Nổi
Lửa Bên Hồ Lớn
I- Khi Vào tháng
Sáu: Anh đang ở trong tình trạng lắng đọng sau một loạt
náo động, hỗn loạn, và di chuyển chỗ ở. Giờ ngồi yên
lại, thấm đau lẫn kiệt sức với những xé cào xưa cũ,
cũng có phần do đỗ vỡ tai họa hôm nay, sau hai năm nỗ lực
"tập sống như một người bình thường" ở tuổi quá
năm mươi, buổi quá đỗi muộn màn để bắt đầu lần làm
lại!! Nhưng sự thể không hẳn như vậy. Khi những giọt mưa
đầu mùa Hè rơi xuống, từ trong thăm thẳm, xa xôi, tận cùng
trí nhớ - qua âm mưa ray rứt của tháng Sáu – cũng dần thành
hình lại Nỗi Ðau luôn hiện mới… Nầy đây, lần tháng
Sáu 1965, ngày vỡ trận Ðồng Xoài, bắt đầu từ những ngày
sau 10, 11… nơi Nghĩa Trang Quân Ðội Gò Vấp, với hằng trăm,
lên đến số ngàn xác chết của Tiểu Ðoàn 2/7 Sư Ðoàn 5
Bộ Binh, Tiểu Ðoàn 52 Biệt Ðộng, và đơn vị thân thiết
đầu đời, Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù, mà người chết không thể
kiểm kê chính xác, chỉ biết lấy tổng số cơ hữu xong trừ
cho đám người hiện có mặt. Người sốâng sót ngồi nhìn
nhau ngơ ngác, vô hồn ở sân cờ tiểu đoàn, đang là bãi
hỗn mang chen chúc, gào kêu những người vợ lính quấn dối
những vành khăn trắng xổ tung tưởi do những con nhỏ bấu
víu khóc ngất… Ba, ba đâu má ơi!! Anh lúc ấy chỉ là cậu
thiếu úy tuổi vừa qua hai mươi tuổi, nhìn trân vào mỗi
người vợ lính với cảm giác có tội - Tội sống sót khi
người khác phải chết- những người rất mực cần thiết
cho một đơn vị gia đình mà anh không hề ý niệm đến.
Rồi tháng 6, 1975 đểø chính bản
thân anh có cảm giác như chết đi từng phần trong cơ thể,
khi quấy xong bình sữa cho con, mang vội chiếc túi nhỏ với
cảm giác tuyệt vọng… Lần đi nầy cùng đành như cơn tử
biệt, bởi thấy rõ chiếc bẩy sự chết đang dần sụp xuống,
chắc chắn siết cứng lại… Tiếp tháng Sáu, 1976, đúng Ngày
Quân Lực, bước xống tàu Sông Hương ở Tân Cảng, góc cầu
xa lộ Sài Gòn- Biên Hoà, nhìn ra xa, Sài Gòn xao xác ánh điện
vàng đục, giòng nước sông cuồn cuộn lẫn màn đêm… Giữa
cảnh sống thú vật, tệ hơn con thú vì phải ngồi im không
cử động, tiểu, đại tiện trên cùng một chỗ trong suốt
hành trình hai ngày đêm đi ra "miền Bắc xã hội chủ nghĩa",
so với cái chết nơi giòng nước trong xanh của biển trời
phương Nam, chắc chắn ngàn con người dưới những căn hầm
tàu địa ngục nầy nếu có quyền chọn lựa, sẽ quyết định
dễ dàng. Mười bốn năm sau, anh trở về với cảm giác đau
xót nguyên vẹn của lần lâu dài bị lăng nhục. Bước chân
vào căn phòng với tủ sách trống vốc, lăn lóc nhàu nát cuốn
tập con anh tập viết những giòng chữ đầu đời. Con mình
bây giờ ở đâu? Cũng tháng Sáu gớm ghê nầy của năm 1990,
mười năm trước mà anh tưởng chừng như hôm qua, ngay hôm
nay, khi anh từ phi trường Tân Sơn Nhất trở về… Vào căn
nhà người vừa ra đi, nhìn lên tấm lịch - Hôm nay, 8 tháng
Sáu, sinh nhật của Nh… Em và con bây giờ nơi đâu?
II- Cờ Lên Trong Vũng Lửa:
Nhưng tháng Sáu không hẳn chỉ là thời điểm đau thương,
tuyệt vọng, khốn cùng như trên, mà đã là lần lịch sử
chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội
chiến công- Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến
trường Quảng Trị, Bồng Sơn, Kon-Tum, An Lộc… hiện thực
một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở của Người Lính
– Bảo Quốc An Dân - Sứ mệnh không hề nói thành lời, và
được hiện thực với chính máu xương của những con người
vô danh cao thượng mà Ðằng Phương, giáo sư Nguyễn Ngọc
Huy mấy mươi năm xưa đã viết nên những giòng máu lệ ngợi
ca hùng tráng,
Họ là những anh hùng
không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối
mênh mông
Không bao giờ được hưởng
ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp
nước…
Anh đến Chicago đúng Ngày Quân Lực,
18 Tháng Sáu 2000, để nói cùng những người lính lòng hy sinh
vô hạn đáng tự hào nầy - Những người lính đã tồn tại
sau mười, hai mươi, ba mươi năm dưới bom đạn cực độ,
nơi những trại tùø như "Cổng Trời" Quyết Tiến ở Hà Giang,
Sơn La, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Thanh Phong, Thanh Cẩm, Lam Sơn hậu
thân hệ thống trại giam Lý Bá Sơ… Những địa danh có số
mộ chí gấp đôi, gấp ba lần số tù hiện diện, và người
sống sót cũng chỉ là những xác thân khô kiệt di động chờ
ngày chôn xuống huyệt. Những người lính anh gặp ở Chicago
mùa Hè năm nay là những người sống sót qua dài trận bão
lửa thống khổ, nhục nhằn và nguy biến cực độ mà chắc
rằng không một người lính của bất cứ quân đội nào,
thuộc bất kỳ một sắc dân nào trên thế giới có thể bền
bĩ chịu đựng với mức độ kiên cường siêu nhân kỳ lạ
đến ngần ấy. Kỳ tích thầm lặng đơn lẽ với phận của
"mỗi con người - mỗi người lính" nầy chắc chắn
phải có một
động lực vô vàn cao thượng thúc dục.
Anh có bổn phận nói đúng, đầy đủ, và chính xác về nội
dung xã kỷ, quên thân nầy, bởi nếu im lặng sẽ là cách
đồng lõa với thái độ vô ân đáng nguyền rũa, và phải
bị nghiêm khắc lên án.
Nội dung vĩ đại trên được thực
hiện qua những cảnh tượng hùng tráng: Ngày 25 tháng 6, 1972,
chiến dịch tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn
vị, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, lực
lượng diện địa của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với
các chi đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Ðoàn I, được
yểm trợ bởi các đơn vị pháo cơ hữu, và của vùng chiến
thuật. Ðoàn quân quyết tử phục hận đồng vượt tuyến
xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theo trục chính Bắc với mục
tiêu cuối cùng - Cổ thành Ðinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy
Tiểu Khu Quảng Trị - mà quân ta phải tạm lìa bỏ từ 29
tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ
huy, từ viên tổng thống tại Dinh Ðộc Lập, đến hàng tướng
lảnh chiến trường. Sự sai lầm tai hoạ của những kẻ kia
nay được chuộc bằng giá máu của vạn người lính xé thân
nơi chiến trường.
Từ Ngã Ba Long Hưng, cửa ngỏ phía
Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của Tiểu Ðoàn
7 Nhẩy Dù trong ngày 7 tháng 7, 1972, đến cổ thành đoạn đường
dài khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực
tây đến làng công giáo Tri Bưu phía đông, khoảng cách cũng
có bề rộng tương tự. Trên khoảng đất rộng hơn cây số
vuông kia, mười lăm ngàn người lính của những đơn vị
kể trên đã thay phiên nhau bò, trườn, ẩn núp, gọi pháo,
đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến ngày lẫn đêm suốt
đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến ngày 14 Tháng
9, 1972 những người lính tiểu đoàn 1 và 6 TQLC đồng lần
siết chặt mục tiêu, dựng ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch
đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của trận
chiến đang hồi kết thúc.
Cờ lên
Cờ lên
Giữa vũng lửa
Quân, dân bật khóc nước mắt
ứa
Một lần cờ bay trên thành xưa
Bao phần máu xương muôn lính
đổ…
Ðể thực hiện được giây phút hùng
vĩ cảm xúc nầy, mỗi người lính với thân thể nặng không
quá năm mươi ký-lô phải mang một khối nặng tương tự trên
lưng gồm hai bộ áo quần, poncho, chiếc võng và tấm đắp,
bốn ngày lương thực và gạo, 250 viên đạn XM 16, hai hỏa
tiễn chống chiến xa M72, sáu trái lựu đạn… Với khối
nặng gần bằng thân thể kia, bắt đầu từ ngày khai diễn
chiến dịch, họ chỉ ăn cơm sấy, uống nước hố bom lẫn
thịt, xương người; họ chỉ có những giấc ngủ chập chờn
đứt khoảng của ban ngày, và xử dụng bóng tối ban đêm
để giành lại từng phân đất trên giãi chiến trường ngang
dọc một cây số như vừa kể. Chiến tích kỳ diệu nầy
ắt phải được nung nấu từ một nguồn thúc dục vô vàn
mãnh liệt mà không thể mua bằng một giá biểu lương bỗng
nào dầu cao đến bao nhiêu, chắc chắn cũng không do từ một
huy hiệu, cấp bậc tưởng thưởng… Người lính đã bậm
chặt môi, nghiến răng xốc tới bởi từ dưới những đụn
cát loang lỗ vùng Hải Lăng, Giáp Hậu, chen giữa những xác
chết nặng mùi có những dạng người cử động… Những
người sống sót từ lần thảm sát khi rờøi bỏ QuảngTrị
trong ngày 29 tháng Tư, trên đường chạy về Huế, lọt vào
ổ phục kích vùng hoả tập tiên liệu của đơn vị cộng
sản, chín cây số nam La Vang kéo dài đến cầu Câu Nhi Phường,
xã Giáp Hậu, quận Hải Lăng. Những người sống sót hồi
sinh với tiếng nói đứt khúc, thì thầm hấp hối… lính
tới…lính cộng hoà tới…
III- Tình Thương. Nguồn Aân
Lộc Không Hề Cạn. Tham dự cùng cuộc trường chinh nhọc
nhằn với người lính từ bước đầu khởi cuộc có một
nhân dáng nhỏ bé, yếu đuối, âm thầm chịu đựng với nỗi
chết canh cánh không rời- Người Vợ Lính. Ðây là một đối
tượng bị ngộ nhận một cách thô bạo và đáng chê trách
qua tất cả những chữ nghĩa, văn hóa phẩm (của Miền Nam
trước 1975, mà hiện nay ở hải ngoại thì lại hứng chịu
cách đối xử lạnh nhạt, coi khinh)… Những người đàn bà
nầy, từ lúc tuổi vừa qua hai mươi, đã gánh chịu những
giờ phút nguy nan thắt thỏm mà không phương cách chống đở,
làm nhẹ đi. Họ thức dậy rất sớm vào buổi sớm mai khi
đơn vị di chuyển hành quân để sửa soạn cho người chồng
bữa điểm tâm kham khổ với ý nghĩ không hề được nghĩ
hết… Biết đâu đây là lần… chót!! Họ bế đứa
con còn quá nhỏ không hề biết đang xẩy ra lần tạm biệt
hay chia ly đành đoạn với người cha; hai mẹ con thu người
lại dưới ánh đèn đoàn xe GMC đang rời hậu cứ… Và người
đàn bà, cô thiếu nữ đang ở tuổi thanh xuân kia trở về
khu trại gia binh để chờ đợi (một lần rất khả thể)
vào một buổi nào đó… Viên sĩ quan chỉ huy hậu cứ sẽ
đến gõ cửa nhà với câu nói khó khăn, ngắn lạnh - Chị
chuẫn bị ngày mai theo xe hậu cứ lên nghĩa trang nhận… anh!!
Và nếu biến cố bi thảm nầy không xẩy ra, người đàn bà
dần qua hết tuổi trẻ để cùng chia sẻ với chồng một
ngọn nguồn đau thương, cảnh sống cạn kiệt thống khổ,
lần Miền Nam bị bức tử cùng đành, sáng sớm ngày 30 tháng
Tư, năm 1975. Vợ và những đứa con người lính là đối tượng
xếp hạng thứ 14 trong 15 giai cấp xã hội, loại sau cùng nầy
là thành phần tù hình sự can án cướp của, giết người
với trường hợp gia trọng theo cách định giá chính trị
của chế độ cộng sản Việt Nam.
Con đường từ ga Thanh Hóa vào các
trại tù Lam Sơn, Thanh Phong, Thanh Cẩm dài khoảng năm chục
cây số đường chim bay; đây là đường thượng sơn nối
vùng núi non thượng lưu sông Ðà, dẫn lên mạn Lai Châu, Yên
bái, Nghiã Lộ, Ðiện Biên Phủ… hành lang thông qua vùng trung
và bắc Lào. Ðường hiểm trở chạy quanh co giữa những rặng
núi đá vôi dựng trường thành, làm thành một trở ngại
thiên nhiên vô cùng lợi hại mà ngựa Mông Cổ thế kỷ 13
dẫu dẫm nát toàn cõi lục điạ Á, Âu vẫn không thể nào
xâm nhập được. Ðến thế kỷ 15, đạo binh xâm lược Nhà
Minh đang ở đỉnh cao cường thịnh cũng không thể bén mảng
vào đến những căn cứ địa Lam Sơn, Chí Linh của nghĩa quân
Lê Lợi. Xe thiết giáp bọc sắt của quân đoàn viễn chinh
Pháp trong chín năm 1945-1954 cũng đành thúc thủ dưới đồng
bằng. Cuối cùng, biệt kích Mỹ với vũ khí tối hảo cũng
không có cơ may đổ bộ, tấn công. Và bản thân những người
lính bộ đội cộng sản, dẫu trong những ngày kháng chiến
vệ quốc chưa lộ mặt, vẫn phải ngã gục trên đoạn đường
gai góc nầy
Ngàn thước lên cao, ngàn
thước xuống
Chiến trường đâu có tiếc
ngày xanh…
Ðể rồi, Anh bạn dãi dầu không
bước nỗi
Gục bên mũi súng bỏ quên đời!!
(Tây Tiến, Quang Dũng)
Nhưng, người đàn bà, người Vợ
Lính, người Mẹ Miền Nam, đã đi đủ với chồng hằng mười
năm, hai mươi năm khổ nạn quê hương. Họ ra đi lúc trăng
non nơi Miền Nam, và đến trại lúc trăng nhạt màu héo úa,
đầu trần chân đất, với gói quà cứu đói dành giụm từ
Miền Nam để nói cùng chồng trong dăm mười phút thăm nuôi,
lời trung hậu đơn giản… Anh yên tâm, ở nhà có em lo
Chỉ những tiếnglời nhỏ bé ngắn
gủi vừa kể trên- Người Lính đã và vẫn kiên cường xốc
tới bởi đã một lần nhận lãnh- vô lượng tấm lòng Người
vợ Miền Nam.
Thủy chung anh chỉ có một tấm
lòng để nói cùng những Người Lính ở Tháng Sáu đau thương
nhưng bi tráng, kiệt liệt đáng tự hào - Tháng Sáu 1972 chỉ
có một lần trong đời người.
19 tháng Sáu, 2000
phan nhật nam.
|