1945) lần đầu tiên nghe, học được
năm ba từ ngữ, cách luận lý của một thứ lý thuyết cọng
sản thông tục, điển hình như tâm lý của Tố Hữu: " Từ
đấy hồn tôi bừng nắng lạ. Mặt trời chân lý chiếu qua
tim.."; hoặc gã bộ đội xã đầu đội mũ ca-lô vải gắn
ngôi sao vàng, lưng lận dao găm, chân đất, quần gom ống túm..
Với trang bị tinh thần, vật chất như trên, những con người
cộng sản thủ đắt luôn quyền giết người qua sứ
mệnh: "tiêu diệt bọn Việt gian bán nước" - Những
người bị giết nầy có thể bất cứ là ai - Là nhà văn,
nhà giáo, nhà báo: Khái Hưng, Nhượng Tống, Nguyễn Bá Trác,
Chủ Nhiệm Nam Phong Phạm Quỳnh; là lãnh tụ tôn giáo: Ðức
Thầy Huỳnh Phú Sổ; là chiến sĩ đấu tranh vì độc lập
dân tộc, hạnh phúc dân sinh: Tạ Thu Thâu, Pham Văn Hùm, Trần
Văn Thạch, Hồ Văn Ngà.. Danh sách sẽ kéo dài vô tận sau
1954, 1968, 1972.. 75, 78 với Bửu Hiệp, Trần Văn Văn, Từ Chung
Vũ Nhất Huy, Nguyễn Văn Bông, Trần Ðiền, Nguyễn Mạnh Côn,
Hồ Hữu Tường, nối tiếp với Hồ Thái Bạch, Lê Quốc Quân,
Trần Văn Bá – Người không hề xa lạ với Tôn Nữ Thị
Ninh.
Tiêu đề cấu thành tội trạng
"bán nước" được dùng đến mòn nhẵn đến như ông
Linh Mục Nguyễn Hữu Khai qua Báo Ðối Diện (Sàigòn, trước
1975) cũng đã từng nại ra để tuyên xưng người "cộng
sản yêu nước" với câu hỏi sắc cạnh: "Bảo người
cộng sản "vô tổ quốc"ư, nhưng ai là người đã bán Cam
Ranh cho Mỹ? Ai đã cho Mỹ mướn Long Bìønh?" Ông linh mục
không phải chờ lâu: Tháng 1, 1974, Hải Quân Trung Cộng tấn
chiếm quần đảo Hoàng Sa, "Tập đoàn bán nước Ngụy quân
- Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa" trãi xác thân, đổ
xuống biển Ðông vô vàn lượng máu trung nghĩa của Người
Lính Việt hằng tận trung bảo quốc. Trái lại, Thiếu Tướng
Lê Quang Hòa, đại biểu Quân Ðội Nhân Dân nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa; Trung Tướng Trần Văn Trà của Chính Phủ
Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam; Thiếu Tá Bùi Tín, sĩ
quan báo chí, phát ngôn viên phái đoàn cộng sản tại Ban Liên
Hợp Quân Sự đồng nhất một nội dung phát biểu: "Về
vụ việc tại Hoàng Sa mà như quý vị (phía VNCH) vừa nêu
lên có liên quan đến Nhà Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc,
chúng tôi ghi nhận, và sẽ trả lời khi "trên" có ý kiến
cụ thể". "Trên" sẽ không bao giờ có ý kiến cụ thể,
vì những người vừa kể ra, đến cả Lê Ðức Thọ, Nguyễn
Thị Bình tại hội nghị La Cell St. Cloud (Hội nghị tiếp tục
việc thi hành Hiệp Ðịnh Paris ký ngày 27, tháng 1, 1973) không
hề biết, hoặc có biết cũng không thể nói ra, bởi: Thủ
Tướng chính phủ VNDCCH Phạm Văn Ðồng đã ký văn thư chính
thức gởi Chủ Tịch Hội Ðồng Nhà Nước Châu Ân Lai thừa
nhận chủ quyền của Trung Quốc về phạm vi các đảo Hoàng
Sa, Tây Sa - Mà nhà nước Trung Quốc đã đổi danh nên thành
Nam Sa từ năm 1958."
Linh Mục Nguyễn Hữu Khai, "một
trong những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội"
nơi Miền Nam trước 1975; Phó chủ tịch ủy ban đối ngoại
quốc hội Tôn Nữ Thị Ninh của đầu Thế Kỷ 21 hóa ra đã
nói lên những câu hài hước thậm tệ vô nghĩa như tiếng
lời của bọn người bất bình thường tâm lý gầm thét trong
cơn cuồng nộ. Và tiếp đến, Hiệp Ðịnh về Biên Giới
hai nước Việt-Hoa được ký kết mà thực chất là hợp thức
hóa bổn phận triều cống "thiên triều", đóng trọn
vai trò phên dậu đối với Trung Quốc như trong buổi phong
kiến cách đây hai nghìn năm. Hà Nội với đảng cộng sản
đã hiện thực tính sa đọa chính trị tột cùng tệ hại
hơn cả thời Triệu Ai Vương đầu hàng Nhà Hán (TK2 trước
Công Nguyên); hoặc cách dâng đất, động vùng biên gới của
Mạc Ðăng Dung (Thế Kỷ 16). Quá trình đầu hàng của đảng
cộng sản Việt Nam đối với khối cộng sản Nga-Hoa từ ngày
đảng thành lập 3 tháng 2, 1930 do những tội phạm lịch sử
bao gồm đủ Hồ, Duẩn, Ðồng, Chinh.. trước đây thực hiện
theo những mức độ khác nhau (rất kín đáo và khôn ngoan để
không bằng cớ cáo buộc), nay được "nâng cấp và lộ
liễu" hơn với Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Ðức Anh,
Nông Ðức Mạnh.. cùng đám bầy tôi nơi bộ chính trị đồng
thủ diễn. "Sự nghiệp tai họa" nầy đã không thể
hoàn tất nếu thiếu vắng những thành viên của tổ chức
gọi là "Quốc Hội Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước
1975, và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam" hiện nay.
Tôn Nữ Thị Ninh và tổ chức ngoại vi đảng cộng sản kia
đã, đang có mặt vô cùng tích cực và hữu dụng trong nghiệp
vụ bán nước ấy với tất cả khôn ngoan lịch lãm của một
cô đầm con biết hút thuốc lá. Chúng ta có thể nói thêm
được gì? Lời Khổng Tử - Phụ nhân nan hóa - Thật
rất đỗi chính xác với O Ninh, Tôn Nữ Thị Ninh.
Cuối cùng, trong nghiệm vụ giải
độc sẵn nhiễm độc, Tôn Nữ thị Ninh đã đi xa hơn ý muốn
của những kẻ đã sai phái, chỉ định y thị ra nước ngoài
công tác: Xúc phạm một cách thô bạo nhất đối với những
Người Tù Lương Tâm – Biểu tượng Sức Vô Úy, Hạnh Từ
Bi, bản lãnh của cả Dân Tộc, bất luận lương hay giáo:
Những Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Thích Huyền
Quang, Thượng Tọa Tuệ Sĩ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý.. Qua lý
luận cộng sản, do yêu cầu chính trị của chế độ, phó
trưởng ban đối ngoại quốc hội Tôn Nữ thị Ninh đã gọi
những con người tôn quý kia bằng những danh xưng biếm nhẻ,
khinh khi: "những đứa con cháu hỗn láo bướng bỉnh"
và giành quyền giáo dục, răn dạy: "Trong gia đình chúng
tôi có những đứa con hỗn láo bướng bỉnnh, thì để chúng
tôi đóng cửa lại trừng trị theo cách của chúng tôi. Các
anh hàng xóm đứng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riệng
của gia đình chúng tôi.. ND ibid" Chúng ta nghe lại âm vang
của những chữ, nghĩa bất nhân, vô nghì gọi là "thơ giác
ngộ giai cấp" của Xuân Diệu nhắn với mẹ, cha trong những
ngày của cao trào đấu tố 1953 ở Miền Bắc,
.. Ai về làng Bái Hạ
Nhắn vợ chồng thằng thu
Rằng chúng bây là lũ quốc thù!
"vợ chồng thằng thu" (không
đáng đến một chữ viết hoa) là Ông, Bà Ngô Xuân Thu, bố,
mẹ khai sinh ra "thi sĩ tình yêu-cũng là thi sĩ nhân dân Xuân
Diệu". Hoặc cách huênh hoang ngược ngạo của Nguyễn Ðình
Thi, phát ngôn viên cho lớp người cộng sản hãnh tiến do
vừa đoạt thắng bằng bạo lực,
Trời không có thiên thần
Ðất không có thánh nhân
Chỉ có nhân dân thần thánh
Và đảng ta làm nên sức mạnh
Bay đến chân trời!
Nhưng dù đã xử dụng đến những
lời lẽ hàm hồ, tệ hại nhất, O Ninh kể ra cũng chưa
đạt đến "tiêu chuẩn" bao nhiêu trong công nghiệp buộc
tội Miền Nam, và chạy tội cho Hà Nội – Công tác nầy
phải được trao vào tay một kẻ thủ đoạn thâm hiểm, trí
trá hơn gấp bội. Chúng ta qua phần người và việc thứ
hai.
Hai. Nhất Hạnh: Giả Hành không
hề là Hành Giả
Chúng tôi cần minh xác ngay, bài
viết chỉ đề cập đến "cá nhân tên gọi Nhất Hạnh"
qua ngôn ngữ, chữ viết của một kẻ dụng tiếng lời,
văn bản thực hiện một công tác chính trị nhằm triệt hạ
một chế độ, bảo vệ một chế độ đối nghịch và
bạo ngược khác không là một tăng sĩ hành đạo
theo ý nghĩa, mục tiêu tôn quý của Phật Giáo - Ðạo Giải
Thoát nhằm mục đích giúp con người cởi bỏ oán nghiệp
thế gian, cũng là sức mạnh tiềm ẩn bền bỉ của Việt
Tộc chứng nghiệm theo suốt hai nghìn năm lịch sử. Hơn thế
nữa, về lý thuyết và thực hành Thiền Ðạo, cá nhân nầy
cũng đã biểu hiện những hành vi, ngôn ngữ hoàn toàn sai
lạc với giáo lý, cách ứng xử của Hành Thiền – Phần
thứ hai của đoạn viết nầy sẽ dẫn chứng rõ. Chúng ta
bắt đầu câu chuyện qua trích dẫn bài viết xác đáng của
Tôn Nữ Như Không thể hiện tính Vô Kỵ, Vô Úy, Vô Ngại
của Phật Pháp: "..Nói tới Thiền sư Thích Nhất Hạnh có
lẽ phần đông người Việt Nam đều nghe danh, và đối với
phần đông người Việt Nam và người ngoại quốc, Thiền
sư Thích Nhất Hạnh đã xuất hiện như một người đạo
cao, đức trọng. Chính vì cái hình ảnh đạo cao, đức trọng
này, cộng với tài tổ chức, tài thuyết pháp và tiền
rừng, bạc biển, mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh có khả
năng góp phần gây ảnh hưởng tốt hay xấu trên dư luận
thế giới về một vấn đề nào đó.. Và tại sao hôm nay
chúng tôi lại buồn lòng phải thưa chuyện với Thiền sư
Thích Nhất Hạnh, với Phật tử và với mọi người Việt
Nam một cách thẳng thắn? Xin thưa: vì Thiền sư Thích Nhất
Hạnh lại vừa làm thêm một chuyện động trời. Tôn Nữ
Chơn Không, Tâm Dao Găm". Bài viết đi vào chi tiết hành
động, ngôn ngữ của người (được tưởng rằng) gieo
rắc tình thương, bác ái, nhưng thật sự đang bày ra một
bãi phục kích với súng đạn, máu chảy, xương rơi ngụy
tạo: " Sau khi nước Mỹ bị bọn khủng bố tấn công tàn
bạo, và trong khi nước Mỹ gạt nước mắt để cương quyết
đứng lên cùng cả thế giới ngăn chặn những đợt khủng
bố kế tiếp, đồng thời truy lùng bọn khủng bố có tổ
chức quy mô và có khả năng tiêu diệt nền văn minh nhân loại
bằng những thứ vũ khí độc hại nhất, thì Thiền sư Thích
Nhất Hạnh đã cấp tốc tổ chức một buổi thuyết pháp
tại một nhà thờ ở New York, và đã chi một số tiền kếch
sù để đăng quảng cáo buổi thuyết pháp này trên một tờ
báo có ảnh hưởng rất lớn ở nước Mỹ là tờ The New York
Times.. Bài thuyết pháp được mở đầu bằng tám câu thơ,
xin tạm dịch,
"Tôi bụm mặt trong hai
bàn tay
Không, tôi không khóc
Tôi bụm mặt trong hai bàn tay
để sưởi ấm nỗi cô đơn
Trong bàn tay bảo vệ.
Trong bàn tay nuôi nấng
Trong bàn tay ngăn cản
Hồn tôi đừng bỏ tôi một
mình trong cơn giận dữ."
Bài thơ thật tuyệt vời, nhưng
là sự tuyệt vời khởi đầu cho một âm mưu gian dối! Bởi
vì ngay sau đó, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nói với cử
tọa Mỹ rằng bài thơ đã được làm trong cuộc chiến tranh
Việt Nam, khi Thiền sư nghe tin Thị Xã Bến Tre với 300,000
ngàn dân đã bị máy bay Mỹ bỏ bom phá huỷ, chỉ vì có bảy
quân du kích đã bắn vài loạt đạn súng phòng không lên trời
rồi bỏ chạy. Vụ phá hủy Thị Xã Bến Tre ấy đã làm Thiền
sư đau đớn vô cùng!!
Muốn phân tích chuyện bịa trắng
trợn mở đầu cho bài thuyết pháp hôm 25 tháng 9 vừa qua (2001,
2002(?), thiết tưởng nên chép lại đây nguyên văn lời Thiền
sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp bằng tiếng Mỹ: "I wrote this
poem during the Vietnam war after I heard about the bombing of Ben Tre
city. The city of 300,000 was destroyed because seven guerrillas
shot several rounds of unsuccessful anti-aircraft gunfire and then left.
My pain was profound." Tôn Nữ
Như Không, ibid."
Chúng tôi cần lưu ý, nói rõ về
câu nói cố ý lấp lửng: "All the city of 300,000 was destroyed.."
Thị Xã Bến Tre (hay Trúc Giang), thuộc Quận Châu Thành, Tỉnh
Bến Tre, nằm cạnh sông Tiền Giang; tỉnh được thành hình
do phân chia hành chánh của thời Ðệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963)
lấy từ phần đất của Mỹ Tho, Long An, Gò Công, mà thật
ra chỉ do một Quân Bình Ðại cơ hữu được mở rộng. Thế
nên, bên cạnh Mỹ Tho, Tân An, Thị Xã Trúc Giang của Bến
Tre chỉ là một phố chợ mới khai triển. Cũng cần nêu một
so sánh, trước khi chiến tranh mở rộng do lần đổ quân của
quân lực Mỹ, bởi Hà Nội quyết định dứt điểm Miền
Nam trong mùa khô năm 1965, dân số Ðà Nẵng khoảng hơn 100.000
người, và Sài Gòn đứng ở con số 1 triệu 500.000 người
với Quậân Phú Nhuận, quận lớn nhất Sài Gòn cũng chỉ
có dân số 200.000 người - Vậy lấy đâu Thị Xã Trúc Giang
(Bến Tre) có được dân số 300.000 người cho một lần tàn
sát? Giờ tính đến những thống kê quân sự của trận
chiến thế giới: Trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima ngày
6 tháng 8, 1945 tàn sát 80.000 người; trái thả xuống Nagasaky
bốn ngày sau giết hại 40.000 (Our Times, Turner Publishing, Inc.
Atlanta, Georgia, USA 1995; p336). Vậy với hai quả bom ghê gớm
kia của lịch sử chiến tranh thế giới, tổng số người
thiệt hại chưa với tới một nửa của trận oanh tạc
do một người không hề có chút nhỏ kiến thức về vũ khí,
quân trang bị gọi là "thiền sư" Nhất Hạnh ngụy tạo.
Lời tố cáo sẽ gặp bế tắc bởi những câu hỏi cụ thể:
"Trận oanh tạc kia xẩy ra vào thời điểm nào? Của trận
đánh nào?" Bởi, chỉ là một người hành nghề thuyết
giảng nên ông ta hoàn toàn không biết rằng: "Lệnh oanh
tạc, xạ kích từ máy bay chỉ được thực hiện sau khi máy
bay quan sát đã chỉ điểm mục tiêu, do yêu cầu của bộ
binh có mặt trên trận địa". Làm gì có sự kiện một
trận oanh tạc được thực hiện tùy tiện nhằm để trả
đủa sau khi bị bảy du kích bắn lên dẫu không gây thiệt
hại (Làm sao biết rõ chỉ với con số bảy người chứ
không nhiều, hoặc ít hơn; và những ai đã sống sót sau trận
oanh tạc tàn khốc kia để nay giúp Nhất Hạnh dựng nên
điều tố cáo)?!. Chỉ một vụ Mỹ Lai thôi với 22 nạn nhân
được xác định là "nạn nhân vô tội không có vũ khí"
cũng đủ làm lung lay tinh thần chiến đấu, uy tín của quân
đội, chính phủ Mỹ. Ðằng nầy ba-trăm ngàn người chết
im lặng, biến đi không dấu tích, nay mấy mươi năm sau mới
được tái hiện trên miệng lưỡi Nhất Hạnh, và không một
tờ báo nào, những The Washington Post, The New York Times
để xuống cho một chữ, một lời ý kiến - Ngoài bài
thuyết pháp (bao gồm nội dung tố cáo với 300.000 ngàn xác
chết) được trả tiền đăng tải - Cũng với The New York
Times chứ không ai khác. Nhất Hạnh, ông là một người
nghiên cứu quân sự hạng tồi và cũng chẳng khá hơn trong
nghiệp vụ hành giả- Chúng tôi trả ông về với phạm vị
thủ đắc với chiếc kính chiếu yêu soi rõ chân dung.
Ðạo Phật là Ðạo Giải Thoát
– Giải thoát khỏi Nghiệp Khổ – Không chỉ những
khổ đau thiệt hại thông thường về thể chất, tinh thần
nhưng toàn bộ ràng buộc, liên hệ, hậu quả do, từ, của
tiến trình: Hình thành-Tăng trưởng- Suy hoại- Hũy diệt
- Tái sinh. Và Thiền Lực là phương tiện (hữu hiệu
nhất) bức thoát khỏi tiến trình kiềm hãm nầy qua khai triển
năng lực vô hạn của Tính Không – Shunyata: Phật Tánh
hay Pháp Tánh của Phật. Chúng ta hãy xét xem người
gọi là "thiền sư" Nhất Hạnh đã thực hành "thiền"
như thế nào: "Ông có đủ (rất đủ), có nhiều (rất nhiều)
do tài tổ chức, tài thuyết pháp với tiền rừng, bạc
biển (TNNK- ibid).. Ông đi bước
"hành thiền" có hàng trăm, ngàn đệ tử theo chân; ông
đưa tay ra chỉ dấu (do đang "thiền định") có người
phối hiệp Chân Không theo hầu thực hiện.. Lần thăm viếng
các Ðại Lão Hòa Thượng Quảng Ðộ, Huyền Quang, Trí Quang,
Thượng Tọa Tuệ Sĩ hiện nay ở Việt Nam (từ cuối 2004 kéo
dài qua 2005), qua liên lạc, môi giới của Chân Không (Cao Thị
Ngọc Phượng, mà thực chất là người quản gia, người vợ
với định nghĩa thực tế nhất) ông đã yêu cầu thực hiện
những nghi thức: "Phải có hai lọng che, khay trầm hương mở
đầu để ông "hành thiền" đi theo vào gặp các vị
kể trên!!" Buổi Thái Tử Tất Ðạt Ða từ bỏ hoàng cung
vua Tịnh Phạn để tìm Ðạo, bên sông A-lô-ma Ngài đã bảo
người hầu Xa-nặc hãy trở về cùng với hoàng bào, ngựa
quý, lẫn khối tóc để xác chứng (về mặt vật thể; tâm
lý, tinh thần cũng là dạng hiện thực của vật thể) quyết
tâm dứt bỏ khởi đầu ràng buộc nghiệp dĩ nhân sinh. Ðến
bao giờ ø "thiền sư" Nhất Hạnh kia thực hiện được
bước đầu "thiền ý" cần thiết ắt phải có nầy?
Cuối cùng, để kết thúc phần
Nhất Hạnh, chúng tôi cậy đến quan điểm của Ðại Sư A.C.
Bhaktivedanta Swami Prahupãda, Chủ Tịch Sáng Lập Viện Nghiên
Cứu Thế Giới về Ýù Thức Ðại Giác (Trụ sở ở Los Angeles
(USA), Úc, và Nam Phi) soi rọi ánh sáng minh triết về hiện
tượng Sống-Chết, Tu Chứng; Hàønh Thiền: "Người minh
tuệ không cần phải than khóc ngay cả khi đối mặt với cái
chết, bởi vì hiểu rằng linh hồn trong thể xác (đang ở
trạng thái gọi là chết ấy) không hề chết. A.C. Bhaktivedanta
Swami, Bhagavad-Gita As It Is, Victoria, Australia, 1997.
p 33". Và Ðại Sư cũng định nghĩa rõ thế nào là một Hành
Giả chân chính: "Khi một người (làm ra vẻ) giới hạn
ý nghĩa của hành động mình, nhưng tâm trí lại bị mắc
kẹt vào ý thức vật thể, thì chắc chắn rằng, kẻ ấy
tự đánh lừa mình, và (chúng ta) phải gọi đấy là một
"kẻ giả hành - pretender" A.C. Bhaktivedanta Swami ibid,
p 93". Ðại Sư tiếp giải thích quan điểm trên qua phân biệt
cao kiến: "Có nhiều kẻ giả hành phủ nhận hành (Nghiệp)
qua Ýù Thức Giác Ngộ (Krsna Conciousness), nhưng làm ra cách
điệu thiền định, thật sự lại cột chặt tâm trí mình
vào ý thức dục lạc. Những kẻ giả hành kia có thể
thuyết giảng về một thứ, loại triết lý khô rốc nào đó
nhắm mục đích lừa bịp chúng đệ tử màu mè huê dạng
– Nhưng căn cứ theo những lời thuyết giảng ấy, những
kẻ (gọi là giả hành) nầy rõ ràng là những tay bợm bãi
siêu đẳng. Ðúng ra mà nói, đối với ý thức dục lạc,
người đời có thể thực hiện với bất cứ khả năng (riêng
tư) thích nghi nào miễn là phù hợp với trật tự xã hội
– Và khi con người hành xử trật tự, luật tắc (xã hội)
như thế tức là họ đã tiệm tiến thanh hóa cuộc sống (trần
thế) của mình vậy. Nhưng (trái lại) khi con người cố tâm
biểu diễn nên thành một Hành Giả (Yogĩ) mà thực tâm chỉ
gắng công tìm kiếm nguồn vật chất, cốt để thỏa mãn
ý thức dục lạc của mình – Bấây giờ, kẻ ấy phải
gọi nên đích danh là một tên lừa bịp lớn nhất –
cho dù đôi khi y ta cũng huênh hoang rao giảng về điều gọi
là triết học. Sự hiểu biết của đương sự quả thật
vô dụng, bởi những hệ quả dậy từ tri thức ma quỷ của
hắn sẽ bị xóa bỏ bởi năng lực soi rạng của Thượng
Ðế. Tâm trí của kẻ giả hành kia luôn bị hôn ám, thế
nên, những màu mè biểu diễn về định thiền, tu tập của
y ta hoàn toàn không mộät chút nhỏ giá trị nào. A.C. Bhaktivedanta
Swami ibid, Chapter III; 6th Paragraphe; p 93". Ðịnh
nghĩa, phân giải của vị Ðại Sư hẳn quá đầy đủ, áp
dụng chính xác đối với người, việc của một cá nhân
hành nghề thuyết giảng có tên hiệu Nhất Hạnh.
Ba. Nguyễn Cao Kỳ: Tiếp tục
những điều kỳ cục, quái gở ở mức độ cao nhất.
Ðến nhân sự thứ ba nầy quả
thật bản thân rơi vào tình cảnh não nề muốn vất bỏ công
việc đang dự trù thực hiện. Cũng bởi thân xác quá yếu
mệt sau lần giải phẩu lớn, nhưng cụ thể hơn là mối phiền
bực vô hạn khi phải chứng kiến một điều tệ hại quá
đổi xấu xa. Con người phải có lương tri, lương năng. Con
người phải có liêm sĩ. Con người phải biết dừng lại
tại những giới hạn - Giới hạn phân biệt giữa một Nhân
Vị siêu việt và một Sinh Vật thuần bản năng. Vị tướng
lãnh quân đội, người lãnh đạo chính trị lại cần thể
hiện những phẩm chất bản lãnh cao thượng riêng biệt để
xứng đáng với vị thế danh xưng mình đã từng thủ đắc,
cho dẫu cuối cùng phải gánh phận thất bại. Nhưng hôm nay,
nhân sự tên gọi Nguyễn Cao Kỳ thêm một lần (của rất
nhiều lần) vượt khỏi giới hạn cuối cùng nầy ở hạn
tuổi quá bảy-mươi. Có thể đêm nay, có thể ngày mai, một
tương lai rất gần, cá nhân nầy sẽ phải tan biến, nhưng
những tiếng lời xấu xa vô nghì của, về ông ta sẽ mãi
lưu lại.. Tại sao lại có thể như thế với một người
đã 75 tuổi tên gọi Nguyễn Cao Kỳ? Chúng tôi tự hỏi
như thế nhiều lần với kinh ngạc vô vàn trước sự kiện
trân tráo cực độ nhẫn tâm. Bài viết sau đây có ý nghĩa
như một cố gắng cuối để giải thích về một điều không
thể xẩy ra, nhưng.. đã xẩy ra như một lẻ thường của
Tính Bất Thiện.
Ðể giới hạn mục tiêu bài viết,
chúng tôi chỉ căn cứ trên những trả lời của ông Kỳ với
phóng viên Báo Thanh Niên, Xuân Ất Dậu 2005 (Theo bản tin NET
ngày 25 tháng 1, 2005 chuyển tiếp; kèm hình ảnh buổi ký hợp
đồng xây dựng sân golf Tuần Châu (12/2004); NCK chứng kiến,
đứng giữa những giới chức đương sự); chúng tôi cũng
trích dẫn những điều ông ta cải chính với báo nầy qua
lá thư gởûi Tổng Biên Tập Báo Thanh Niên, đề ngày 24 tháng
Giêng, năm 2005; Bản sao đồng gởi tới Vũ Mão, Ủy ban thường
vụ quốc hội, Trưởng ban đối ngoại (Tôn Nữ thị Ninh giữ
chức phó ban); Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch UBTU Mặt Trận
Tổ Quốc; các tổ chức trong nước; hội đoàn, báo chí hải
ngoại.
Ðể có một đúc kết chính xác
về những vụ việc quanh nhân sự NCK, chúng tôi tóm lược
những hoạt động, tuyên bố của ông ta có liên quan đến
người, việc ở hải ngoại, với đối tượng cụ thể là
Người Lính VNCH. Sự kiện thứ nhất, lời tuyên bố trong
cuộc gặp gỡ với David DeVoss, Ðặc Phái Viên báo thương
mại, Asian Inc’s America (Bản tin NET ngày 28 tháng 10, 2002):
"Cuộc chiến Việt Nam là một chiến tranh bẩn thỉu". Nhưng
sau khi nhận thấy cộâng đồng Quân-Dân Miền Nam nơi hải
ngoại phản ứng đồng loạt chống đối, nên cá nhân kia
thực hiện tiếp một cuộc phỏng vấn với ký giả Bảo Vũ
(Ðài Phát Thanh Úc Châu) để đính chiùnh rằng: Y ta không
xử dụng cụm từ bất nghĩa, "A little dirty war.." đối
với chiến tranh, người, việc của Miền Nam trong giai đoạn
1955-1975, qua lời thanh minh: "Chỉ lập lại ý kiến của
giới truyền thông, sách báo của giới phản chiến Mỹ."
Từ sự kiện nầy, chúng tôi đã phải lên tiếng lần Thứ
Nhất với bài viết "Khi Người Lính Già tự tay xé Chứng
Chỉ Tại Ngũ", Cali, 11/2002
Tiếp đến lần thứ hai, cá nhân
ấy về Sài Gòn (dịp Tết Giáp Thân, 2003-2004) tung ra những
nhận định, tuyên bố (qua họp báo, thâu hình ở Sàigòn –
Bản thân và nhiều bằng hữu, chiến hữu có dịp theo dõi,
ghi nhận từ một băng vidéo gốc tại tư gia của một vị
tướng lãnh niên trưởng khả kính) có mục đích xưng tụng
người và chế độ đã gây đại họa cho toàn dân tộc Việt
(cũng bao gồm cá nhân, gia đình của chính đương sự) trong
suốt thời gian dài kể từ ngày đảng cộng sản thiết lập,
3 tháng 2, 1930 - Năm y ta ra đời. Rồi tiếp theo cũng có lời
thanh minh với những ký giả Cao Sơn, Võ Phong (San José);
Lý Kiến Trúc (Văn Hóa, Nam Cali). Chúng tôi buộc phải cầm
bút lần Thứ Hai để khẳng định: "Gã lính già kia thực
sự chỉ là một phó lái buôn - Tên lái buôn biễn lận
đi rao bán máu và thây xác của chính đồng bào, đồng đội
mình" - Qua bài viết, "Ky est Ky" Cali, Tháng 2/2004.
Cụm từ "Người Lính Già"
vốn có xuất xứ từ lời tuyên xưng cao thượng của Danh
Tướng McArthur, "Người Lính Già không bao giờ chết.. Họ
chỉ nhạt nhòa đi". Nguyễn Cao Kỳ trong thập niên 60-70
luôn nại ra để đề cao "trị giá quân nhân tướng lãnh"
của bản thân – Nhưng sự thật hôm nay đã hai lần phản
bác, bày ra một con người đã bốc lầy lên mùi thây ma khi
đang còn sống. Bây giờ lại là lần Thứ Ba, và chúng tôi
sẽ không đề cập đến những ý kiến của ông ta giải thích
về lý do, hậu quả của việc giao dịch, buôn bán, cộng tác
với chính quyền Hà Nội mà hiện tại đương sự đang đóng
một vai trò trung gian, dắt mối giới thiệu. Chúng tôi hạn
chế bài viết trong chủ đề: "Nguyễn Cao Kỳ chê bai
tướng lãnh và quân đội VNCH" với người, việc thuộc
lãnh vực quân sự theo như lời mở đầu, căn cứ trên
bài viết của Vann Phan, và hai văn bản liên hệ (một của
Báo Thanh Niên, một của y đương sự).
Buổi Nguyễn Cao Kỳ "nói thẳng"
được mở đầu với khẳng định: "Tôi (NCK) đã nói từ
năm 1973 về việc miền Bắc sẽ chiến thắng!" Nguyễn
Cao Kỳ tiên tri tương lai miền Nam: "Ngay sau Hiệp Ðịnh
Paris, tờ Newsweek đã phỏng vấn tôi cả một trang cuối..
Họ (Báo Newsweek) hỏi: "Sau khi người Mỹ rút đi mọi chuyện
sẽ như thế nào?" Tôi trả lời: "Cộng sản sẽ tấn công"
Hỏi: "Bao lâu nữa?" Tôi đáp: "Sau hai năm". Khi đó mọi chuyện
sẽ như thế nào?" Tôi trả lời: "Miền Nam sẽ tan rã".
Từ tiền đề "nói đúng, nói chính xác" tương lai Miền
Nam với những câu xác định vừa kể, NCK và phóng viên báo
Thanh Niên qua điểm gút của câu chuyện (về những tướng
lãnh, người lính miền Nam). Qua đoạn hỏi, đáp nầy, chúng
ta nhận ra là đã có một Nguyễn Cao Kỳ rất "giỏi gian"-
khôn ngoan sắc xảo hơn cả Bunker, hơn hẳn Nguyễn Văn
Thiệu - Bởi ông Thiệu nói rằng, vì tôi ghen ghét nên tôi
nói bậy. Nhưng cuối cùng thực tế đã diễn ra đúng như
thế. (NCK, Thanh Niên ibid) Ðể tăng cường độ chính
xác đối với ý kiến của NCK, chúng tôi bổ túc những yếu
tố sau mà chắc rằng viên thiếu tướng chuyên nghiệp lái
máy bay vận tải không biết (vìø nếu như đã tường tận,
thì "tiên tri- miền Nam sẽ sụp đỗ" cũng chẳng cần
tài giỏi gì mới nói lên được): Trong trận chiến 1972 trước
khi Hiệp Ðịnh Paris ký kết (từ hội nghị do NCK giữ chức
trưởng phái đoàn đầu tiên (1968) với nhiệm vụ (quan trọng
hơn trách nhiệm chính trị của một trưởng phái đoàn quốc
gia) đưa vợ qua Paris mua sắm, du hý) một pháo đội đại
bác (với 6 khẩu 105 ly) có thể tác xạ 10 tràng (60 viên
đạn) để dọn bãi, giữ an toàn mục tiêu (nếu đụng
trận số đạn xử dụng sẽ không hạn chế). Cấp số
đạn (được quyền xử dụng kia) sau hiệp định chết người
gọi là "Tái Lập Hòa Bình tại VN" chỉ còn "4 (Bốn)
viên cho một ngày hành quân". Và ngay tình hình nhân sự,
trang bị, khí tài trong không quân, hẳn NCK cũng không biết
nốt, tương tự như vào những giờ phút nguy biến của quốc
gia, ông ta đã có thái độ vô trách nhiệm qua hoạt cảnh
(Trong biến cố gọi là "Phản Ðảo Chính 19 tháng 2,
1965"): "Tôi (Ðại Tá Phạm Văn Liễu, Tổng Giám Ðốc
Cảnh Sát-pnn) phóng xe lên thẳng phi trường Biên Hòa để
tìm cách đối phó với tình thế.. Ông Kỳ đang ngồi đánh
mạt-chược.. Vẫn không rời bàn mạt-chược, Tướng
Kỳ đáp: "Ông làm cách nào đánh lại tụi đảo chính đi.
Tôi sẽ cho thằng Phạm Phú Quốc lên vùng, đặt dưới quyền
điều khiển của ông." (Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi,
Văn Hóa, Houston, TX 2004; Tậâp 2, trg 228). Ðiều
(có thể) không biết của NCK về không quân là, sau Hiệp
Ðịnh Paris 1973, ngay Sư Ðoàn 5 Không Quân của Phan Phụng Tiên
(bạn thiết của Kỳ) chỉ còn đúng 3 (Ba) chiếc C130 xử dụng
được - Không chỉ thế, những phi cơ hoạt động nầy phải
dùng cơ phận của những chiếc bị đình động. Trong những
ngày di tản kể từ 15 tháng 3, 1975 (lần di tản Pleiku), Bộ
Tư Lệnh Không Quân phải dùng đến C123 đã bị đình chỉ
hoạt động từ lâu. Tình trạng của các phi cơ chiến đấu
cũng không khả quan hơn, Skyraider từ đời đệ nhị thế chiến
(1945) sau 1973, 1974 lại phải đem ra bay tăng cường cho F5, A37
(bởi đã quá giờ bay hành quân). Và chắc chắn Nguyễn
Cao Kỳ cũng không hiểu biết bao nhiêu về chính trị như:
Ðiều I của Phần Dẫn Nhập Hiệp Ðịnh Paris (lập lại từ
Hiệp Ðịnh Genève 1954) xác định một Nguyên Tắc nhất quán,
căn bản: VIỆT NAM LÀ MỘT NƯỚC BẤT KHẢ PHÂN – Có
nghĩa: HÀ NỘI KHÔNG HỀ XÂM LƯỢC MIỀN NAM. Có nghĩa:
KHÔNG CÓ QUÂN ÐỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA XÂM
LĂNG NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HÒA, MỘT QUỐC GIA DƯỚI VĨ TUYẾN
17 – VÀ VĨ TUYẾN NẦY CHỈ LÀ ÐƯỜNG RANH QUÂN SỰ TẠM
THỜI. VÀ CUỘC CHIẾN MIỀN NAM SẼ DO "HAI BÊN MIỀN NAM VIỆT
NAM" GIẢI QUYẾT TRONG TINH THẦN HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC".
Chúng tôi không võ đoán về tính chất ngây thơ tầm phào
(trong lãnh vực chính trị) của Kỳ, bởi chính đương sự
đã thủ diễn những màn hài hước (chính trị) và được
(chính xác là "bị") đánh giá như sau:
"Sau khi được đề cử nắm giữ
chức vụ hành chánh cao nhất của Miền Nam vào năm 35 tuổi:
"Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương", Nguyễn Cao Kyø
được người Mỹ phê điểm: "Tên nhải ranh gọi là Tướng
Kỳ kia, hôm nay (19 tháng 6, 1965) đã lớn tiếng yêu cầu chúng
ta "xâm lăng Miền Bắc và giải phóng Bắc Việt Nam" - Thằng
nhỏ điên khùng trời đánh nầy không hề lái xe ra khỏi Sài
Gòn được một dặm nếu như không có đoàn công-voa súng
đạn tận răng hộ tống, nay lại đòi giải phóng Miền Bắc!!
(Neil Sheehan A Bright Shinning Lie Random House - New York,
1988, p512.)
Chúng ta có thể lấy thêm nhận
xét của một giới chức đã từng giữ chức vụ quan trọng
trong quá trình đẩy mạnh, thực hiện chiến tranh, tăng cường
viện trợ cho Miền Nam (những người mà Kỳ đánh giá "không
tài giỏi, khôn ngoan" bằng ta). Ðiển hình như Phó Ðại
Sứ Alex Johnson đã có lời: "Hắn ta (Kỳ) như một hỏa
tiễn không hướng dẫn. Chỉ là một bợm rượu, chuyên bài
bạc, và vây vo tán tỉnh quanh quẫn mấy con mụ đàn bà..
Khi được báo chí hỏi ai là người mà hắn tán tụng nhất;
y đã tuông lời huênh hoang: "Tôi chịu Hitler hết ý.. Ở Việt
Nam nầy phải cần có đến bốn hay năm Hitler mới được
(Robert McNamara In Retrospect Random House - New York, 1995,
p186)
Chúng ta trở lại thời điểm tháng
4, 1975. Sài gòn như một bãi lửa sau khi Quân Ðoàn II rút bỏ
Tây Nguyên (15 tháng 3); Quân Ðoàn I lui binh khỏi Huế (24 tháng
3); Ðà Nẵng 29/3; Nha Trang 30/3 - Thời điểm mà Kỳ đã tiên
tri "chính xác" sẽ phải tới sau hai năm ký kết Hiệp
định Paris - Nhưng Kỳ đã không hành xử theo "tiên tri" của
mình mà lại tìm tới người Mỹ (Người Mỹ dưới quyền
của Ðại Sứ Bunker, kẻ bị Kỳ chê (không thức thời) với
báo Thanh Niên ba mươi năm sau). Người Mỹ nầy có vẻ thông
cảm (vẫn là người Mỹ chứ không ai khác) trong bữa rượu
có tính cách vĩnh biệt chiều 27 tháng 4, Eric von Marbord (giới
chức CIA cao cấp) cùng Kỳ lắng nghe tiếng pháo (cộng sản)
dội xuống quanh thành phố và còi báo động thổi dồn. Kỳ
ngỏ lời: "Chúng tôi có thể (tiếp tục) chiến đấu ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long, và có thể cầm cự trong vài
tháng. Chính phủ Hoa Kỳ thuận hỗ trợ cho chúng tôi không?
Không phải với nhân mạng, nhưng bằng vũ khí?
- Ðau thương thêm mà thôi. Không
được đâu. Marbord xác định: "I'm sorry, the answer is
NO. (Nguyên bản tiếng Mỹ) Olivier Todd; Cruel Avril Robert
Lafont, Paris, 1978 p349).
Bị người Mỹ bỏ rơi (điều nầy
Kỳ hẳn không "tiên tri" thấu), giờ đến lượt những tướng
lãnh miền Nam, những người được Kỳ (tháng 4, 1975) tin tưởng,
tiết lộ cho biết kế hoạch: Chỉ cần chiếm giữ dinh tổng
thống, trụ sở và nhân sự bộ tổng tham mưu; đài phát thanh
và truyền hình là nắm trọn miền Nam. Tất cả những viên
tướng chỉ huy các đơn vị đều hoàn toàn đồng ý; nhưng
do kinh nghiệm của bản thân họ (đối với Kỳ), nên những
ông tướng đồng có lời thoái thác. Ví dụ như Cao Văn Viên,
Tổng tham mưu trưởng thì có ý kiến: "Ông cứ làm tới
đi. Chỉ cho biết ngày giờ, tôi sẽ mở sẵn cửa bộ tổng
tham mưu." Viên tư lệnh không quân thì tâm sự: "Xin ông
hãy ra tay. Nếu như muốn bắt tôi, tôi sẽ không một phản
ứng chống cự nào. Ông dư biết Thiệu cũng đang chuẩn bị
chạy. Sau lần cuối cùng gặp mặt, phía Mỹ đã phái một
tay đưa tin đến bảo tôi đừng động đậy gì cả.."
Gần gũi với Kỳ hơn hết là viên (cựu) tư lệnh thủy quân
lục chiến (Tướng Lê Nguyên Khang-pnn), cũng có ý kiến
(tương tự): "Tôi không thể cho anh quân, nhưng nếu anh hành
động thì lính tôi sẽ không phản ứng chống đối." Như
thế là thế nào? Trong giờ phút sôi lửa sống chết của
cả Miền Nam, Kỳ còn đặt hy vọng (hy vọng gì?) vào
tay những tướng lãnh mà (sau ba-mươi năm) Kỳ đã đánh
giá: "Vì tôi biết rất rõ ràng về cái gọi là những người
chỉ huy, những ông tướng lãnh miền Nam ấy. Từ ông Thiệu
cho đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi toàn những
vị ăn chơi phè phỡn.. Vann Phan, Người Việt ibid
& NCK, Thanh Niên ibid"
Không khuyến dụ được các ông
tướng, đợi đến ngày 23 tháng 4, Kỳ sốt ruột vì hai ông
Thiệu và Khiêm đang chuẩn bị ra đi với những tấn hành
lý chứa đồ quý giá mà không ai mời đến trao quyền, làm
lễ nhậm chức. Kỳ đáp trực thăng xuống mái Dinh Ðộc Lập,
vào gặp Tổng Thống Trần Văn Hương. Kỳ nói liền:
- Cộng sản có thể vào Sàigòn
trong vòng vài ngày, hoặc vài giờ.
- Phải điều đình thôi, Mérillon
(Ðại Sứ Pháp) và nhiều người thúc dục tôi trao quyền
cho Minh (Dương). Quân đội không thể chống cự lại; có phải
họ hết đạn rồi phải không? Tổng
Thống Trần Văn Hương mệt mỏi.
Kỳ vẫn hăm hở: Với súng, đạn
hiện có chúng ta có thể cầm cự được một hay hai năm.
Hãy đặt tôi làm tham mưu trưởng liên quân. Kỳ nghĩ rằng
quân đội cần một người chỉ huy nghị lực (là chính ta).
Nhưng Tổng Thống Hương từ chối khéo: "Một người như
ông đã là thủ tướng, và là phó tổng thống, không thể
nào chỉ giữ chức tham mưu trưởng thấp xoàng như vậy. Ðợi
vài bữa nữa, tôi bổ nhiệm ông vào địa vị cố vấn quân
sự đặc biệt cho chính phủ (Olivier Todd ibid p326).
Tổng Thống Hương không trao quyền
chức thì "người" tìm về phía nhân dân. Kỳ cùng Linh
Mục Thanh tập họp 10,000 (mười ngàn) người ở Xóm Mới,
khu Công Giáo bắc Sàigòn bùng lên những tuyên bố hỗn loạn,
náo động: "Thành lập một chính quyền mới, sửa soạn cuộc
kháng chiến; hoặc phải thực hiện ngưng bắn (nghiêm chỉnh
(!) để điều đình." Trong cơn say máu, Kỳ tung lên lời nguyền
để đời: "Qua Mỹ không có mắm tôm, cà pháo. Hãy ở lại
chiến đấu. Biến Sàigòn thành một Stalingrade!" Ðám đông
hoan hô như sấm rền (Todd ibid p335-337).
Chúng ta trở lại trọng tâm của
đoạn viết, vậy "Những Tướng Lãnh, Người Lính Miền
Nam" nào là đối tượng chịu nhận sự lăng nhục (của
Kỳ) hôm nay? Bởi, qua một khoảng thời gian dài từ 1965 đến
1975 như trên vừa nhắc lại, hơn ai hết Kỳ đã luôn cần
tới họ – Những Tướng Lãnh và Những Người Lính thuộc
QLVNCH – Cột trụ chính xây dựng nên "công danh, sự nghiệp"
cho đương sự, vốn xuất thân là thành phần thanh thiếu niên
ma mảnh phá phách nơi những khu phố nhỏ Hà Nội trong những
năm đầu thập niên 50. Nguyễn Cao Kỳ luôn cầu và phải
cần tới họ – Những Quân Nhân Cao Thượng Trung Chính
trong giờ phút tử sinh, sống còn của chính bản thân Kỳ.
Nguyễn Cao Kỳ không thể đến Trường Chỉ Huy Tham Mưu Long
Bình (Biên Hòa) ngày cuối tháng 4, 1975 nếu không được Trung
Tướng Phan Trọng Chinh bảo đảm hành vi. Nguyễn Cao Kỳ không
thể rời Bộ Tổng Tham Mưu để bay ra mẫu hạm USS Midway trong
buổi sáng 29 tháng 4, 1975 nếu không có bảo vệ cuối cùng
bởi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng - Vị Tướng Quân bậc thầy
của những tướng lãnh mà ngay cảû đối phương cộng sản
cũng không hề có lời xúc phạm.
Và cuối cùng, trực thăng của Kỳ,
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Nguyên Tư Lệnh Không Quân QLVNCH,
Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Phó Tổng Thống VNCH
sẽ không bao giờ rời khỏi bãi đáp tại tư gia trong Tân
Sơn Nhất được nếu không có Người Lính kiên cường - Viên
phi công Hỏa Long AC119 của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa đơn
độc đương cự - Trung Úy Nguyễn Văn Thành - Thiếu Sinh
Quân "Thành mọi". Anh bay lên, vào vùng, bắn phá những
vị trí pháo cộng sản đang bố trí quanh Sàigòn. Thành đáp
xuống (tự tay) tiếp đạn, và tiếp bay lên. Một hỏa tiễn
tầm nhiệt SA7 chém đứt thân máy bay. Con tàu bốc cháy, rơi
xuống với chiếc dù của Thành kẹt nơi cánh. Ðúng 6 giờ
46 phút sáng 29 tháng 4, năm 1975. Tôi chứng kiến. Tôi thấy
người phi công chết cháy trong vũng lửa trên bầu trời Tân
Sơn Nhất - Giờ Nguyễn Cao Kỳ bay ra hạm đội Mỹ.
Câu chuyện thăm thẳm dài bi thiết
của Dân và Lính Miền Nam (cũng của cả Việt Nam hôm nay,
ba mươi năm sau ngày 30 tháng 4, 1975) chấm dứt nơi đây, bởi
cơn bi phẫn do bị xúc phạm phải kìm giữ lại quá đỗi
nặng nề. Người viết lập lại kết luận đã một lần
trình bày tại hội thảo về Chiến Tranh Việt Nam tại Ðại
Học Tokyo, ngày 14 tháng 1, 2002: "Thượng Ðế ban cho con người
sự sống, và kế hoạch hóa tình cảnh, thời điểm từ giả
cuộc đời trần thế- Nhưng con người trong chuỗi sinh tồn
kia đã hiện thực điều bi thiết vĩ đại của mình - Người
quyết định lần chết cho chính bản thân. Người trao gởi
lại sau cái chết xác thân một trị giá vinh hiển. Người
Việt Nam đã hiện thực điều cao cả kia một cách tự nhiên
trong suốt đêm đen bất hạnh dài theo thế kỷ, giữa vũng
lửa chiến tranh mà toàn dân tộc đang gánh chịu một cách
khắc kỷ - Xem như một sự cùng đành. Không chỉ là những
người lính nơi trận điạ, mà là hằng loạt tướng lãnh
giữ chức tư lệnh đại đơn vị, hoặc sĩ quan cấp tá cao
cấp: Các Tướng Lãnh, Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần
Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ; Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn,
Nguyễn Hữu Thông; Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long.. Người
không chỉ chết một mình, mà với toàn gia đình cùng một
lần quyết tử: Chị Nguyễn Thị Thàng, vợ một nghĩa quân
chết với chồng và đàn con nơi chiếc đồn cô quạnh ở
Giồng Trôm, Vùng IV; Thiếu Tá Ðặng Sĩ Vĩnh, bào huynh của
gia đình niên trưởng Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm Xuân
Ninh, Chủ Nhiệm Báo Tiền Tuyến) chết cùng với cả nhà gồm
ba thế hệ: ông, cha, cháu; Những người lính Thủy Quân Lục
Chiến Lữ Ðoàn 147 của Nguyễn Xuân Phúc, Ðỗ Hữu Tùng đồng
tự sát nơi Bãi Mỹ Khê, Ðà Nẵng cuối tháng 3, 1975; Trung
đội Nhảy Dù với Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng nỗ một
lần lựu đạn sáng 30 tháng Tư, 1975.
Ánh chớp thanh quang của Anh Linh
bao Người Trung Liệt kia hẳn đã rung mờ nhật, nguyệt, hiện
thực lần Núi Sông cùng khóc với Con Người. Và Người cùng
một lần sống mãi với Quê Hương với Lịch Sử".
Mỹ Quốc,
Ngày ra tù 15 năm trước,
(29/1/1989-2004)
Phan Nhật Nam
|