Những
dòng sông chảy qua vùng đá sạn...
Khi cô phụ tài Xe Đò
Hoàng tuyến đường San José-Westminster (Bắc-Nam Cali) mở băng
DVD ca nhạc trình diễn màn hát Quan Họ thì hai người khách
đàn bà bắt đầu câu chuyện với cách bí ẩn riêng tư, diễn
tả qua từng nét mặt, âm tiếng thay đổi theo cảm xúc..
..Bà biết hát Quan
Họ nầy hay như thế nào không?
- Làm sao biết được,
giỏi lắm là ngâm nga theo điệu “Người ơi người ở đừng
về..” Mà bà có hơn gì tôi để ra câu đố nầy nọ?
- Biết là vậy, tôi
với bà di cư vào Nam năm 1954 còn “oắt tì xà lai”, làm
sao biết “ngoài Bắc ta” có cái gì, may ra còn giữ được
giọng Hà Nội khác với mấy cậu, mợ 75, “iem ở hà lội..
suốt”.. Theo ông bố vào ở chỗ Hỏa Xa Đà Nẵng, đi học
trường Bà Xơ dưới Nhà Thờ Con Gà bị tụi bạn trêu “Bắc
kỳ ăn cá rô cây nên hô răng..“, thế nhưng, biết được
cái hay của Quan Họ là do đứa chị kể lại sau nầy..
- Chị nào, chẳng
lẻ mợ Nguyệt nhà bà lại biết được những điều mà tôi
với bà không biết ra..
- Không, đây là nhỏ
chị họ ngoài Bắc, gặp sau nầy ở Mỹ, nó qua đây làm đại
diện thương mại gì đó cho bên Việt Nam, gọi là chị (tuy
nhỏ tuổi hơn) vì là cháu ngoại lớn của bà cả, nó đẹp
lắm, giống như Romy Schneidder trong phim Sisi Impéatrice (*)..
- Bà có nói quá không,
người ngoài Bắc đẹp đến cỡ Brigitte Bardot mà chụp cái
nón cối lên đầu như em Jane Fonda thì trông cũng chẳng giống
ai.. Mà bà ngoại cả là sao? (**)
- Thì ông ngoại tao
(khi “tôi” trở thành “tao”, hoặc “bà” hạ xuống “mầy”
tức là câu chuyện đã đi vào đoạn gay cấn, cấp thiết)
là người Tàu, Tàu chính gốc, có đến chín bà vợ, đại
gia đình sống như trong chuyện Hồng Lâu Mộng. Bà tao thứ
Tám, ông lấy từ bên Miên đem về Sàigòn, xong đưa ra Bắc
nên mợ tao có tên ấy mầy không thấy sao.. Nhỏ chị ấy
sinh đúng một năm sau di cư, 1955 tại Phố Hàng Đường, Hà
Nội. Nó tuổi Mùi thua mầy và tao đúng mười tuổi. Nhỏ
hơn mười tuổi như nỗi đau, cảnh khổ của nó so với của
mầy và tao cứ như núi, dẫu rằng mầy với tao chịu nạn
sau 30 tháng Tư cũng đã nát người.. Chồng đi tù cải tạo,
một thân nuôi con, vượt biên đến Mỹ với thứ tiếng Anh
Anglais Vivant nói đến gãy lưỡi, mỏi tay.. Nhưng dù sao bọn
mình còn có an ủi với hai-mươi mốt năm nơi Miền Nam, và
cuối cùng cũng đến được đất Mỹ. So với nhiều người,
mầy và tao còn “hạnh phúc” hơn bao nhiêu kẻ khác.. Cứ
như cảnh chị nhỏ ấy tao sợ chịu không thấu..
- Mầy nói thì tao
nghe, nhưng với cảnh khổ ai có thể so sánh với ai, mấy ai
nói mình khổ hơn hay khổ kém bao giờ.. Người bạn trầm
giọng bùi ngùi, thương cảm.. Đời mầy cũng quá sức rồi,
từ “sáu-mươi, bảy-mươi..”, tiểu thư lái Mazda 1500, Mustang
Capri đưa con đi học.. Qua “bảy-lăm” đẩy xe trâu làm ruộng
dưới Suối Nghệ, Bà Rịa; rồi với hai con nhỏ chưa đầy
mười tuổi vượt biên qua Thái bằng đường bộ Campuchia
giữa bầy lính Polpot thôi cũng đủ đáng sợ như chuyện kể
trong Papillion, lại thêm mấy năm ở Trại Cấm Sikiew, Thái
Lan coi như ở tù không án..
- Chuyện tao kể ra
cũng thường so với vạn, triệu người Nam, đời chị nhỏ
ấy diễn ra theo cách khác, điển hình cảnh khổ của người
Miền Bắc, lại là đàn bà có học, tài sắc, gia thế.. Tao
không nói điều tưởng tượng, nghe ra chuyện mầy sẽ thấy
lời tao chưa đủ. Nó lại luôn chịu cảnh khổ một thân,
một mình..
- Sao lại một mình,
chồng, con nó đâu..
..Đấy lại là một
đầu mối của đau thương đời nó.. Đầu mối lớn nhất.
(*; **) Những nữ tài
tử điện ảnh Mỹ, Pháp nổi tiếng trong thập niên 50, 60,
70..
Một.
Bé Giang Thanh sáng đẹp
như khối ngọc toàn hảo. Sinh ra trong một chiếc túi đỏ
rực - Đẻ bọc điều năm tuổi Mùi “không chùi cũng sáng”.
Và cô bé đã nhận ngay ân huệ lớn: Đau đậu mùa lúc lên
ba nhưng dù chửa chạy qua loa bằng thuốc ngoại khoa cũng hết
bệnh, chỉ để lại những chấm sẹo nhỏ trên cánh mũi như
là nét duyên. Sống mũi cao chạy thẳng lên trán biểu lộ
trí sáng và sự cương nghị. Nghe kể lại, ông ngoại thường
bế đặt lên đùi, nhìn vào mắt cháu nói lời thương yêu
thắm thiết: “Tội nghiệp cháu tôi phải phận con gái..
Gía như là con trai thì dễ đương cự hơn với tử vi “Mệnh
vô chính diệu, Địa Không, Hỏa Tinh độc thủ..”, bởi
ông là người thâm cứu tử vi, thấy ra phận người đau thương
qua lá số. Ông đặt tên nó là Giang Thanh như bà Nguyệt nhà
tao được gọi là Minh Nguyệt theo ý thơ của Lý Bạch. Bà
ngoại, vợ cả của một gia đình gồm tám phụ nữ tứ xứ,
thuộc nhiều chủng tộc, sắc dân khác nhau, ông lấy về trên
đường làm ăn phiêu bạc khắp Đông-Nam Á.. Nơi khởi đầu
từ Vân Nam, đầu nguồn sông Thanh Thủy, dừng chân, dựng
sở tại Hà Nội-Hải Phòng sau khi liên kết với viên chánh
sở mật thám Pháp, Đại Úy Favani xây dựng nên đường giây
nha phiến qua ba trục Côn Minh-Hà Nội-Sàigòn. Cũng bởi viên
đại úy người Corse (*) nầy cùng chung sở thích-Đàn bà và
thuốc phiện-Những thú vui tuyệt vời (lại sinh lợi tối
đa) ông ta tiếp nhận, áp dụng, và khai triển bài học kinh
nghiệm từ viên chỉ huy, Thiếu Tướng Tư Lệnh De Linarès.
Phần gia chủ Uông Đại Dụng, dẫu xuất thân Đại Học Côn
Minh, học viện cổ kính có từ Thế Kỷ 15 với tòa đại
sảnh cao 99 bậc thềm nổi tiếng là một di tích lịch sử
của thủ phủ Tỉnh Vân Nam, nhưng ông đã thấy rõ sự vô
ích, vô dụng của học vấn, lại là thứ chữ nghĩa của
Khổng, Mạnh, nên ông quyết chí làm giàu.. Có tiền tức có
tất cả - Tiền vi tiên. Ứng vạn biến. Ông gieo trồng, chế
biến, sản xuất ra thứ đem lại nhiều tiền nhất: Thuốc
phiện. Và tùy theo tình hình chính trị, thời cuộc quân sự,
ông cũng là đầu mối chuyển một thứ hàng nguy hiểm không
kém thứ thuốc kia: Thuốc súng, đạn, bom.. Ông bán súng, đạn
cho những phe phái cần thiết đến chúng không phân biệt họ
là ai: Thổ phỉ, cộng sản, đảng phái tư sản, kể cả kẻ
tống tiền, giết mướn.. Bán cho ai ông báo cho viên đại
úy biết, nếu cần, người nầy cung cấp thêm hàng cho ông
tìm nơi tiêu thụ. Quanh bàn đèn, Đại Úy Favani nói lời khen
ngợi: Ông là người khôn ngoan nhất Đông Dương. Uông
Tiên Sinh không trả lời, ông đứng dậy châm hương lên bàn
thờ - Bàn thờ do bà cả thiết lập với những mẫu tượng
thánh thần sơn son thiếp vàng rực rỡ.. Đại úy nói quá
lời, tôi chỉ làm theo cố vấn của nhà tôi. Ông nói thật
vì bà cả đã từng vào Sàigòn với một cây roi mây.. Bà
đến ngôi nhà (Đường Trần Nhật Duật, Tân Định, sau
nầy gia đình tao ở trước 1975, mầy đã tới chơi mấy lần
– Người kể chuyện nhắc nhở) ông mua riêng cho bà ngoại
tao, nói lời đỉnh đạc, kẻ cả: Cô đừng sợ, đàn bà
với nhau, tôi phải giữ cho cô, tội là do lão ghê gớm nầy..
Bà ghìm ông tao xuống, bà xử dụng những thế võ như thế
nào đó (ông tao cũng thuộc loại cao thủ nhưng không chống
lại).. Ông nằm im nghe vợ kể tội: Cô ấy còn trẻ, mới
mười sáu tuổi, ông phải biết làm thế là thất đức, tôi
sẽ chuộc phần lỗi của ông bằng cưới hỏi đúng lễ để
chính thức xin cô ấy về.. Nhưng nay phải trừng trị để
ông biết thế nào là nghĩa vợ chồng mà ông đã nhiều lần
gây nên điều xúc phạm xấu hổ (Đối với tôi và cũng đối
với cô ấy) - Lần nầy là lần thứ tám, lần cuối cùng.
Ông nằm im nhận mấy chục roi phạt, xong đứng lên cầm tay
bà cả: Tôi xin lỗi mình. Anh xin lỗi em. Ông quay qua nói với
bà tao. Khi trở ra Bắc, ông đưa bà tao lên chiếc xe đua mui
trần màu đỏ chạy từ Hà Nội về Hải Phòng, mặt căng
kiêu hãnh với điếu xì gà ngậm ngược chỉa lên trời..
Bà cả ngồi băng sau cười cười coi như không có gì.
- Mầy vẫn chưa nói
gì về nhỏ chị tuổi Mùi kia..
(*) Corse: Đảo Tây-Nam
nước Pháp, trong Địa Trung Hải, nổi tiếng với cư dân có
tâm lý, tính khí mạnh mẽ do thổ ngơi, địa thế, môi trường
cằn cỗi, khắc nghiệt.
- Tao phải nói rõ ra
như thế để mầy thấy ông tao, bà cả, bà bác (mẹ chị
nhỏ ấy) ra sao để hiểu nó ảnh hưởng những gien như thế
nào từ mẹ, bà, và ông ngoại. Nó là tổng hợp của những
người kia với mức độ cao nhất – Cao nhất về sắc sảo
tính khí, hạnh phúc, khổ đau kể cả dáng vẻ rất lạ của
nó.. Cổ không chỉ cao ba ngấn mà đến những năm ngấn.
- Thế mẹ nó như thế
nào? Bà bác của mầy..
.. Bà ấy là một trong
những người đầu tiên (lại là phụ nữ) đi Pháp học về
âm nhạc qua bảo trợ bởi lão mật thám người Pháp kia (đã
trở nên là một người thân trong gia đình ông tao).. Trong
nhà gọi là ông Pha và chỉ dùng tiếng Việt để nói
chuyện. Bác tao kể: Ông ấy đã có nhận xét trong một bữa
ăn: “Tôi ăn đủ năm trăm thứ phô-ma của Tây (“Tây”chứ
không là “Pháp”), tôi cũng nếm hết các thứ mắm của
“ta”.. Biết phân biệt nước mắm nhỉ khác nước mắm
pha như thế nào. Nghĩa là tôi ăn tất không bỏ sót một thứ
gì!” Lão ấy bảo trợ bà bác tao đi Pháp học không phải
không có mục đích, lão muốn gia tài của ông tao lọt vào
tay người nhà của lão. Lão tính trước bà bác tao cho ông
con trai ngoại hôn (mà lão bảo là con nuôi để tránh trách
nhiệm với bà người Việt sinh ra ông con nầy, lấy cớ mắc
chứng “tráng dương sậu tinh”, thêm nghiện nặng thuốc
phiện nên không thể có con, lại là con trai). Ông nầy lúc
ấy là thiếu úy Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù là đơn vị năm 1954
nhảy xuống Điện Biên Phủ trước tiên..
- Làm sao mày mầy rành
chuyện lính tráng, nhà binh đến như thế..
- Thì ông Nhân nhà tao
năm “tám-chín” sau khi đi tù về có theo mợ tao đến gặp
ông nầy ở nhà Đường Nguyễn Trải Sàigòn.. Lính gặp lính
nói ra biết ngay, lại là lính nhảy dù không có bao nhiêu đơn
vị. Dịp ấy, mợ tao mới biết vụ việc của bà bác tao,
bà cả, ông ngoại ngoài Bắc sau “năm-tư”.. Thực tế xẩy
ra đáng sợ, kinh hoàng hơn bất cứ câu chuyện nào người
trong Nam nghe được, tưởng tượng ra..
.. Mới nghe mầy giáo
đầu đã thấy bày ra như một đống bùi nhùi, đến chuyện
thật nữa không biết lường tới đâu, nhưng mầy cũng chưa
nói gì đến nhỏ chị kia..
Thủng thẳng, chuyện
phải có đầu đuôi, xe chưa ra Đường 152, nếu kể chưa hết
tao bảo ông Nhân kể tiếp, viết lại cho mầy xem, ông ấy
còn có dự định đưa người, việc thật nầy vào một cuốn
chuyện dài nữa.. Cũng bởi, có ông Đỗ chủ báo Thời Luận,
bạn ông ấy đã viết về cảnh khổ, nỗi đau của người
đàn bà Miền Nam rồi, nay ông ấy phải viết về Miền Bắc
cho cân phân, cũng để trả ơn quê vợ. Để tao kể tiếp..
Trước khi vào Nam, ông tao cho tập họp đủ tám bà vợ và
chia phần dưới sự quyết định của bà cả.. Những chậu
trồng ngãi dưới chân bàn thờ đền được mang vào phòng
riêng, đào vàng lên, chia thành tám phần khác nhau tùy theo
nhận định của bà về khả năng giữ gìn, sinh lợi của
mỗi người.. Phần những bà kia như thế nào tao không rõ,
phần của bà tao được quyết định như sau: Cô Tám, cô là
người nhỏ tuổi nhất, nhưng cô đã chứng tỏ đủ sức
thay thế tôi, cô giữ phần lớn nhất, cô mang năm trăm lạng
vào Nam theo chuyến máy bay sớm nhất với con, cháu nhà cô..
Chuyện của gia đình
mầy bao nhiêu lâu quen thân tao biết rõ, kể về gia đình ông
mầy ở lại ngoài Bắc với chị nhỏ kia thôi. Người nghe
chuyện nôn nóng.. Và tao cũng thắc mắc, ông mầy, bà cả
khôn ngoan, tinh tế như vậy, lại thêm bà bác mầy nữa, mới
nghe qua chuyện cũng đã thấy ra là hạng người không thường..
Thế sao lại không tính đường đi vô Nam, chẳng lẻ tin lời
tuyên truyền của cộng sản nên ở lại?
- Về lý do chính trị
tao không rõ, nhưng theo lời mẹ tao hỏi lại ông bố con Giang
Thanh hôm gặp ở nhà đường Nguyễn Trải thì sự thể là
thế nầy.. Ông tao nói với bà cả và bà bác: Tộc họ Uông
vốn chủng người Bạch, người Bố thuộc nhóm Di ở Vân
Nam, từ ngày xưa Đời Đường, Tống.. đã không thuận với
người Hán ở phương Bắc, bên Quảng Đông, Quảng Tây; dẫu
có lúc Tưởng Giới Thạch phải rút về Trùng Khánh để chống
cộng sản, cần mượn đường Côn Minh để nhận tiếp tế,
quân viện Mỹ từ Miến Điện đưa lên. Vụ công ty tàu đường
sông của chú Sáu bị bang hội Quảng Đông, Triều Châu, Phúc
Kiến chèn ép đến nỗi phải phá sản là một bài học phải
nhớ cho dù chú ấy đã vào trong Huế gặp Vua Bảo Đại để
xin bảo trợ, cạnh tranh với người Hoa qua danh nghĩa người
Việt. Tôi đã tới Nam Vang, Chợ Lớn.. những nơi nầy mình
không tranh lại với họ (Người Hoa, gốc Hán tộc), vậy nên
tôi quyết định ở lại Hà Nội.
- Nhưng đó là phần
của ông ngoại, bà cả, chẳng lẻ bà bác mầy với ông chồng
lai Pháp, sĩ quan nhẩy dù lại chịu ở lại với cộng sản
hay sao..
.. Vụ việc nầy có
những lý do khác tao không được rõ lắm, nhưng quyết định
cuối cùng là do bà bác tao. Bà nói: Bố đã quyết, vậy con
không thể để bố mẹ ở lại một mình, nhà con tuy là sĩ
quan, nhưng anh ấy (theo cách của ông Pha, nhân sự, cơ quan
mật hoạt động tình báo của nhiều phía) cũng đã có những
liên hệ với người bên Việt Minh.. Nhưng nếu xẩy ra khó
khăn đến đâu con cũng xoay xở được. Mẹ sinh ra con - Một
mẹ. Một con - Con là con cửa đền, cửa phủ, chỉ Thần,
Thánh mới đem con về với các Ngài, người phàm không thể
nào chạm đến con. Bà bác tao là tổng hợp sự quyết liệt
của bà cả, mưu thuật của ông tao cộng thêm phần thâu nhận
của những năm học ở đất Pháp.. Rau tập tàng thì ngon.
Bà có đến ba nguồn văn minh, văn hóa trong người hòa hợp
trong Đức Tin Đạo Giáo. Nhưng sự thể dù chuẩn bị giỏi
đến thế nào, tai họa vẫn xẩy đến như một điều tất
nhiên. Giọng người kể chuyện trùng xuống.
.. Yên được hai năm,
đến năm 1957, Hà Nội bày ra mặt thật của họ với trận
đánh tư sản, những kẻ quen biết với ông, bà tao trong chính
quyền đồng cố ý lánh mặt khi chiến dịch truy lùng, đấu
tố bắt đầu. Căn nhà ba tầng Phố Hàng Đường một sớm
mai ngủ dậy bị vây bởi một đám đông trang bị gậy gộc,
la ó, chưởi bới ầm ỉ do công an khu phố hướng dẫn. Chúng
đòi ông tao ra trình diện để nghe đấu tố. Ông đóng cửa
phòng bảo người nhà ra nói với chúng: Muốn nói chuyện với
ông phải cỡ ông Đồng, ông Giáp.. Nhưng cũng không cần,
ông sẵn có cách giải quyết. Ông thay áo quần mới, áo dài
hai lớp lót gấm, cúc vàng gài bên hông phải, lấy bàn đèn,
dọc tẩu mạ vàng xuống (chỉ khi nào có khách quý mới đem
dùng). Ông làm thuốc bình thản, kiểu cách phong lưu.. Xong
lần dưới gối lấy khẩu súng nhỏ do ông Pha tặng trước
đây với lời dặn: Đây là khẩu súng khởi nghiệp của tôi.
Bao nhiêu người gây khó khăn, trở ngại cho công việc, tôi
giải quyết với khẩu súng nầy.. Nó đã thành tinh, đêm ngủ
tôi gối lên, nghe tiếng khóc của những người chết. Tôi
giao nó cho ông vì (dẫu còn sống) ông đáng mặt thủ lãnh
của những hồn ma nầy. Với nó, không ai hại ông được,
chỉ khi ông quyết định chính ông thôi. Hôm nay, ông thực
hiện lời ông Pha - Hút xong tám điếu thuốc, số lượng những
người vợ ông yêu thương. Ông nói lớn: Tôi đi đây mình.
Tôi chết đừng chôn. Đốt thành tro ném theo sông. Nhớ, ném
xuống Sông Thanh Thủy ở biên giới, chảy về Vân Nam. Chúng
nó không xứng để làm nhục tôi. Ông đặt nòng súng vào
miệng xem như hút thêm một điếu. Điếu cuối cùng. Điếu
số 9, tượng trưng cho Bà Cả.
.. Phần bà cả, bà đứng
giữa điện thờ, trước tượng Đức Thánh Trần nến thắp
sáng, tay cầm bó nhang cháy đỏ, tay cầm cái (xiên) lình..
Bà xiên chiếc lình qua má. Mũi nhọn chiếc xiên đi ngọt ló
ra qua gò gò má thứ hai. Bà hét lên lanh lảnh như kêu gọi
tất cả âm binh cùng dậy lên.. Qua ánh lửa, sau màn khói,
mặt bà hiện vẻ uy nghi thần bí. Bọn người dần rút lui.
Sau bàn thờ, bà bác tao được dặn chuẩn bị sẵn chất đốt
để nếu bọn người làm tới sẽ phóng hỏa đốt rụi căn
nhà. Cả gia đình sẽ hoá thân trong lửa.
Người nghe kể rúng
động.. Hèn gì mợ mầy và mầy đều có tính “không sợ
ai” qua cái trán dồ nầy (người bạn chỉ vào trán kẻ
kể chuyện).. Hóa ra đấy là cách của cả nhà bên ngoại
mầy.
- Tao cũng không rõ điều
ấy nếu không gặp chị nhỏ Giang Thanh, trán nó cũng thẳng
đứng, dồ ra thế nầy. Người kể gỏ gỏ vào cái trán..
Yên, để tao kể tiếp, mà tới chỗ nào rồi.. Chỗ bà cả
lên đồng đuổi tụi định cướp nhà ông mầy.
..Lo tang ma cho ông xong,
đến lượt bác tao nhập trận. Bà nói với bà cả: Bố chết,
mẹ phải sống để giữ giềng mối nhà nầy, nhưng nay đến
lượt con gánh vác. Con không phải chỉ lo cho mẹ, nhưng còn
phần chồng, con con nữa – Gánh nặng nầy là của riêng con.
Con không bỏ được. Bà thay áo nhung màu bordeau, tóc vấn cao,
cổ đeo chuỗi ngọc, mang giấy tờ địa bạ sở hữu căn
nhà.. Bà lên xe xích lô (do người nhà đạp) đi giữa hai hàng
phố người lố nhố nhìn ra. Bà đến gặp lão chủ tịch
nhân dân thành phố Hà Nội nói lời thẳng thắng.. Căn nhà
tôi là điện thờ Đức Thánh Trần, Ngài là vị anh hùng hiễn
thánh của người Việt, Bác Hồ cũng đã làm thơ ca tụng
Ngài. Vì chế độ mới có nhiều quy định nên chúng tôi biết
mình không thể tiếp tục ở đấy. Chúng tôi muốn giao lại
cho người xứng đáng, biết giá trị của căn nhà.. Vậy xin
ông nhận lấy do đã bao lâu quen biết gia đình chúng tôi..
Lão chủ tịch rúng động,
bỗng dưng được một tài sản quá đỗi lớn lao, vì đấy
là một trong những căn nhà tư nhân lớn nhất Hà Nội.. Chị
quyết định như vậy hay là do “Bà Cả”.. Viên chủ tịch
nhấn mạnh chữ “Bà Cả” với ý tôn trọng, và tôi sẽ
phải làm những gì? Ông ta băn khoăn..
- Mẹ tôi để tôi toàn
quyền, nhà chúng tôi chỉ xin giữ căn điện thờ Đức Thành
Trần (bà cố ý dùng đủ chữ), cũng để mẹ tôi ở lại
lo hương khói. Phần gia đình chúng tôi, xin ông cho một căn
hộ ở La Khê, Hà Đông và ít vàng làm vốn.
.. Chị có gì bảo đảm
cho vụ việc nầy. Viên chủ tịch ngại ngần trước diễn
tiến quá mau chóng, dễ dàng..
- Tôi mang theo đây tất
cả giấy tờ, ông làm tờ giấy tay mua lại (mua ngày trước
khi bộ đội vào Hà Nội - Tháng 10/1954) với giá tùy ông định.
Nhà chúng tôi đã có nhiều và nay mất thì cũng là chuyện
tất nhiên. Ông đừng ngại, chúng tôi “quyết định ở
lại với cách mạng” chứ không phải bị bắt buộc,
các chị kia bà tôi đã cho đi Nam. Gia đình chúng tôi ở lại
để chuẩn bị cơ sở cho ngày thống nhất như nhà nước
đã thông cáo! Bà bác biết kết hợp tất cả yếu tố (chính
trị, xã hội, riêng tư..) với giọng chân thực, lịch lãm
nhưng quyết liệt, chặt chẽ, hợp lý..
.. Rồi sau đó thế nào?
Người nghe chuyện thấy khó khăn hình dung ra sự kiện.. Trước
khi về La Khê bác tao nói với bà cả: Chúng nó (kẻ cầm quyền
mới) nói cứng nhưng đứa nào cũng tham và cũng nhát bởi
chúng làm điều ác độc, vô lại.. Mình nhường cho chúng
một phần căn nhà, mẹ ở lại giữ đền (sau nầy có dịp
mình đòi lại). Con về bên La Khê để dễ qua lại thăm mẹ
và theo dõi tình hình. Bà xin vào tổ hợp đan len xuất khẩu
và xoay qua đường buôn chuyến lên mạn ngược, ngã Lào Cai-Vân
Nam-Con đường ngày trước ông tao chuyển thuốc phiện.
.. Đã buôn bán như thế
thì ghi tên vào tổ hợp đan kia làm gì?
- Để có hộ khẩu theo
ngành nghề, bà ấy đâu có thể ngồi yên một chỗ mà cầm
que đan.. Năm “sáu-mươi” Hà Nội bắt đầu đánh Miền
Nam, nhỏ chị tao vừa được mấy tuổi đã thay mẹ tập đan
những phần đơn giản, đến mười tuổi nó đã đan nhà nghề,
biết ráp cổ, vai và đan lồng những hình hoa văn phức tạp.
Năm Miền Bắc bắt đầu bị dội bom (1964), nó đã là tay
đan chuyên nghiệp vượt chỉ tiêu, một tháng xong ba áo gởi
sang Nga Sô.. Mười tuổi, mầy với tao ở Miền Nam chỉ biết
đánh thẻ, đòi búp-bê, nó phải đi chăn trâu cho hợp tác
xã nơi sơ tán (để tránh bom Mỹ), đan áo giúp mẹ. Nhưng
nó khôn ngoan, biết lợi dụng nhân dáng đẹp đẻ của mình
để dụ bọn con nít nhà quê.. Tao hát cho chúng mầy nghe, chúng
mầy cắt cỏ cho trâu tao.. Nó đứng giữa bãi ruộng, mặt
sáng đẹp, tóc bay dài theo gió.. Dẫu áo quần lam lủ, chân
đất, Giang Thanh hiện thân toàn hảo nét đẹp thuần nhã của
văn minh, văn hóa đất Bắc. Nó diễn cảnh Thị Mầu lên chùa
phải lòng Thị Kính; nó hát Lý Tình Tang, Lý Thiên Thai..
của hoạt cảnh “Liền Anh, Liền Chị” trong hát Quan
Họ..
.. Làm sao bé tí như
thế mà biết những điệu hát ấy?
- Bà cả tao họ Đặng,
Bắc Ninh, tức vùng Kinh Bắc dọc Sông Đuống; đời Vua Lê,
Chúa Trịnh sinh ra bà Chúa Chè Đặng Thị Huệ. Bà cả bày
cho mẹ nó, mẹ nó hát ru cho nó nghe từ còn nằm nôi.. Mầy
nghe nó hát mới biết Quan Họ phong nhã, trữ tình như thế
nào.. Chưa kể hoạt cảnh cảm động khi “liền anh, liền
chị” gặp nhau mỗi năm sau Tết âm lịch vào ngày Hội Lim
sau một năm xa cách..
Năm 1968, Mỹ tăng cường
dội bom Miền Bắc để ép Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị,
bộ đội dồn đưa vào Nam, vùng biên giới Hoa-Việt giao cho
lính Trung Cộng trông giữ, bọn phỉ người Tàu nhân cơ hội
lén qua Việt Nam kiếm ăn. Bác tao trong một chuyến buôn hàng
bị bọn cướp chận lại khoảng rừng Phố Lu, Lào Cai. Bà
không chịu mất của cho chúng, dùng chiếc quanh gánh (với
những thế võ bí truyền của người Hoa, võ Việt cỗ do ông,
bà tao dạy) đánh lại bọn cướp không nao núng.. Cuối cùng
chúng giản ra, một tên dùng súng tiểu liên AK47 chỉa vào
ngực bà đòi vàng và tiền mà chúng biết bà quấn quanh người.
Bà quắt mắt nhìn thằng cầm súng khinh miệt.. Muốn bắn
mầy nhìn thẳng mắt tao, còn nếu sợ hãy cút đi.. Bà nói
bằng tiếng Hoa. Thằng phỉ nhắm mắt, bóp cò, đạn phá toang
lồng ngực. Bà chết ngồi dựa sườn đồi, hai tay bám vào
lườn đất không chịu ngã xuống, giương mắt đứng tròng,
khối tóc dài xanh đen bung xỏa.. Đứa bắn súng tiến tới,
bỗng chấp tay, sụp lạy.. Xin nương nương tha tội, quả
tình tôi không có ý định.. khi nó nhận ra chiếc trâm
của giòng họ Uông trên đầu tóc bà. Bác tao ứa ra giòng
máu uất hận. Bà chết bất đắc oan nghiệt nên rất linh,
dân chúng vùng biên giới lập miếu thờ. Miếu ấy hiện
nay vẫn còn, cũng phù hợp với sự việc bố con Thanh kể
lại cho mợ tao nghe sau nầy. Không ai dám bày chuyện nếu thật
sự không có. Thế là, nhỏ chị mười-bốn tuổi phải thay
mẹ gánh hết khối nặng của gia đình gồm bà ngoại, cha
già, và hai đứa em. Khi nghe tin con bị nạn, bà tao chỉ thét
lên tiếng oán hờn.. Súng! Bắn.. bắn súng! Bà vẫn
tiếp tục sống nhưng như gốc cây khô, suốt ngày không nói,
đêm đứng sững trước điện thờ, mất trí nhớ hoàn toàn.
Bà không hề khóc.
Hai người đàn bà cùng
lần im lặng như thể gánh nặng đau thương của Giang Thanh
đè lên họ.. Rồi nó xoay xở làm sao? Làm sao sống được!
Câu hỏi vô ích, thừa thải. Người kể tiếp tục với cách
gắng gượng: Bị dồn vào cảnh khổ, nó trở nên khôn ngoan,
đáo để.. Từ Hà Đông nó về căn nhà ở Hàng Đường lấy
cớ thăm bà.. Đến khuya, nó vào phòng viên chủ tịch thành
phố, nói với cách đòi nợ.. Ông cho cháu số vàng mà ông
đã thiếu của mẹ cháu? Viên chủ tịch không phải là người
dễ bị dọa.. Vàng gì, tao đã giả cho mẹ mầy đủ, giấy
tờ tao còn giữ đây.. Tao chỉ có con buồi cho mầy! Ông nhìn
nó với cặp mặt diễu cợt dâm đảng.. (Cũng bởi hỗn hợp
ba giòng máu, nó cao hơn đứa mười-bốn tuổi bình thường,
ngực nẩy nỡ vun phồng khiêu gợi) Cháu biết cái giấy ấy,
nhưng mấy lạng vàng kia không xứng với giá của nhà nầy..
Ông hẳn biết! Cháu không đòi quá, chỉ xin ông trả thêm
cho đủ.. Tao không có! Mầy làm gì nào? Ranh con đừng giở
trò khốn nạn.. Mầy tự động vác xác vào đây, ông hiếp
có chửa bây giờ! Ông không hiếp cháu được đâu, thằng
bạn cháu đứng dưới kia chỉ đợi cháu la lên là nó chạy
tới báo trụ sở công an khu phố! Ông chủ tịch đến cửa
sổ, mở hé những lá sách nhìn xuống đường.. Trời đất!
Bây giờ mầy muốn gì? Cháu chỉ xin ông số vàng còn thiếu..
Gì nữa? Ông chủ tịch mệt nhọc, buông xuôi. Ông viết cho
cháu cái giấy gởi nơi tổ hợp đan len giúp cháu tiếp tục
việc của mẹ cháu. Mầy xin gì hãy nói cho xong một lần..
Ông bảo hộ cho cháu vào Trường Sân Khấu bởi lý lịch
bố cháu không tốt! Ông chủ tịch nói như than: Mầy bao nhiêu
tuổi mà đã gớm ghê đến thế.. Lớn lên chút nữa mầy
còn ra sao hỡ?! Khi vén vạt áo, buộc những khoen vàng vào
thắt lưng quần, Giang Thanh nhìn gã đàn ông thông cảm
đồng lõa.. Cháu sẽ không nói việc nầy với ai. Bà nhà
không phải đi Hà Nam đâu.. mà qua bên La Khê gặp bố cháu
chiều mai mới về! Cháu khai trong đơn xin vào học trường
ca múa là ông có họ với bà cháu. Ông thuộc nhà Đặng Xuân
của ông Trường Chinh phải không ạ..
Khi ngồi với đứa bạn
trong vòng rào sân vận động Hàng Đẩy, Giang Thanh khóc như
chưa bao giờ được khóc.. Mẹ ơi! Ông ơi! Nhỏ gào như kẻ
điên. Gã bạn cuống quýt ôm lưng tỏ vẻ an ủi.. Nó ngưng
khóc, tát thằng bé một tát cực mạnh, đạp gã bạn ngã
ra đất.
.. Tại sao nó muốn vào
học trường sân khấu kia?
- Bởi đấy là một
trong những cơ quan cho học viên nhiều đặc quyền, đặc lợi.
Vào đoàn đó, nó được tiêu chuẩn đường, sữa, thịt để
có sức khoẻ tốt, ngoại hình đẹp. Lớp của nó chỉ nhận
hơn ba mươi học viên của cả ngàn người dự tranh, đấy
là chưa kể phải thành phần lý lịch tốt. Nó lại là con
của sĩ quan nhảy dù Pháp, không có cái chước với lão chủ
tịch kia thì làm sao mà vào được. Nhưng nó cố ý là nhắm
vào món bồi dưỡng đường, sữa, thịt hằng tháng cùng với
tiêu chuẩn mười-sáu ký gạo cho mỗi học viên - Tiêu chuẩn
cao nhất của Miền Bắc. Thì từ đó mới biết hạt gạo
quý, hiếm đến thế nào đối với người Miền Bắc. Ông
thi sĩ Phùng Cung phải kêu lên: Tôi cúi đầu.. Bạc tóc,
dập đầu.. Lạy hạt gạo rơi.. Với tiêu chuẩn gạo đó,
nhỏ chị nuôi được cả nhà bốn người.. Mầy nói gì tao
không hiểu? Thì nhỏ Giang Thanh ấy dùng một nửa tiêu chuẩn
(gạo) để nuôi bà, bố và hai em.. Trong suốt bảy năm liền
từ 1968 đến 1974, nó chỉ ăn một ngày một lần vào buổi
trưa, để dành tám ký gạo (nửa tiêu chuẩn) đem về nuôi
gia đình. Suốt một thời con gái lớn lên, nó không có một
chút đường, chút sữa nào hết!
Người kể trầm giọng
tiếp tục: Không phải chỉ mình nó mà cả miền Bắc vậy
mà mấy ai trong Nam biết đến, phải sau 1975, khi chịu chung
đòn cộng sản mới vỡ lẻ ra.. Như vậy đời nó cũng phải
được lúc dễ chịu chứ, từ bé đến lớn cứ khổ như
vậy chịu sao nỗi! Người bạn ngao ngán, cố ý chờ nghe một
điều vui.
- Những điều tao vừa
kể vắn tắt cho mầy nghe ra chưa diễn tả đủ cảnh đời
và cách sống của nó.. Cơ cực như thế, nhưng vào dịp Tết
Trung Thu, nó vẫn cố dành dụm để nấu được một nồi
cháo ám cho cả nhà.. Tại sao phải có nồi cháo ấy? Thì thuở
trước khi bà bác còn sống, lúc bà tao còn trẻ, dịp lễ,
tết là để cho cả nhà trổ tài nấu nướng, dọn cổ.. Ví
như nồi cháo ám ấy là phải nấu với một con cá quả, thịt
ba chỉ, hành phải búi lại từng củ, đủ rau thìa là, cần
tây.. Trước ngày Tết âm lịch, mọi người phải tắm bằng
nước rau ngò phơi khô, mặc áo quần mới để chúc tết nhau
trong ngày Mồng Một. Bà tao mất trí, bác tao chết, bố nó
bị khủng khoảng, hai em gái còn nhỏ trong một xã hội thiếu
thốn, hạn chế của miền Bắc, nó phải một mình đóng vai
chủ gia đình, người cha lẫn người mẹ từ năm chưa đến
tuổi thành niên.. Đời em nó khốn nạn lắm chị ạ!
Nó than thở với tao khi chị em gặp nhau năm 2005 vừa rồi.
Năm nó năm-mươi tuổi.
..Năm mươi tuổi hẳn
nó phải già lắm nếu như gặp phải cảnh đời như mầy
vừa kể ra. Mà sao gọi là em, nhỏ ấy là vai chị mầy cơ
mà.. Nó giữ lễ trăm phần trăm của người Bắc chứ không
“xà bần” như mầy và tao (những người đã được “Nam
Hóa” coi như toàn phần).. Ngay mợ tao, không phải là người
dễ tính, nhưng buổi đầu gặp nó là chịu ngay. Nó khôn ngoan
thiên bẩm thêm cảnh khó làm nên sắc sảo hơn. Nhưng cũng
không hẳn là vậy, những tình thế tao vừa kể thật ra cũng
không mấy khó khăn đối với nó, vì đấy là hoàn cảnh chung
của cả miền Bắc trước 1975.. Dẫu rằng suốt bẩy năm
từ 1968, coi như hằng ngày nó phải chạy trên trục tam giác:
Khu Mai Dịch - Phố Hàng Đường - La Khê (Hà Đông) để trông
bà, cha và hai em, cùng về trường học nếu không có những
tai nạn nói ra đến nặng lòng, tội nghiệp..
..Sống như thế đã
quá khổ, còn tai nạn nào thêm nữa đây? Người bạn nghe
chuyện nói như than.
- Thì ví như lần mất
chiếc xe đạp, dù chỉ có cái sườn và hai bánh xe.. Bọn
cướp rình sẵn trước cổng nhà bà nó.. Như con hổ cái,
một mình đánh hai thằng kẻ cắp, thằng thứ ba giật xe chạy
mất, nó chạy theo thì bị một gậy đập ngang mặt, phải
dùng hai ống tay để chận.. Hai tay nó giờ nầy còn sẹo và
thương tật do trận đòn nầy, cũng may giữ được cái mặt
đẹp, vũ công ba-lê mà mặt bị sẹo thì còn gì để múa
với may. Mất xe đạp nên khi đi từ Mai Dịch về Hà Đông,
nó phải nhảy tàu điện nhiều lần, tránh người soát vé
để tiết kiệm vài hào bạc, chỉ khoảng một, hai cent Mỹ.
Nhưng tất cả tình thế thiếu thốn vật chất ấy hình như
nó coi nhẹ vì xem là điều tất nhiên, nếu không vướng phải
tai nạn tình ái, hệ lụy thương yêu!
- Đã qua cảnh khổ như
thế thì chuyện yêu đương trai gái có nghĩa là gì?! Người
nghe chuyện lên tiếng phê bình, cũng thật sự thắc mắc về
tình cảnh tâm lý của một con người đã kinh qua khốc liệt
cùng cực, nhưng sao chưa đủ độ cứng cỏi, trưởng thành?
- Hỏi như thế thật
ra mầy cũng chưa hiểu gì về nó - Đấy chỉ là một đứa
nhỏ phải chịu cảnh đời khắc nghiệt của những người
lớn (mà nó phải buộc phải thay thế).. Thế nên, khi nghe
anh chàng cùng lớp (Thằng bạn thân năm trước theo nó đi
đòi nợ lão chủ tịch thành phố - Nó vốn trung hậu, thẳng
thắng, chơi với ai hết lòng với người ấy. Thằng nầy
lại là con ông giám đốc trường sân khấu) ngõ lời yêu
thương và nhất là quà cưới sẽ là chiếc xe đạp Phượng
Hoàng do Trung Quốc sản xuất mà hiện nó đang mượn xử dụng.
Thế là nó tin thật, chấp nhận ngay lời cầu hôn. Nó cũng
nghĩ rằng: Với sắc vóc đẹp đẻ, tính tình chân thật ắt
sẽ được mọi người coi trọng thương yêu. Một hôm, bất
ngờ mang quà sáng đến cho thằng kia (xôi nấu từ sáng tinh
mơ để chứng tỏ lòng thương yêu chăm sóc).. Tay ủ dĩa xôi,
tay giữ ghi-đông xe, đạp chập choạng giữa trời đông đất
Bắc.. Đi vào, bắt gặp thằng ấy đang ngủ với một đứa
bạn gái cùng lớp! Nó ngất xỉu ngay trên ngưỡng cửa, lên
cơn động kinh, nằm lăn ra đất, răng cắn chặt, thân thể
cứng đơ như khối gỗ.. Thằng kia (hoảng sợ nếu nó chết
sẽ chịu phần trách nhiệm) vạch quần đái lên mặt nó,
cũng do người chung quanh thúc dục, chỉ bảo.. Tỉnh dậy,
nó đi thẳng một mạch. Mặt tỉnh lạnh, mắt ráo
hoãnh. Bịnh sạch sẻ
và ghê tởm liên hệ trai gái có triệu chứng từ đó, càng
ngày càng rõ rệt - Nó thấy ra bộ phận sinh dục của
thằng kia trước mặt trong cơn kích ngất.
Tóm lại, nó vẫn chỉ
là một đứa bé gái với tâm chất trong sáng, cả tin trong
một thân thể thiếu nữ đương độ phát triển, cũng vô
cùng quyến rủ.
Hai.
Sau tai nạn tình ái,
Giang Thanh trở nên lầm lì ít nói, nhưng khi cần phát biểu
thì cứng cỏi giữ chắc ý kiến qua cách lớn tiếng cố chấp,
không kìm giữ phản ứng quyết liệt, mạnh mẽ. Cuối năm,
tháng 12, 1974 tốt nghiệp ưu hạng trường sân khấu, cũng
đúng mười-chín tuổi, Giang Thanh tình nguyện đi B (chiến
trường Miền Nam) với mục đích: Để gia đình “xóa thành
phần” do có con là chiến sĩ văn công đi Nam. Người cha
được phục hồi quyền công dân thay mặt bà ngoại coi ngôi
đền nay được xếp hạng là tụ điểm sinh hoạt văn hóa
nhân gian. Nhưng lý do chính, để cô em kế, Hương Thơ (sinh
1957) được ghi danh vào đại học tổng hợp và kết nộp
đoàn (Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh), sau đó chắc
chắn sẽ trở nên thành “đối tượng đảng”.
Đoàn văn công được
điều động đi B vào đầu năm 1975 sau chiến dịch đánh chiếm
Phuớc Long hoàn tất (12, 1974). Tuyến giao thông gọi là “đường
mòn Hồ Chí Minh” nay đã là một xa lộ hai chiều chạy dọc
theo sườn Đông Trường Sơn sâu nội địa Miền Nam, chứ
không là đường giây “xã hội chủ nghĩa” nằm phía Tây
trong lãnh thổ Lào và Campuchia của thập niên 60-70. Giang Thanh
bừng bừng cảm xúc của người được tham dự vào giai đoạn
quyết định lịch sử dân tộc. Thêm mối hân hoan cụ thể
là hoàn cảnh gia đình được ổn định do nỗ lực của gần
mười năm quên mình lo cho bà, cha và hai em. Cô để lại sổ
lương, tem, phiếu gạo, thực phẩm cho cha với lời dặn..
“Con đi B chuyến nầy bình an thôi, chỉ chờ ngày giải phóng
Miền Nam con sẽ về thăm bố và hai em. Hy vọng bà còn sống,
và khoẻ mạnh cho đến ngày ấy. Khi nào lãnh lương con, bố
đừng tiêu hết, nhớ để lại một tháng vài đồng để
sau nầy nhà có cái vốn nhỏ cho hai em..” Cô không nghĩ rằng
mình vừa mới hai mươi, và đời sống trước mặt có nhiều
điều không thể lường trước, nghĩ ra, dự phòng tới. Buổi
ra đi, người cha hiện nguyên đủ hình dạng một con người
bị thời thế khuất phục, đánh vỡ mà nay dẫu cố gắng
hồi phục nhưng bất lực. Ông nhìn con trong bộ quần áo vải
kaki màu ô-liu, mũ tai bèo, cổ quấn khăn rằn với đôi mắt
không phản ứng.. Ông nhớ ngày rất xa xưa trước kia, cũng
đã có lần mặc quân phục - Quân phục của một quân đội
khác - Đội ngũ đã một thời hùng mạnh vang danh thế giới,
nhưng cuối cùng đã thất trận từ nơi đất nước nầy và
mất hết khả năng lập lại lần vinh quang. Ông lạ với con.
Ông lạ với đời sống mà ông đã sống cùng, chịu đựng,
chia xẻ hằng mấy mươi năm qua. Ông hôn lên má con.. Động
tác thắm thiết từ lâu không thực hiện, cũng không thấy
ai lập lại, bày tỏ. Giang Thanh nhận ra (và cảm thấy rất
hiện thực) phần u uẩn trong mắt người cha về một điều
mơ hồ (cũng rất cụ thể) của lần đi B không hẳn
là buổi vui mừng như mọi người chung quanh đang rộn rã
hân hoan ca ngợi.
Đoàn xe Zil chở toán
văn công qua sông Bến Hải vào địa phận tỉnh Quảng Trị,
Xã Gio Linh, vùng đất đã dựng nên bài hát bi tráng của một
nghệ sĩ ngày trước 1954 là thần tượng của những người
yêu tiếng nhạc ái quốc và hào hùng chiến đấu của hai
miền Bắc /Nam - Cuộc chiến đấu giữ nước khởi đầu từ
đêm 19 tháng 12, 1946 tại Hà Nội, Hải Phòng với những Tự
Vệ Thành tóc xanh, áo trắng,có người mặc áo veste, đội
mũ phớt khi tác chiến.. Những thanh niên, sinh viên, học sinh,
kể cả “dân càng” giang hồ.. dùng thân thể chắn ổ súng
đại liên của Binh Đoàn Viễn Chinh Pháp. Trận chiến mà những
người viết văn, làm thơ diễn tả lại với mỗi chữ nóng
sôi lửa đỏ.. Nổ súng rồi! Nổ súng rồi! Hải Phòng
ộc máu phun ra bể..(*) Hoặc: Nhớ đêm ra đi trời bốc
lửa. Cả kinh thành ngụt cháy sau lưng..(**) Cùng lần với
những lời thơ hùng vĩ nầy, bài hát vẽ nên một cảnh huống
khốc liệt, bi thương.. Mẹ già đi lấy đầu con.. Xa xa
tiếng chuông chùa reo.(***).
(*) Thơ Trần Huyền
Trân, Hải Phòng, 11/1946
(**)Thơ Chính Hữu,
Tống Biệt, 1947
(***) Nhạc Phạm Duy,
Bà Mẹ Gio Linh, 1948 (?)
Đêm liên hoan cuối năm,
dịp Tết Âm Lịch 1974 qua 1975, Giang Thanh cùng những bạn trong
tốp ca múa diễn tả, thúc dục, ngợi ca cuộc kháng chiến
thứ hai hiện đang đi vào giai đoạn kết thúc với thắng
lợi vẻ vang qua những bài hát.. Bác Cùng Chúng Cháu Hành
Quân, Trường Sơn Đông/Trường Sơn Tây.. Nhưng khác với
sự chờ đợi của đoàn ca múa, trên bãi cát Thôn Diêm Hà
Nam, quận Triệu Phong bên bờ biển âm âm tiếng sóng, toán
bộ đội giữ vị trí pháo và đám dân chúng tham dự
buổi liên hoan không có vẻ hào hứng nôn nao của một đêm
vui được tổ chức, động viên, chuẫn bị từ ngày đoàn
bước chân lên đất Miền Nam. Sáng hôm sau, Giang Thanh ngõ
lời thắc mắc với viên chính ủy đơn vị bộ đội.. Sao
em thấy các đồng chí bộ đội có vẻ không hồ hởi khi
nghe các em hát.. Và quần chúng hình như cũng thế?! Hồ
hởi sao được cô ơi, cả một Sư 308 chỉ còn chừng ấy
mống! Năm 1972 mà cô vào đây thì chỉ có là tan xương sau
dăm phút đứng trên mặt đất. Không chỉ bên ta mà cả lính
ngụy cũng chịu chung số phận.. Nhân dân nào tránh được,
cũng hứng bom, chia lửa của cả hai bên. Đạn, bom dập xuống
không phân biệt bên nào, dưới đất chốt cách nhau vài ba
thước, trận chiến tháng 9 năm ấy hai bên như trộn trấu
vào nhau. Làm sao phân biệt đạn nào của địch, pháo nào
của ta.. Cô thấy đằng xa kia không..? Giang Thanh nhìn ra xa,
phía tây, sau những cồn cát, lũy tre loang lỡ.. Cô thấy những
ụ đất và những kiến trúc xiêu ngã ngỗn ngang.. Thành Phố
Quảng Trị đấy, mấy ụ đất kia là cổ thành bằng gạch
xây cả hai trăm năm như mấy cửa ô Hà Nội!
Giang Thanh xuôi về Nam
với tâm cảnh nặng lòng.. Điều mơ hồ cảm nhận từ lúc
ra đi nay càng cụ thể với những xóm làng cô đi qua. Hơn
thế nữa, cô còn linh cảm, xao xuyến về một điều gì bất
hạnh của riêng mình - Một tai họa nào đang phục sẵn.
Rời Quảng Trị, đoàn
theo đường giây giao liên được bảo vệ, hộ tống bởi
một đại đội trinh sát qua những căn cứ quân sự, những
địa phương đã được quân giải phóng chiếm đóng, lấn
chiếm từ những năm Tổng Công Kích 1972, hoặc sau Hiệp Định
Ba lê 1973, trong năm 1974.. Những địa phương (với cư dân
dị biệt âm, chữ nói) có những tên gọi lạ lùng như Ba
Lòng, Cùa, Tý, Sé, Đắc Tô.. khác hẳn những làng quê miền
Bắc thông thường đặt theo tên chữ Hán-Việt, và lũy tre
xanh bao bọc.. Nhưng tất cả những nơi nầy cùng chung một
cảnh sắc: Đấy là những thị trấn, làng xã heo hút giữa
vùng núi mù mờ trùng điệp, hoặc đồi cỏ khô cằn.. Tuy
nhiên, đến đâu cũng nghe những lời vui mừng phấn khởi:
Bây giờ là hòa bình rồi, chứ như mấy năm trước
còn
Mỹ thì đâu có ngủ được trên mặt đất.. “Hoà
bình rồi.. Không còn Mỹ”, nhưng sao vẫn không thấy những
thị xã, thành phố? Và “chiến tranh giải phóng” nầy
tại sao vẫn tiếp tục? Và đâu là “nhân dân Miền Nam
bị kìm kẹp dưới ách Mỹ-Ngụy” đang trông chờ lần
giải phóng từ Miền Bắc!? Những câu hỏi âm thầm xuất
hiện trong đầu Giang Thanh đồng thời nỗi nhớ quê nhà, nơi
các em, với ánh mắt u uẩn của người cha. Mãi cho đến giữa
tháng Ba, đoàn được thông báo tin vui: Quân Đoàn Tây Nguyên
đã giải phóng Thị Xã Buôn Ma Thuộc, nhưng vì tình hình ở
đấy còn đang phức tạp nên toán văn công chưa được phép
vào trình diễn, mặc dù bộ đội và nhân dân đang hồ hỡi,
phấn khởi chào đón (?!). Hiện thực cho nguồn vui nầy, đoàn
được phát những thức ăn tươi, đồ hộp cao cấp mang nhãn
hiệu “Quân Tiếp Vụ QLVNCH” với hình người lính
cầm súng (Mỹ) và lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Đoàn lên những
xe quân sự to, chắc hơn xe Zil (của Trung Quốc) tiếp tục
xuôi Nam với tốc độ khẩn cấp để đến cuối tháng Ba
đi vào một thành phố đẹp như phong cảnh, tranh ảnh Tây
Phương: Đà Lạt. Và Giang Thanh cùng với tất cả thành viên
trong đoàn đều không nén được tiếng kêu kinh ngạc thán
phục trước chiếc cổng lớn của một khu doanh trại uy nghi
trãi rộng hết vùng đồi trùng điệp hùng vĩ: Trường
Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Toán ca múa được xếp
chỗ ngủ vào những phòng riêng biệt, mỗi phòng gồm hai giường
sắt, nệm, khăn trải giường trắng tinh xếp thẳng góc..
Phòng
ngủ nầy là của tụi học viên sĩ quan Ngụy đấy. Chúng
được đào tạo như thế nầy để đàn áp, giết hại nhân
dân. Viên chính ủy đoàn (cố gắng) tìm lời giải thích
(phù hợp) về cảnh trí tiện nghi, xếp đặt ngăn nắp, sạch
sẻ của tòa doanh trại mà dù những chủ nhân căn phòng hẳn
đã phải ra đi trong khẩn cấp nhưng nền nhà còn nguyên độ
bóng sạch khiến người bước lên có cảm giác e ngại gây
dơ bẩn. Nhưng lời giải thích (dẫu cố tình ép buộc mà
người nói cũng không tin vào nội dung do chính mình nói ra)
không còn độ tác dụng khi toán văn công được lệnh thu
dọn chiến lợi phẩm nơi thư viện.. Những khối sách bề
thế bọc gáy da, chữ vàng xếp chật trong toà đại sãnh im
lặng một cách uy nghiêm - Nội lực trí tuệ thể hiện qua
chữ của người xây dựng nên văn minh, văn hóa nhân
loại – Những người học, đọc những sách nầy chắc chắc
không là kẻ chuyên nghiệp sát nhân, ăn gan, uống máu người,
ném trẻ con hài nhi vào lửa (?!) Giang Thanh có ý niệm rất
cụ thể. Và cô thực sự chìm xuống cảm giác phạm tội
- Tội hủy diệt, với máu, thịt con người do chính tay cô
tàn phá, nhúng đẫm - Cô và các bạn trong toán văn công được
lệnh thiêu đốt khối sách của thư viện. Lửa bùng lên..
Các bạn cô đùa cợt, bừng bừng hân hoan ném sách vào lửa..
Sách
nầy! Sách nầy.. Sách mã mẹ chúng mầy.. Đọc cho cố.. học
cho lắm để tàn sát nhân dân! Giang Thanh nghe đau trên thịt
da mình. Cô như đang cùng sách chịu lần thiêu sống. Cô cố
gắng cất dấu những cuốn sách lớn, dày, đẹp nhất, bìa
in theo kiểu chữ Romain cổ điển, nét khắc vàng tươi. Cô
có cảm giác an ủi như cứu được những con người - Những
người lương thiện, tốt lành, cao thượng.
Đêm liên hoan Giang Thanh
uống tất cả những gì các bạn mang lại.. Rượu Số 7
nồng cay; rượu nhản Người Đi Bộ thơm mùi lúa mạch;
rượu sâm-banh mở ra cùng tiếng nổ và bọt trào vàng óng..
Rượu
đỏ như màu máu.. Rượu vang.. Rượu vang.. Ông ngoại,
bà ngoại, ông người Pháp tên Pha (nghe qua câu chuyện nhà
thường kể lại), và người cha với chiếc áo trận nhiều
túi, vải rằn ri thô cứng (chỉ mặt trong nhà khi mùa rét)..
Rượu
Vang tất cả là đây.. Giang Thanh uống vào người như nhận
lãnh một thứ nước quen thuộc, máu của mẹ, của cha,
của quá khứ, ngày xưa khi bà còn uy nghiêm, xuân sắc, đài
các. Khi mẹ còn sống. Cô uống xuống như nuốt hết cùng
lần tuổi thơ khốn cùng, nguy biến, sáng dậy tinh mơ và đêm
giá rét thức giấc một mình.. Một mình từ mười bốn tuổi
vượt đói khổ nuôi cha, nuôi em. Giang Thanh uống rượu chiến
thắng hoà nước mắt của mình. Cô cười dòn dã, líu lưỡi
nói với Sơn.. Mầy là thằng khốn nạn.. Tao yêu mầy nhất
mà tao cũng khinh ghét mầy nhất.. Tiên sư bố mầy.. Mầy ngủ
với con Diễm như thế có được gì mà mầy mất tao trọn.
Tao chẳng đau khổ mẹ gì cả, chỉ tiếc là tao đã có lần
yêu mầy.. Muốn trả thù mầy thì tao giết mầy ngay nhưng
tao.. đéo cần.. Mẹ tao bị chúng giết nên tao sợ chuyện
giết người chứ không phải tao sợ gì mầy.. Tao thách mầy
đánh tao như năm kia khi vì còn yêu mầy nên tao nhịn mầy!
Cô nhổ nước bọt và rượu vào mặt Sơn, gã trai đã
cùng cô sống suốt thời gian bảy năm nơi trường ca múa với
Tình Bạn thắm thiết - Cũng là người giúp cô nhận hiểu
về sự phản bội của Tình Ái tầm thường.
Giang Thanh không biết
mình đã trở về chỗ ngủ như thế nào, với ai. Nửa đêm,
cô tỉnh giấc với cảm giác ê nhức nơi bộ phận sinh dục.
Cô đưa tay xuống sờ đũng quần.. Ướt dính máu, và chất
nhầy nhầy đóng khô trên những sợi lông nỏn.
Giang Thanh phải ra trước
phiên họp của bí thư đoàn để trả lời về tội hủ
hóa nay đã nên bằng chứng cụ thể với bầu thai càng
ngày càng dễ nhận. Nhưng cô không phải tay vừa. Mặt đanh
lại, tiếng nói như ngọc vỡ, cô trả lời với ban bí thư..
Tôi không phải là loại người khốn nạn, suy đồi hủ hóa,
mê giai.. Tôi là chiến sĩ cách mạng. Là diễn viên ưu tú
của đoàn kịch nói, ca múa, đi Nam để cổ vũ động viên
cho cuộc giải phóng Miền Nam. Đêm ấy, đêm uống rượu liên
hoan, tất cả mọi người đều say không riêng một mình tôi..
Có chăng tôi là người say nặng nhất.. Ngày hôm sau tôi xin
đi khám phụ khoa thì bác sĩ chứng nhận tôi bị cưỡng dâm,
y chứng còn đây, và tôi đã báo sự vụ đến ban bí thư.
Nếu ăn vụng thì tôi đi báo làm gì? Chẳng đứa nào ngu đến
độ đi tố cáo chuyện lén lút của mình! Và tôi cũng đã
xin đi khám phụ khoa hai lần sau đó để xin bác sĩ tống cái
thai ấy ra.. Hôm nay, tôi vẫn giữ nguyên ý định ấy. Nếu
phá thai phải nhiễm trùng hay băng huyết mà chết tôi cũng
không từ. Tôi viết giấy ngay bây giờ chấp nhận quyết định
nầy. Đáng nhẻ, ban bí thư phải tìm ra kẻ khốn nạn ấy,
bắt nó phải chịu kỹ luật, hạ tầng công tác, khai trừ
nó ra khỏi hàng ngũ đảng viên.. Đảng viên cộng sản là
thế sao.. Đạo đức cách mạng Bác Hồ dạy chúng mầy (cô
cố ý dùng chữ “chúng mầy”) để đâu? Đảng viên gì
nhân lúc đồng chí mình say cởi quần đè ra hiếp! Mắt cô
giương lên sòng sọc, giọng thét lớn, bao nhiêu giận hờn
uất ức (suốt từ năm tháng qua, do nhiều nguyên nhân..) cùng
lần nỗ tung không che dấu.
Ban bí thư cuối cùng
đưa đến biện pháp: Tất cả những đoàn viên phái nam đồng
phải làm tự kiểm để tìm ra kẻ thủ phạm. Cuộc kiểm
thảo đưa đến kết quả dễ dàng với số lượng có đến
ba kẻ thú nhận, bao gồm viên phó bí thư và gã tên Sơn..
Tất cả “ba thủ phạm” đồng lòng nhận lỗi, và xin được
chuộc lỗi bằng đám cưới chính thức với Giang Thanh do ban
bí thư làm chủ hôn. Nhưng tất cả đều không lường được..
Giang Thanh cười khinh miệt, chỉ mặt ba kẻ ”thủ phạm”
với lời như dao chém đá: Các anh nhìn lại mặt mình đi..
Tôi như thế nầy mà phải gọi các anh làm chồng ư? Cái thai
trong bụng tôi đã là một sự đốn nhục.. Lấy các anh tôi
phải chịu sự nhục nhã kia đến trọn đời.. Cô đổi giọng..
Tao không cần thằng nào phải gánh chịu phần khốn nạn do
một trong ba đứa chúng bây đã gây nên.. Nhưng tao cũng đã
biết rõ đứa nào.. Cô nhìn vào mặt gã tên Sơn: Mầy đã
hai lần gây nhục cho tao.. Nay mầy lại ngỡ qua “nhận lỗi”
nầy, mầy sẽ cột được với tao.. Đừng có hòng! Tao sẽ
phá cái thai nầy, hoặc nếu để thì tao cũng sẽ không bao
giờ cho mầy được nhận đứa bé trong bụng tao làm con. Con
tao không có loại thằng bố khốn nạn, hèn hạ như mầy!
Gã tên Sơn sụp xuống
đất than vãn.. Anh lạy em.. Anh van em xin em giữ lấy con. Nó
là con chúng ta, anh với em dẫu sao trước kia cũng có lễ hỏi
chỉ chưa cưới mà thôi.. Em không cho anh nhận nó cũng được,
nhưng xin em đừng bỏ nó.. Tối hôm qua anh nằm mơ thấy nó
rất rõ - Nó là con gái giống hệt đứa con mà chị
anh đã để chết ngạt trong hầm trốn pháo năm kia ở Thái
Bình..
Ai anh, ai em, vợ chồng
gì với mầy.. Nếu tao giữ đứa bé là vì nó từ trong bụng
tao mà ra. Mầy là thằng khốn kiếp đâu xứng đáng làm bố
con tao. Giọng nói vẫn còn nguyên độ cứng cỏi nhưng thoáng
vẻ cay đắng chán chường chứ không hoàn toàn do phẫn nộ
như khi bắt đầu buổi họp.
Cuối năm 1975, ngày 28
tháng 12, đúng chín tháng, mười ngày kể từ cơn say ngất
ở Trường Đà Lạt, Giang Thanh sinh đứa bé gái ở Nhà Bảo
Sanh của bà đỡ Người Hoa, họ Lương, Đường Hai Bà Trưng,
ngã ba gặp đường Trần Quang Khải, từ Đường Trần Nhật
Duật đi thẳng ra - Nơi có căn nhà ngày trước Uông Đại
Dụng đã mua cho bà thứ Tám vào năm 1915, sáu-mươi năm trước,
cũng một năm Ất Mão, 1975.
Ba.
Giang Thanh từ chối những
quyền lợi của người được tước hiệu “Nghệ Sĩ Ưu
Tú” nếu như thuận trở về Hà Nội với đoàn ca múa. Cô
xin ở lại Sàigòn, ghi danh vào học trường Quốc Gia Âm Nhạc
nay cải biên nên thành Trường Âm Nhạc Nghệ thuật số #2,
Lớp Đạo Diễn do quan niệm, nghệ sĩ trình diễn chỉ có
một thời đoạn và một lãnh vực riêng: Hát, múa, phim, kịch..
Và sẽ bị hạn chế bởi tuổi tác, thời gian, yêu cầu của
nghiệp vụ (cho dù tài nghệ xuất sắc, kỹ thuật điêu luyện
đến đâu) - Nhưng những hạn chế nầy sẽ không tác động
đối với chức năng đạo diễn, nếu không nói ngược lại
– Càng ở lâu trong nghề, tuổi càng lớn, người đạo diễn
ắt sẽ trở nên vững vàng, sâu sắc hơn. Tuy nhiên, cô cũng
phải chịu những lời phê phán, trách móc, ác độc.. “Nó
muốn ở lại Sàigòn là bị nhiễm cái mùi bơ thừa sữa cặn
của bọn ngụy bỏ lại đấy mà.. Cái ngữ ấy rồi đây
chỉ có nước nằm ngữa ra để bán thân nuôi miệng thôi..
Thằng Sơn ấy đã van lạy trước tập thể như thế mà nó
còn đá thằng nhỏ như con chó thì nó còn biết thương ai..
Đứa nhỏ kia trước sau gì nó cũng cho vào nhà mồ côi để
rộng đường đi ngang về tắt.” Đối với những lời
“tiên tri” không mấy tốt lành nầy, cô đáp lại không
khoan nhượng.. “Ở Miền Bắc, tao mười bốn tuổi còn
nuôi được cả nhà dưới bom đạn Mỹ, hôm nay chúng mầy
nói điêu, nói độc, rồi đây sẽ có ngày chạy tới bám
vào gấu quần tao để xin xỏ.” Cô không dùng lời ngoa
ngôn, trống rỗng, bởi sẵn có dự định (thật ra là quyết
định) với hai khả năng giúp phần ưu thế: Một sắc vóc
rực rỡ lồ lộ, và trí sáng thiên bẩm do từ trực giác
bén nhạy, giúp cô thấy ra sự việc, lời nói, ý niệm của
người khác từ lúc mới manh nha khởi động.. Hơn ai hết
cô biết rõ về mình nên rất đỗi tự tin, đồng thời biết
giữ vững tâm chất trong sáng do đã kinh qua cảnh khổ mà
không bị nhận chìm xuống. Nhưng cô cũng sẵn sàng tiếng
lời độc địa, khắc nghiệt ứng phó, trả lại chính xác
từng chữ, từng câu với đối thủ. Chắc chắn một điều,
Giang Thanh không hề sợ hãi, ngã lòng.
Miền Nam nói chung, Sàigòn
nói riêng (hiện thực cụ thể nhất) sau 30/4/1975 rơi vào một
tình trạng bi thảm kỳ dị suốt hơn trăm năm thành hình,
xây dựng nên cảnh sắc riêng biệt, đặc dị tài hoa - Cảnh
huống bi thảm do chính bản thân (người Miền Nam) góp phần
khởi dựng, thực hiện qua một cuộc đổi đời đảo ngược
nên thành tồi tệ - Cũng gọi là “cách mạng giải phóng
dân tộc”, nếu nói theo ngôn ngữ chính trị thời thượng
mà lần hồi không mấy ai cam tâm xử dụng do so sánh với
thực tế khi “chưa giải phóng”. Những chuyến xe buýt
vàng chạy đường Gia Định, xe xanh nội thành Sàigòn thoắt
trở nên chuyện, tích đời xưa cũ. Nhà cửa, quán đàng Đường
Lê Lợi, Tự Do, Lê Thánh Tôn bày ra vẻ buồn thảm tội nghiệp
như cô gái ngày hôm trước còn mặc trên người những áo
quần đắt tiền của thời trang thế giới nay lập tức thay
bằng chiếc bà bà màu trắng, và quần đen nội hóa, chân
mang đôi dép nhật đúc bằng nhựa làm từ Chợ Lớn, hiện
thực chính xác miêu tả của Hoàng Cầm: Chân dép râu. Đầu
thắt bím. Quần đen, áo trắng, dáng con sen..
Người Miền Nam vừa
kinh ngạc, vừa buồn cười bởi hậu quả thất trận “lãng
xẹt” quá mau chóng, vô lý của mình, đồng thời thấy rõ
ra chân dung kẻ thắng trận.. Chỉ là một đối thủ lúng
túng, xoay xở cây xẻng cá nhân mang nhản hiệu U.S. trên tay,
ngơ ngác đi trước Toà Đô Chính, bối rối nhìn lên những
cao ốc với lời tán thán.. Khiếp! Và người giúp việc nay
là cứu tinh của gia đình qua lời trấn an kẻ cả..”Cậu,
mợ đừng ngán đứa nào, cứ dời xuống dưới ga-ra mà
ở; tui bây giờ là chủ nhà nầy, thuộc đội đặc công thành
phố, phụ trách phụ nữ quận Phú Nhận (“Nhận” chứ không
là “Nhuận”)”. Người ta bắt đầu ăn bo bo, củ mì
thay hạt gạo mà chỉ tháng trước phải là “gạo Nàng Hương,
Chợ Đào” mới có thể nuốt xuống một chén cơm với mâm
thức ăn ít nhất cũng phải ba món “canh, xào, mặn”. Người
Sàigòn phải trình bày toàn bộ ý nghĩ, cảm xúc của mình
bằng một tỉnh từ tổng quát “tốt” với một lối
nói “được học tập” sau nhiều đêm họp tổ khu
phố, kiểm điểm, bình bầu, báo cáo thành tích thi đua lao
động, tăng gia sản xuất.. Báo cáo cán bộ, tôi đã lao
động tốt, đạt, và vượt chỉ tiêu mà trên giao.. Từ
bà già bán bún ốc nơi Chợ Phú Nhuận, ông đạp xích lô,
anh thanh niên chạy xe thồ, thằng bé chạy việc nơi tiệm
phở quốc doanh.. Tất cả đều chung một lời báo cáo với
một nội dung tất cả đồng học thuộc. Mỗi đêm từ 8 đến
11 giờ. Xong tất cả về đi ngủ để sáng sáu giờ ra công
viên văn hóa tập thể dục theo nếp sống văn minh văn hóa
mới.
Và để an ủi, người
Sàigòn tự hoạt kê phần bất hạnh của mình qua những câu
chế diễu.. “Đả đão Thiệu-Kỳ cái gì cũng có. Hoan
hô Hồ Chí Minh, mua cái đinh cũng phải xếp hàng..” Tuy
nhiên cũng có một điều mà trước đây những chế độ cũ
(thực dân, phong kiến, cộng hòa..) dẫu cố công bao nhiêu
cũng không thực hiện được: Đấy là mọi người đều bình
đẵng trong một tình huống cùng khổ, thảm hại qua một
cơ chế kinh tế, xã hội gọi là “chế độ bao cấp”.
Giang Thanh không thoát khỏi cảnh chung khốn cùng do vinh quang
cách mạng cô góp phần xây dựng nên. Mức lương cố định
của học viên trường Âm Nhạc Nghệ Thuật không thể giúp
cô nuôi đủ bản thân, huống gì nay thêm bé Thanh Giang - Cô
đão ngược tên mình đặt tên con để biểu lộ quyết chí
- Đấy là đứa con của chính cô. Với riêng một mình cô.
Vì bé Thanh Giang chỉ được đăng ký là con tư sinh do cô không
có chứng chỉ kết hôn với ai, nên bé không được gọi là
con trẻ của chế độ mới - Chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chế độ chấm dứt hiện tượng người bóc lột người.
Thanh Giang không được tính vào mức lương của mẹ. Thế
nên, Giang Thanh tìm cách phấn đấu để nuôi con.
Xin được chân chạy
bàn ca đêm (ban ngày phải học tại lớp đạo diễn) ở nhà
hàng Bát Đạt được hai bữa.. Đêm thứ ba, viên quản lý
đến bên cạnh khi cô đang choàng chiếc áo đồng phục trước
buổi làm.. Em đẹp quá, thơm quá.. Anh ta hít hít cánh mũi
rộng để chứng thật đang được thấm đẫm hương thơm
từ da thịt cô gái.. Giang Thanh ngừng mặc áo, nhìn gã quản
lý.. Hiểu lầm sự im lặng của cô, anh ta tiến tới.. Em khỏi
phải chạy bàn nữa, phí đi, đừng mặc áo chiêu đãi nầy
kể từ đêm nay. Lên phòng anh, phòng quản lý, lầu tám, phòng
có bể cá vàng đằng trước.. Không mặc thì bà đội lên
đầu mầy ấy à.. Mầy nhầm người rồi! Giang Thanh chụp
chiếc áo choàng lên đầu gã quản lý. Quay ngoắt bước đi.
Cô cũng gặp phải “sự cố” tương tự tại vài nhà hàng
khác, hoặc bị vợ của những viên quản lý đòi xé xác “con
Bắc Kỳ trắng như đầm lai, đẹp như Thanh Nga, Mộng Tuyền..”
Cuối cùng, cô chọn chân rửa chén tại Khách Sạn Nam Đô,
cơ sở biên chế nên thành nhà hàng quốc doanh, địa điểm
chiêu đãi chính thức cho những đoàn hát trung ương vào Sài
Gòn công tác. Không ai biết cô diễn viên thoại kịch tài
hoa, nghệ sĩ trình diễn ca, múa dân tộc điêu luyện, học
viên biên đạo diễn xuất sắc cũng là cô phụ bếp (những
đêm cuối tuần) lên ca với những chồng chén dĩa cao ngất,
lầy nhầy thức ăn rửa bằng tay trần với xà phòng nội
hóa. Nhưng Giang Thanh không hề ta thán, cô nói thành lời với
chính mình.. Chẳng thấm vào đâu so với cảnh đội bom Mỹ
chạy từ Mai Dịch về Hà Đông với cái bụng đói! Cô còn
có được mối hân hoan khi xin với ban quản lý bớt một phần
lương tính vào hai con gà xối mỡ đem về đãi bạn đồng
lớp.. Ăn đi chúng mầy, đây là tiền lương của tao chứ
không phải xin của ai. Chúng mầy ăn đi, từ ngày vào học
đến giờ tao chưa đãi chúng mầy được một bữa cho đáng.
Cũng bởi cô vốn có tính ham vui và ưa chăm sóc người khác
vì đã hiểu nghĩa hạnh phúc khi được thương yêu và biễu
lộ sự yêu thương cùng người.
..Đồng chí học viên
Giang Thanh hãy báo cáo trước tập thể từ đâu đồng chí
có được hai con gà quay đem về đãi các bạn học viên trong
lớp đạo diễn.. Hai con gà ấy tính ra hơn một nửa mức
lương căn bản của học viên. Chúng có từ đâu nếu không
do những quan hệ bất chính!
Trong khoảng khắc, Giang
Thanh uất ức nghẹn cứng vì không thể nghĩ sự tốt lành
lại đưa đến hậu quả tồi tệ ác độc nầy. Nén xuống
phẫn nộ, cô phản công.. Từ đâu mà có? Các đồng chí ám
chỉ tôi đi làm gái mới có tiền để mua những con gà ấy
chứ gì? Tôi không rẻ đến thế.. Nếu muốn làm gái, tôi
biết đường xuống khách sạn Bến Nghé đi khách ngoại với
những món tiền lớn gấp bội, hơn cả năm lương của tôi
kìa..Và muốn biết vì sao tôi có những con gà kia hãy đến
hỏi chỗ Nam Đô, đêm thứ bảy vừa rồi ở đấy chiêu đãi
đoàn ca múa Hồng Hà từ ngoài Hà Nội vào, sau khi trình diễn
nơi tụ điểm ca nhạc Bông Sen.. Nhưng giá sử như tôi phải
đem thân đi làm gái thì các đồng chí cũng phải xấu hổ
cùng tôi.. Chiến sĩ văn công đi B, Miền Nam được giải phóng
rồi phải đem thân đi làm gái.. Ai xấu hổ hơn ai!? Ai đau
xót hơn ai!? Thành quả cách mạng giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước mà đẩy chiến sĩ, bộ đội vào chỗ phải
bán thân nuôi miệng là làm sao? Và miếng thịt gà kia không
phải chỉ cho riêng tôi, nhưng còn cho vào miệng các đồng
chí đang ngồi ở đây để chủ trì vụ kiểm điểm nầy..
Xét xử tôi đi! Hãy kiểm điểm tôi đi! Ai được quyền kiểm
điểm ai? Lấy cái gì để kiểm thảo, phê bình!? Giang Thanh
đẩy không khí buổi kiểm điểm nên thành một màn bi kịch
đen thẫm đoạ đày. Sau nầy nhớ lại, cô lấy làm tiếc
đã không nói hay hơn, độc hơn thế nữa.. Bà đã không nói
thì thôi, nói thì phải cho chúng mầy sống dỡ, chết dỡ
mới được.
Cuối cùng, Giang Thanh
quyết định rời Nhà Hàng Nam Đô đi vác cá ở chợ Cầu
Ông Lãnh với lời nguyền rũa tự thân.. “Mã mẹ chúng mầy,
bà lấy cái thân bà đây để nuôi con xem thử có đứa nào
đụng đến, vòi vĩnh, bắt ép được!” Mỗi đêm, cô lén
dậy từ lúc một giờ sáng, chêm mùng cho con ngủ yên, đạp
xe xuống vựa cá góc đường Cô Giang/ Nguyễn Thái Học.. Vóc
người cao, chắc, Giang Thanh đội thúng cá chạy thoăn thoắt
không khó khăn, chỉ phiền nỗi nước cá chảy xuống tóc,
ướt đẫm mặt, đậm mùi tanh tưởi.. Bốn giờ sáng trở
về, gội đầu, tắm cho hết mùi cá đọng sâu chân tóc, trên
da thịt. Cũng may trời miền Nam luôn nóng nực nên không phải
chịu giá rét, nhưng ngâm nước suốt một giờ trong buổi
sáng sớm lâu ngày sau nầy gây chứng viêm soang mũi làm tiếng
nói của cô bị khàn đục mất âm sắc trong trẻo.. Bù lại,
cảnh khổ tôi luyện ý chí Giang Thanh bền bỉ hơn, thông cảm
trực tiếp cảnh khốn cùng của người (là chính bản thân).
Cô dựng kịch “Bà Mẹ Can Đảm với Những Người Con”
của Bertol Brecht để tố cáo tội ác của phát xít, tư bản
gây chiến tranh đày đọa con người cần lao vô tội, và thủ
vai người mẹ mà không ai có thể diễn xuất sánh cùng - Thật
ra cô chỉ cần hiện thực nỗi đau của chính mình và những
người đàn bà trong gia đình họ Uông trên sàn sân khấu mà
thôi.
Vỡ kịch trên thật
ra do ủy viên văn hóa tư tưởng trong ban bí thư nhà trường,
Lê Đậu phỏng dịch từ nguyên tác của Bertol Brecht. Đậu
người Thanh Hóa nơi đã có những ví von (thuần túy không
chỉ là những ca dao, tục ngữ của địa phương nầy để
miệt thị, chế diễu địa phương khác) thể hiệu đủ cá
tính về người, việc của vùng đất đã nẩy sinh ra những
cuộc huyết chiến kéo dài từ thế kỷ 16, 17..Nam/Bắc Triều;
60 năm); Trịnh/Nguyễn hơn trăm năm tranh hùng quanh khu vực
hai bên Đèo Ngang.. Thanh Hoá ăn rau má, phá đường rầy!
Người
Thanh Hóa thực sự hãnh diện với tính chất kiên cường,
mạnh mẽ, đánh phá của họ.. Đá như Thanh Hóa!
Tức
là mẫu mực kỹ thuật đá bóng tròn để (miễn có) đoạt
thắng bất kể giá nào phải trả. Thanh Hóa không phải chỉ
có vinh quang trên ngôn ngữ, thi ca, hò vè, nhưng thực tế đã
có viên Đại Tá Đặng Vũ Nam đánh tan đạo binh Charlton, Le
Page trên Đường Số 4 (1953), bắt sống hai chỉ huy cao cấp
trên trận điạ, hũy diệt hoàn toàn một binh đoàn cơ động
liên binh chủng của quân đội Pháp trong một cuộc vận động
chiến tài tình, điêu luyện của chiến thuật du kích tiến
lên trận địa chiến. Thanh Hóa là an toàn khu trong chiến tranh
1946-1954, và cũng là địa phương dẫn đầu trận đấu tố
bật tung lũy tre ngàn năm che chở quê nhà, ghìm chặt xuống
tiếng than của vạn con người thống khổ, đọa đầy. Đậu
vào Nam với câu khẳng định: “Đéo mẹ chúng nó! Cần
Thơ, Gia Định.. không riêng của người Nam. Đứa nào mạnh
thì đứa đó lấy”. Đậu không dịch vỡ kịch chỉ vì
công việc của người dịch thuật, phóng tác, nhưng như lời
anh ta nói với Giang Thanh: “Tôi dịch vỡ kịch nầy để cho
cô. Cô dựng nó nên thành kịch đáng giá khác với những
bản kịch nhà quê của chúng nó.. Loại chiến sĩ cộng sản
Paven (*) xúc tuyết làm cách mạng! Với nó, cô đi lên sân
khấu lớn như đoàn kịch trung ương Mát-cơ-xva” Khi diễn
thử, dẫu chẳng có cảm tình với Đậu, Giang Thanh cũng phải
nói thầm: Lão quái nầy đáng phục thật, đối thoại của
Bertol Brecht mà nó dịch ra cứ như kịch của Lưu Quang Vũ.
Sinh nhật Giang Thanh ba-mươi
tuổi, 1985 dẫu đang thời bao cấp, khó khăn chung, vì bao nhiêu
tài sản, kho tàng tịch thâu từ Miền Nam phải dồn trả nợ
Nga, Tầu, và bù trừ cho thiếu thốn của (người) Miền Bắc
đã phải chịu đựng từ 1945, 46.. Nhưng Sài Gòn vẫn không
thể “nghèo ngang bằng” Hà Nội, Hải Phòng.. nên Đậu
xoay được một bó hoa ba-mươi đoá hồng Brigitte, với chiếc
bánh sinh nhật được những người tham dự trầm trồ đánh
giá.. Bó hoa đẹp hơn lẵng hoa Bác Tôn gởi cho bộ chính trị
ngoài ta và cái bánh lớn như mâm cối 82Ly Trung Quốc. Không
hiểu lão “Đậu đéo” kiếm đâu ra được như thế như
thế! Đậu sở dĩ có tính danh “đéo”, do anh ta luôn bắt
đầu câu nói với.. “Ông đéo cần.. Chúng mầy đéo hiểu..”
trong tất cả mọi giao dịch. Cũng chẳng phải trong ngôn ngữ
bình thường mà ngay cả khi trò chuyện với viên bí thư bộ
văn hóa.. “Báo cáo anh.. Tôi “đéo” nghĩ rằng bọn miền
Nam có thể làm “đéo”gì được ta!” Viên bí thư vốn
tổng hợp nhuần nhuyễn “tính nhân dân và tính
đảng” nên đã đáp lại: ”Nói vậy, cậu “đéo”
hiểu gì về chúng nó cả..”. Riêng về nghĩa đen, Đậu
không thể nhịn “đéo” cho dù một ngày theo như lời anh
ta tự mô tả: “Đéo biết thế nào mà khi nào tao cũng
cứ tưng tưng thế nầy.. Đéo mẹ, giá như là đàn bà ắt
phải mỗi ngày nạo thai một lần!” Đậu không nói quá
về mình, sợ rằng anh ta diễn tả không được chính xác
hơn. Sài Gòn sau 1975 với đàn ông (miền Nam) hầu hết phải
vào trại tập trung; bộ đội Miền Bắc chết rải dọc Trường
Sơn.. Phần lớn phụ nữ (không học vấn (cho có học vẫn
vô dụng), ngành nghề, tài sản..) muốn kiếm sống không còn
gì ngoài thân xác của mình, nên người như Đậu với tật
“đéo” không là trở ngại, mà đôi khi còn được “biễu
dương”. Trước cổng nhà Đậu luôn có những cô gái ngồi
đợi vì.. “Anh ấy có bảo em, mỗi khi ế khách, không
chỗ ăn, chỗ ngủ thì đến đây..” Nhưng Đậu không
chỉ “nhiều” với thói tục “đéo”, anh còn nhiều trong
tất tả mọi phương tiện.. Ăn thì phải ăn cho đáng! Cắn
miếng thịt phải ngập hàm răng.. Ăn ba thứ rau, dưa, cà muối..
ông đéo đụng tới bao giờ. Mất công đi.. ĩa!! Đậu không
nói quá, anh không hề cho vào miệng bất kỳ các loại rau,
trái, đậu nào. ..Trứng là rau của ông. Thịt là cơm của
ông. Cái hỉm là bùa của ông! Ông la lối, hùng hổ như thế,
học hành, chữ nghĩa như thế tại sao không viết nên cuốn
sách nào đi.. Không lẻ cái đầu, trái tim của ông chỉ chứa
ngần ấy thứ? Có người đặt câu hỏi khó với ý định
bắt bí. Đậu nhanh chóng nắm chắc ý đối thủ, nhổ toẹt
mẫu tàn thuốc đẫm nước bọt.. Cái đầu hả.. Thì chỉ
nghĩ đến chuyện đéo, và cuộc đời ông đã là một tác
phẩm hoàn chỉnh.. Đéo cần viết thêm một chữ (*) Pavel:
Nhân vật thanh niên cộng sản của tiểu thuyết cách mạng
Nga
nào nữa. Còn quả tim..
Đéo
mẹ, quả tim ông thuộc về đảng vinh quang.. Hê..hê! Đậu
gằm gằm nhìn đối phương sau lớp kính dày. Với lối sống,
ăn, ngủ, nghĩ như thế, chiếc đầu, thân thể Đậu luôn
nóng như một khối lửa, nên anh chỉ có thể mặc quần sọt,
áo tay ngắn không gài hai nút ở cổ. Đậu ngủ ngay trên sàn
nhà, không hề nằm giường, nệm. Trong cung cách sống với
quan niệm vừa kể, Giang Thanh là một “mục tiêu” Đậu
không thể bỏ qua. Đéo mẹ, ông phải bắt cho được con bé
nầy dẫu mầy có chạy lên giời! Khi Đậu chưởi thề nguyên
chữ là gặp phải trường hợp vô cùng “khẩn trương”
và rất có ý nghĩa.
Thế nên, khi đến lúc,
cô Thúy Hương, vợ Đậu một người đàn bà đẹp, chuyên
làm người mẫu cho tạp chí thương mại, thời trang phụ nữ
(Đậu mang vào Nam năm sau 1975) trở thành gánh nặng.. Em là
người mẫu mà không chụp “nuy” thì phí đi, để hôm nào
anh kêu thằng quay phim, chụp ảnh trong trường về nhà làm
cho em mấy phùa.. Hương tin lời Đậu, cũng bởi người tình
của cô (một tay nhiếp ảnh chuyên nghiệp Sài Gòn trước
1975 cũng có nhận xét tương tự), hơn nữa cô cũng thích thú
với dự kiến được tham dự vào “sinh hoạt văn
minh tiên tiến mà trước kia bọn Mỹ-Ngụy (sa đọa) đã nâng
lên hàng nghệ thuật”. Và khi anh chàng nhiếp ảnh đang
lóng cóng sửa vị thế nằm cho Thúy Hương thì Đậu phá tông
cửa phòng nhào vào với hai viên công an khu phố (dẫu anh ta
có sẵn chìa khoá phòng).. Ối giời đất ơi! Ối giời đất
ôi.. Cô người mẫu đẹp nhất Hà Nội! Vợ của tôi! Đậu
ngã lăn lên đất trước để hai viên công an chụp hiện trường
phạm tội. Đậu lấy được căn nhà Đường Nguyễn Huệ
với cớ chứng “lỗi phần người vợ” - Căn phố mặt
tiền trước 1975 là cơ sở Ảnh Viện Thăng Long, Thúy Hương
chiếm dụng dưới danh nghĩa Hội Nhiếp Ảnh Giải Phóng.
Giữa buỗi tiệc sinh
nhật Giang Thanh, Đậu trình ra tờ giấy ly dị với lý do:
Vợ bị bắt gặp làm tình tại chỗ! Giang Thanh cũng đã quá
mệt với cuộc sống đơn độc mà luôn có kẻ nhìn vào với
ý định sỗ sàng.. Cho anh làm cha con bé của em đi! Cô
thuận lấy Đậu với một giao ước: Lấy tôi, anh muốn ngủ
với con nào thì mặc (tôi đã biết rõ anh “máu’ như thế
nào), chỉ yêu cầu anh đừng mang gái về nhà khi tôi đi vắng..
Tôi không muốn con tôi (là con gái) thấy sự dơ bẩn ấy!
Khi con tôi lớn, đưa ra ngoại quốc học là tôi vào chùa ngay.
Chuyện gì chứ chuyện nhỏ ấy ông biết liệu, mợ đéo phải
dặn! Đậu cam kết, quay mặt dấu nụ cười.. Con nầy ghê
lắm, đéo đùa được với nó!
Sống vợ chồng chính
thức được một tuần, Giang Thanh xác chứng điều cô nghi
ngờ: Những mạnh mẽ ồn ào về “đéo” của Đậu chỉ
cốt che dấu: Anh ta không có khả năng hoàn tất “nghĩa
vụ (hoan lạc) làm chồng” - Để được trở nên thành
một người cha theo nghĩa bình thường. Đậu bào chữa (khuyết
điểm) của mình với nụ cười xuôi xị: Ông chỉ có cái
mồm thôi, mợ đừng phiền! Nhưng chính khi Đậu bộc lộ
điều yếu đuối tội nghiệp nầy với nụ cười ngây ngô
con trẻ (rất hiếm hoi) thì lòng Giang Thanh lại lắng xuống..
Cô nói lời an ủi: Cũng chẳng quan trọng lắm, miễn là bố
yêu thương, che chở mẹ con tôi.. Bố cứ việc ‘đéo” ở
đâu như bố muốn từ trước đến nay, đừng đem gái về
nhà, đừng rước bệnh vào người chỉ làm khổ thân, và
xấu mặt tôi..
Để trả ơn sự thông
cảm rộng lượng của vợ, ngày hôm sau Đậu mang giỏ đi
chợ với cách hân hoan, nụ cười rộng mở kéo đến mang
tai.. Tôi đi chợ về nấu ăn cho mẹ con nó. Lần đầu tiên
Đậu mua những món rau, đậu, củ.. Đậu giải thích với
người bán hàng: Tôi mua những thứ nầy nấu canh cho con bé
ấy mà. Cũng là lần đầu anh không xử dụng chữ “đéo”
trong lời nói. Và Giang Thanh thật tình cảm động khi Đậu
lóng cóng bưng tô canh lên cho hai mẹ con.. Ông cả đời chỉ
biết làm món nhắm, đây là lần đầu tiên ông phải làm
“nội trợ” hầu mẹ con nhà mợ. Đậu cười rộn rã, hào
hứng ngồi xuống với bé Thanh Giang.. Để bố cho mầy ăn
nhá. Giang Thanh cười vui trong ánh mắt, cô nhủ thầm: Thôi
thì lão có dở chứng gì mình cũng phải bỏ qua cho yên nhà
lợi nước, chỉ mong được bình an thế nầy..
Nhưng sự cố gắng (có
thiện ý) của Đậu bị lung lay sau lần xong trận tình cực
độ thoả mãn (bởi không phải chịu trách nhiệm, ràng buộc
bởi nghĩa vụ/ý nghĩa làm chồng) với nữ nghệ sĩ Xuân Hồng
ngôi sao văn, thơ, ca nhạc từ Hà Nội vào công tác thành phố
mang tên Bác. Nữ sĩ châm điếu thuốc Điện Biên bọc giấy
bạc (thuốc là cao cấp nhất do Hà Nội sản xuất).. Vất
đi, hút thứ ba số nầy (Thuốc lá nhập cảng, Hiệu 555),
ngủ với ông mà hút đồ nhà quê mang từ Hà Nội vào là
chưởi ông không bằng.. (Thật sự Đậu chỉ muốn chứng
tỏ cách ăn chơi của “người Sàigòn để chộ người
ngoài ta mới vào” chứ không có ý định bĩ thử cô nữ
sĩ). Nhưng Xuân Hồng không phải tay vừa.. “Ông mã mẹ cả
nhà anh.. Ba số với chẳng là ba số. Mồm anh chẳng ăn mắm
tôm thịt chó, hút thuốc lào suốt cả mấy mươi năm hay sao..
Nay vừa được hầu con đĩ không chồng mà chửa, xin được
chân bưng bô nhà nó đã quên mất ‘tính cách mạng trong sáng”
của cán bộ văn hóa tư tưởng như lời anh thường lên lớp
dạy chúng tôi.. Anh biết nó mô tả anh như thế nào không?
Nó nói gì? Đậu ngồi nhỏm dậy. Nó bảo anh là thứ gà trống
thiến, chỉ được cái mồm! Đậu có thể bỏ qua nhiều chuyện,
nhưng bởi cô nữ sĩ vốn rất tinh nên biết đánh trúng ngay
“tử huyệt” đối thủ.. Nó bảo như thế à? Đậu như
ngồi phải đống lửa. Nó chẳng bảo thì ai mà biết ra, kể
cả màn anh bưng bô hầu mẹ con nó. Đậu chống chế trống
không, yếu ớt.. Vừa vừa thôi, liệu cái mồm! Cô nữ sĩ
ỡm ờ.. Anh bảo nó với anh giữ mồm với nhau chứ bảo được
ai.. Mà cũng lạ, người như anh sao mà dễ bị xỏ mũi đến
thế? Tôi cứ ngỡ anh cao như núi, ai ngờ chỉ là một hòn
đất.. Xuân Hồng biết nâng lên và đạp xuống. Đậu cáu
kỉnh: Đéo đứa nào xỏ mũi được ông, ông không phải là
loại người chui vào gầm giường la lối, đưa mông ra để
đứa khác đá đít.. Đứa nào giỏi “quay” được ông,
vì thương tình thì ông chịu nhũn thế thôi. Xuân Hồng xoay
qua vấn đề “chí tử” thứ hai.. Kể từ ngày lấy ông
nó đã tiêu hết mấy cây vàng.. Đòn quả rất hiệu lực.
Đậu ấp úng.. Chuyện ấy liên quan gì đến cô. Nữ sĩ cười
nhạt.. Không liên quan đến tôi, nhưng nói ra để báo cho ông
rõ, cả Hà Nội người ta đang bàn chuyện: “Thằng Đậu
đéo” (xin lỗi cho tôi nhắc lại đúng nguyên văn..) dở trò
lưu manh lấy được cái nhà của con Thúy Hương nay lại đi
cúng cho con Giang Thanh để được cái tiếng làm chồng hờ..
Mẹ kiếp, người như em đây cũng chỉ mong được tiếng về
làm dâu nhà “Họ Lê Thanh Hóa” của bố.. Bố đâu phải
là thằng nhỏ, con sen xách làn đi chợ về hầu mẹ con nhà
nó, dọn cứt chó, cho mèo ăn.. Được bố làm chồng, cố
vấn đường chữ nghĩa, em được giải thưởng văn học hội
nhà văn liền một khi. Bố là một bậc thầy cơ mà!
Đậu lụp chụp bỏ
áo vào quần, điếu thuốc ngậm ở miệng rung rung, đẫm ướt..
Địt mẹ chúng mầy cả lũ.. Nầy, muốn chưởi về nhà anh
mà chưởi, tôi không phải là cái thùng rác để anh trút xuống
những thứ thổ tả của nhà anh.. Xuân Hồng rít giọng. Rồi
sẽ biết tay ông! Đậu quyết chí. Ông là cái đéo gì mà
biết với chả biết! Xuân Hồng đổ tràn ly nước khiêu khích.
Đùng đùng chạy xuống cầu thang, Đậu lẫm bẩm.. Địt mẹ
chúng mầy.. Địt mẹ chúng mầy!
Nhưng khi Đậu bước
chân vào nhà thì Giang Thanh đã ra tay trước.. Chén, dĩa, đồ
sành, đồ sứ, gương soi, tủ kính, cửa sổ, bàn trang điểm..
Tất cả đã trở thành một đống vụn lỡm chởm vươn vải
đầy nhà. Cô nói sắc gọn: Thằng khốn, tao đã truyền đời
cho mầy từ ngày đầu tiên.. Mầy có quyền đi “đéo” bậy,
nhưng cấm làm nhục mặt tao. Con đĩ Xuân Hồng đã đi rêu
rao khắp những nơi tao quen biết, là tao chịu lấy mầy chỉ
cốt chiếm cái nhà do mầy cướp được qua vụ dàn cảnh
con Thúy Hương ngủ với thằng thợ chụp hình.. Tao lấy mầy
là vì vàng, dẫu con buồi thối của mầy vất ra chó cũng
chê, cái mặt mầy ác như con chó ngao.. Nhà nào.. Vàng nào..
hỡ?!
Giang Thanh trở nên là
“kẻ thù” vì đã bày ra những “nhược điểm” chí tử
không thể bù trừ, chuyển đổi của Đậu. Nhưng dẫu là
kẻ bản lĩnh do gian nan cảnh khổ tôi luyện nên thành, cô
vẫn nguyên vẹn tâm chất chân thật, mẫn cảm của một nghệ
sĩ vốn xuất thân từ gia đình thế giá, văn hóa thuần nhã,
cô không thể tưởng ra, lường trước những tình huống ti
tiện hèn hạ, thủ đoạn ác độc hơn một cơn giận. Nên
sau khi ra tay tàn phá, và thấy Đậu im lặng quét dọn với
cách thức chịu đựng, hối lỗi.. Tất cả vật dụng bị
đánh vỡ dồn lại hai cần xé lớn, Đậu cố sức xoay xở
nhưng không thể xê dịch, chiếc kính trắng gãy gọng đong
đưa một bên tai, đầu tóc rũ rượi.. Giang Thanh cảm thấy
ái ngại về hành vi quá độ của mình, cô cười nhỏ, khẻ
gắt.. Xê ra, chẳng làm được cái gì ra hồn.. Chỉ được
cái mồm láo! Và cô hầu như đã quên mất phần lỗi của
Đậu, khi qua hôm sau anh xuất một lượng vàng đi sắm lại
những thứ đã bị đập vỡ với câu tán thán kèm nụ cười
khỏa lấp.. Lần sau có đập vỡ, mợ nhớ chỉ đập cái
nào bằng sành thôi, cái nào đắt tiền mợ tha cho nó! Chẳng
có lần sau nào nữa.. Lần sau tôi đập vỡ đầu anh ra. Và
cô thật quên hẳn tai nạn đã xẩy ra.
Như một cố tật không
thể sửa đổi và cố ý thực hiện, Đậu lập lại thành
tích “đéo bậy” không những một lần nhưng nhiều lần
nhưng với một cách thức khôn ngoan, kín đáo hơn với những
“đối tượng” mà anh cho là “vô hại”.. Anh giải thích
với Giang Thanh: Tôi chẳng thích gì những con mụ ấy, chúng
nó không đáng gót chân của mợ.. Nhưng tôi muốn cho chúng
nó biết rằng người ngoài ta hơn bọn ngụy tất cả, kể
cả cái khoảng trên giường! Giang Thanh trả lời cũng “cực
kỳ”: Chẳng biết đứa nào “chiến thắng” đứa nào..
Ông hơn bọn ngụy cái gì tôi không biết, chứ vụ “khoảng
trên giường” chắc ông thua chúng nó rồi.. Đừng nói phét
với tôi! Thế mợ đã “test” với chúng nó rồi hay sao mà
biết rõ thế? Giang Thanh mau chóng nổi xùng: Tôi chẳng hơi
sức đâu để “tét, tiết” gì cả? Tôi chỉ nhìn dáng ông
đi về sau mỗi lần mà ông gọi là đi “tiếp thu chiến lợi
phẩm của bọn ngụy để lại” thì biết ngay?! Có “chiến
lợi phẩm” nào đi tìm ông lần thứ hai, có chăng là do mấy
cây vàng ông mang từ ngoài Bắc vào còn lại.. Nhưng tôi nói
để ông yên tâm: Con bé lên cấp hai là tôi thôi ông ngay,
vì tôi cũng đã kiếm được căn hộ ở Đường Nguyễn Trãi..
Ông tha hồ đi “trả thù ngụy quân, ngụy quyền” và trả
tiền cho bọn “sản phẩm sa đọa do chế độ Mỹ-Thiệu”
để lại.. Mặc xác ông với cái lũ đàn bà của ông.. Những
“con cháu Bác Hồ” hay “tay sai Mỹ-Thiệu” đối với tôi
chẳng khác gì nhau..
Những đối thoại kể
trên có kết thúc tại lần Giang Thanh trình ra tờ giấy ly
dị với lỗi phần “người chồng phạm tội ngoại tình”.
Đậu ngẫn người, hỏi câu thành thật: Làm sao.. làm sao mợ
có tờ giấy ấy? Giang Thanh từ tốn, cặn kẻ, dứt khoát:
Tôi cấm ông xử dụng lối cậu, mợ, anh, em.. với tôi từ
nay. Ông hỏi tôi làm sao có cái giấy nầy chứ gì.. Vậy là
ông chẳng nhớ những thành tích “trả thù (vợ, con) bọn
ngụy quân, ngụy quyền” đã khoe với tôi hay sao.. Ông dạy
cho tôi nhiều điều, tôi phải học được đôi phần. Ông
muốn nghe lại những thành tích kia không? Tôi đã sang ra nhiều
cuộn băng, nghe lại hấp dẫn cực kỳ.. Với cái máy cassette
mà ông khoe đã thâu băng lần làm tình với con mụ vợ bé
thằng cha tổng trưởng ngụy gì đó đi Mỹ để lại trong
biệt thự đường lên sân bay.. Ông nhớ lần ông vừa làm
tình vừa chưởi để con mẹ thêm phần phấn khích không?
.. Thế thì mợ.. Nầy,
đã bảo không “cậu, mợ”! Giang Thanh dứt khoát. Vâng, thế
thì cô muốn gì? Chẳng muốn gì cả, tôi ra khỏi nhà nầy,
không lấy của ông một cái bát, đôi đũa.. Hôm nào mời
ông lên chơi nhà ở Nguyễn Trải, nhà số.. Hẻm 222, số ấy
dễ nhớ..
..Bà cho tôi lên nhà
bà, và bà xuống đây thăm tôi. Tôi van bà.. Tôi biết lỗi..
Cũng đã gần ba năm tôi sống với bà.. Tôi không thể không
có bà và con bé.. Bà hiểu tôi.. Tôi không thể sống một
mình! Đậu quỳ xuống hôn lên chân Giang Thanh.
Đấy là tôi nói riêng
với ông, người ngoài không ai biết.. Chẳng tốt lành gì
việc nay bỏ người nầy, mai đi lấy người khác. Đến khi
nào ra khỏi nước với con bé, tôi sẽ tuyên bố công khai,
rồi mọi người nghĩ sao tùy ý họ.. Sau khi mẹ con tôi dọn
đến nhà Nguyễn Trải, ông muốn xuống ăn cơm thì gọi cho
biết trước, hoặc tôi lên nấu nơi nhà nầy nếu hôm ấy
tôi rảnh rỗi. Coi như hai vợ chồng ra riêng vì công việc..
Đậu úp mặt trên chân
Giang Thanh rất lâu tỏ ý hàm ân, thống hối.
Đoạn kết:
.... Thôi thì
như thế cũng được, nhỏ chị mầy cứng cỏi, khôn ngoan
thật. Người nghe chuyện thở dài, nói gắng gượng tuồng
như kiệt sức sau chặng đường quá vất vả. Nhưng cuối
cùng cũng không như mầy nghĩ đâu.. Trời đất lại còn gì
nữa đây?! Người bạn lên tiếng than như thấy ra tai họa
trước mắt với chính mình.
1995. Tháng 11, Đậu đến
nhà Nguyễn Trải với một người Pháp đứng tuổi, tóc trắng
sáng gợn sóng úp sát vào đầu quý cách, hào hoa. Anh ta xử
dụng một ngôn ngữ Pháp thoại với văn phong đúng trường
quy thông dụng buổi đầu thế kỷ ở những trường Pháp-Nam
trên toàn cõi Đông Dương.. Đây là người đàn bà rất xứng
đáng để nhận lãnh tất cả những ân huệ tốt đẹp nhất,
và tôi là một một kẻ đàn ông tồi tệ không xứng đáng
với người đàn bà cao thượng nầy. Ông.. Phải, chỉ chính
ông mới là người định mạng đặt để bên cạnh bà ta
với tất cả sự thích hợp tuyệt vời nhất.. Tôi xin kính
cẩn trao lại cho ông phần thưởng mà Thượng Đế luôn giành
cho người có lòng tốt.. Giang Thanh không rõ hết nội dung
lời của Đậu nhưng cô hiểu nghĩa của những tỉnh từ “admirable,
respectable, noble..” được lập đi lập lại nhiều lần trong
câu nói, và thái độ trang trọng của người khách khi nghe
đến chữ “Dieu”, đồng thời cúi xuống cầm tay cô với
cách điệu phong nhả.. Ông nói gì với ông ta tôi nghe không
hết, nhưng tôi hiểu được ý chính.. Vậy ông ta là ai? Muốn
gì? Đây là ông tổng thanh tra của hãng làm lốp ô-tô Michelin,
ngài Paul de Lucassan sang Việt Nam để làm việc với chính phủ
ta xem lại việc quản lý các đồn điền cao su, liên doanh
mở nhà máy sản xuất lốp ô-tô.. Sản xuất lốp ô-tô, lốp
máy bay thì liên quan gì đến tôi? Có, nên tôi mới đưa lại,
ông ta có coi phim “mợ” đóng mấy năm trước, vai
Bà
Mẹ Bất Khuất.. Và ngõ ý muốn gặp “mợ” để
bàn chuyện lâu dài.. Lâu dài là làm sao? Xin cưới “mợ”
và đưa về Pháp! Ông bán tôi đấy hả? Không, không bao giờ,
“mợ”
hiểu tôi không đúng. Tôi là người trí thức xã hội chủ
nghĩa, là cán bộ văn hóa nhân bản cộng sản.. Bây giờ đến
lượt ngài, tôi xin ra ngoài kia. Đậu xoè bàn tay lịch thiệp,
nhún nhường.. Lucassan cố gắng diễn đạt với những từ
ngữ giản dị nhất, hai tay đặt trên ngực thành thật,
thắm thiết.. Thưa bà, tôi quá già, năm mươi tuổi, đã hai
lần ly dị, tôi mệt mỏi, không thích làm kẻ phiêu lưu tình
ái.. Tôi xin bà bàn tay.. Quand, et comment.. Giang Thanh ấp úng,
cô khai triển tối đa khả năng và tỷ lệ phần máu lai Pháp
di truyền trong người.. Ông Đậu, ông vào đây.. Ông nói hộ
tôi về phần con Thanh Giang. Đậu mau mắn chạy vào với dáng
điệu hăm hở, chủ động.. Chuyện ấy mợ khỏi lo, tôi đã
nói trước với ngài Lucassan, trước mắt mình chỉ lo đám
cưới, mợ chịu phần tổ chức tiệc cưới, tôi trách nhiệm
việc giấy tờ, visa để mợ theo ông ấy.. Mợ đi trước,
sẽ làm nghi lễ Công Giáo nơi nhà thờ họ đạo riêng của
gia tộc ông ấy, xong đưa con bé qua sau.. Đi trước là thế
nào? Khi nào? Thứ hai, bây giờ là thứ tư, chỉ còn mấy ngày
để lo bao nhiêu việc.. Thứ bảy, chủ nhật đám cưới, mợ
mời họ hàng từ Hà Nội vào càng đông càng tốt.. Lấy cái
gì để lo đám cưới như chạy tang như thế? Tiền, tiền
đô, đô-la Mỹ.. Đây, đây ông ấy đưa trước năm ngàn..
Đậu đếm rõ từng tờ 100 Đô trước mắt người chồng
(tương lai) của Giang Thanh. Và Giang Thanh quả thật không thể
lường ra sự việc khi Lucassan đeo vào ngón tay cô chiếc nhẫn
với hạt kim cương lóng lánh nổi gồ lên.. Cô không hiểu
tại sao chiếc nhẫn vừa khít với ngón tay cô (vốn lớn hơn
của phụ nữ Việt bình thường), nên cũng không để ý về
cách xưng hô (cố tình với danh xưng “mợ”) của Đậu..
Tại sao nó vừa thế nhỉ.. Cô băn khoăn xoay xoay chiếc nhẫn.
Đậu tin ý, có liền lời giải thích: Thì tôi lấy cái nhẫn
mợ giả tôi năm kia làm mẫu.. Để mợ hiểu tôi yêu mợ
như thế nào. Chiếc nhẫn nầy đến hai mươi-lăm ngàn đô
kia đấy, đắt nhất của tiệm kim cương nơi IMEXCO, phố Nam
Kỳ Khởi Nghĩa.
Khi người khách và Đậu
đi khỏi, Giang Thanh ngồi im, lắng xuống với câu hỏi: Tại
sao lão ấy tính trước tất cả thế nhỉ? Cô ngạc nhiên
với thái độ gần như thụ động của mình.. Nhưng khi nghĩ
đến tương lai (rất cụ thể) bé Thanh Giang được ra khỏi
nước du học, cô như được truyền nhận một năng lực mạnh
mẽ - Điều nầy giúp cô lấy lại sáng suốt, tính thực tế
hằng có. Cô cầm máy điện thoại.. Ông Đậu đấy hả..
Tôi muốn hỏi vài điều.. Đám cưới ai chủ hôn, những điều
kiện pháp lý về hôn nhân như quản lý, thừa kế tài sản,
của hồi môn.. Đành rằng năm ngàn đô Mỹ, chiếc nhẫn hột
xoàn là món tiền lớn, nhưng thân tôi, đời con tôi không
thể được trả bằng những món tiền, của ấy.. Còn nhà
cửa, nữ trang, bé con tôi ai sẽ giám hộ ngày tôi ra khỏi
nước? Tiếng Đậu tự tin chắc nịch.. Tôi, tôi lo tất..
Tôi đã lo hết giấy tờ, hộ tịch, giấy kết hôn, điều
kiện quản lý, thừa kế.. Kể cả cái két sắc ở ngân hàng
để mợ đăng ký gởi tài sản, giấy chủ quyền nhà cửa
của mợ.. Ai giám hộ con bé ngày tôi đi để sau nầy đưa
nó qua cho tôi? Giang Thanh hỏi dồn quyết liệt. Tiếng Đậu
dứt khoát: Tôi, tôi biết nó chưa tới hai mươi tuổi, thế
nên phải làm gấp đám cưới trước ngày sinh nhật của nó..
Nó sinh ngày 28 tháng sau, 28 tháng 12..
Bỏ ống điện thoại
xuống, Giang Thanh trở lại câu hỏi: Tại sao lão ấy tính
trước hết mọi chuyện như thế.. Thôi, để cho con bé được
sung sướng, hạnh phúc ra khỏi đất nước khốn nạn nầy.
Giang Thanh đứng lên cầm chai rượu Johny Walker nhãn xanh - Thói
quen từ ngày cô sống một mình. Cô nhìn lên cuốn lịch, lật
đến ngày Thứ Hai, 28 tháng 11.. Tuần tới mình đi ra khỏi
đây.. Có thật không..?!
Xuống xe lửa tốc hành
từ Paris ở ga Lyon thì Giang Thanh hoàn toàn không còn ý niệm
thời gian, về nước Pháp khi chiếc xe gia đình Lucassan đón
cô bỏ đồng bằng đi sâu hướng núi phía Tây, bắt đầu
lên ngọn đường đèo dốc ngược.. Đây là nhà máy Michelin,
đây là phố chính Montlosier, kia là nhà thờ Notre Dame de Clermont-Ferrand..
Lucassan ân cần, chậm rãi giải thích, chỉ vào khối nhà lớn,
ngôi thánh đường màu đen.. Tất cả nhà cửa, tên của vùng
nầy thuộc về núi.. Tous sont sur des dômes.. Tu sais.. Lucassan
thân thiết cầm tay người vợ mới cưới, hôn những ngón
tay tròn đầy, cắn nhẹ lên đầu móng.. Toi.. tu es aussi un
dôme.. non, la rivière, soong.. soong en montant des montagnes.. Xe ngừng
trước một lâu đài xây dựa vách núi, chung quanh mênh mông
trãng trống, cỏ lau cao gờn gợn uốn sóng dưới cơn gió
buốt sắc của mùa đông.. Lucassan chỉ về một khoảng trống
nhấp nhô những khối đen.. Đấy là nghĩa địa giòng họ
De Lucassan, những người chết từ Thế Kỷ 11 bởi “croisade”
- Tu sais.. “La Croisade pour défendre Le Royame de Dieu..” Giang
Thanh muốn bật cười về hoàn cảnh, câu chuyện đang tiếp
diễn với người đàn ông gọi là chồng. Cô không hề e ngại,
sợ hãi, chỉ lạ lẫm, dững dưng. Nếu đổi tất cả mọi
thứ trên đời kể cả thân xác cô để được ôm con trong
tay một lần.. Ngay bây giờ! Chắc chắn cô không chút ngần
ngại từ chối.
Sau gần một tháng sống
nơi xứ người, lần đầu tiên Giang Thanh có lại được sự
năng động hứng khởi đấy là một ngày gần ngày Lễ Giáng
Sinh, ngày 22 thứ Sáu. Ngày rất lạnh, ngọn đồi đóng băng
trắng xóa vào buổi sáng, chỉ chút nắng heo hút vào buổi
trưa. Nhưng là một ngày vui – Vui nhất vì cô sắp được
nghe tiếng con từ bên kia quê nhà, cách nửa vòng trái đất..
Giang Thanh theo chồng xuống phố Clermont - Ferrand để gọi điện
thoại về bé Thanh Giang.. Đấy là tượng Vercingétoric, tổ
phụ người Gaulois.. Lucassan chỉ lên một khối tượng người
cởi ngựa hùng vĩ.. Kia là Blaise Pascal nhà khoa học, tư tưởng
siêu việt của người Pháp.. Ông lộ vẻ cung kính ngưỡng
mộ khi vòng qua vườn hoa nơi có bức tượng người đứng
trầm tư. Nhưng tất cả đều là vật vô tri, vô nghĩa đối
với Giang Thanh, bởi cô đang thấp thỏm, nôn nao trong cơn chờ
đợi tưởng như sắp nhận được, chứng kiến phép lạ..
Giang Thanh nén thở, hồi hộp theo dõi câu chuyện giữa Lucassan
và nhân viên bưu điện khi người nầy loay hoay với cuốn
sổ lớn ghi danh mục những tổng đài quốc tế.. Impossible..
Impossible.. Quel est la cité de Ho.. Và cô vỡ oà niềm vui kích
ngất khi nhân viên bưu điện chuyển ống điện thoại với
tiếng thở hắt thành công.. Tiens.. lui voilà.. Con hả.. mẹ
đây.. Giang Thanh bật khóc khi nghe tiếng nói bên kia nửa vòng
trái đất.. Mẹ..mẹ.. Mẹ không được khóc.. Con bình an,
con chỉ cần ít tiền để đãi bạn sinh nhật con sắp tới..
Mẹ yên tâm, con không sao cả.. Không, con không hỏi bác ấy,
con không thích gặp bác ấy.. Con chỉ xin mẹ.. Giang Thanh cuống
quýt không hiểu tình thế gì đã xẩy ra giữa con bé và Đậu..
Con nghe mẹ, mẹ không tiếc gì với con, tất cả là của con,
nhưng trước khi ra khỏi nước mẹ đã uỷ quyền cho bác ấy
bởi con chưa đến hai-mươi tuổi.. Vâng, vâng mẹ hiểu con
sắp sửa hai-mươi tuổi, mẹ sẽ về với con ngay sau khi xong
giấy tờ bảo lãnh.. Vâng, vâng, sinh nhật con mẹ gọi lại..
Mẹ nhớ con.. Việt Nam cách đây bảy giờ, mẹ đã biết cách
gọi cho con.. Giang Thanh lẫn lộn giữa đáp và hỏi, cô cũng
không hỏi rõ tại sao con bé có bất đồng gì với Đậu..
Cô mất hẵn bình tỉnh, sáng suốt khi nghĩ đến tình cảnh
đứa con đơn độc nơi quê nhà - Tình thế bản thân cô phải
gánh chịu từ năm thơ ấu. Cô thương con bởi nỗi đau xa
cách tàn phá cô lớn hơn bất cứ tai hoạ nào từ trước
đến nay đã gặp phải - Đáng sợ hơn, Giang Thanh cảm thấy
hiện thực một lần ly biệt đoạn đành..
Những ngày Lễ Giáng
Sinh đối với Giang Thanh như một cực hình, khối nặng thời
gian như tảng đá không xê dịch.. Cô di chuyển, cười nói,
ăn uống, cổ khô rốc, tim đập váng vất, tham dự trò vui,
bữa ăn với đại gia đình Lucassan theo lời dẫn của chồng
như một đứa trẻ mắc chứng chậm phát triển, mắt trống
rỗng vô tính nhìn người và việc diễn ra chung quanh.. Sáng
ngày 28 tháng 12, cô dậy từ lúc rạng đông, trời rét đậm,
nhìn ra những tầng mây màu chì phủ mờ đỉnh núi.. Giang
Thanh thấy ra hình tượng những mộ huyệt. cô không dám nghĩ
tiếp. Khi cô ngỏ ý Lucassan đưa cô xuống phố, đến nhà
bưu điện thì cuộc xung đột âm ỉ từ bao ngày qua nổ bùng
không thể che dấu..
- Em gọi tôi là gì..
- Là chồng.. Giang Thanh
nhìn thẳng mắt người hỏi không e ngại,
- Vậy em là vợ tôi,
người vợ tôi lấy trước mặt Chúa. Lucassan cảm thấy bị
xem thường bởi cách nhìn không khoan nhượng từ người vợ
mà ông nghĩ phải chịu thái độ khuất phục biết ơn..
- Tôi biết, nên tôi
làm tất cả mọi việc trong nhà nầy.. Không phải cái nhà
mà là một lâu đài lớn, tôi nấu những món mà ông thích
- Việc ấy của quản
gia, người giúp việc, người bếp.. Người vợ phải thỏa
mãn ý thích (ý muốn, “le désir” – Lucassan nhấn mạnh)
của người chồng. Nhưng em là một cái tủ lạnh.. Không,
đúng ra là một tủ đá di động. Em nhìn tôi với tất cả
người gia đình tôi với đôi mắt bằng sứ. Điều nầy không
phải một lần.. Nhưng lập lại mỗi đêm, lễ Noel vừa qua
là một bằng chứng cụ thể..
Giang Thanh cười nhạt..
Ông hiểu tôi không thể vui với gia đình ông, họ nói gì
tôi không biết, tôi người đạo Phật, tôi không biết đọc
kinh đạo Chúa. Hôm đám cưới nhà thờ, cha xứ cũng thông
cảm với tôi. Còn chuyện liên hệ vợ chồng mỗi đêm, tôi
không thoả mãn ông theo cách ông yêu cầu được.. Tôi là
đàn bà Á Đông, tôi không biết những “kỹ thuật”.. Và
tôi đang nhớ con tôi. Tôi sống cũng như chết. Giang Thanh cố
gắng diễn đạt ý nghĩ với khả năng Pháp ngữ thâu nhận
được sau một tháng chung sống. Nhưng do bởi là một diễn
viên, đạo diễn sân khấu, phim ảnh, cô vốn có khả năng
thẩm âm, và phát âm rất chính xác..
Lucassan biết không thể
nói gì hơn.. Ông ghìm xuống tức bực, theo cách lịch sự
của người Pháp có văn hóa cao, chuyển giọng bình thường:
Thế bây giờ “bà” muốn gì? Từ “bà” được nhấn mạnh
tỏ vẻ cách biệt, dững dưng..
- Ông giúp tôi xuống
phố, đến nhà bưu điện. Tôi cần gọi điện thoại cho con
tôi, hôm nay là sinh nhật của nó.
- Tôi chỉ có thể giúp
bà vào buổi chiều, sau 4 giờ, tôi còn nhiều việc phải làm
sau ngày lễ..
- Không được, buổi
chiều thì đã quá khuya bên ấy, bưu điện lại đóng cửa..
- Tôi đã nói, tôi cần
làm việc.. Bà đừng quấy rầy tôi!
Giang Thanh quay ngoắt
bước ra khỏi phòng.. Cô gầm lên.. Tao đếch cần đứa nào
khi thay đội giày cao cổ đế thấp. Cô đi như chạy xuống
chân đồi, khi đi ngang qua cột cây số với bảng chỉ đường:
Clermont – Ferrand, 11 Km.. Có là một trăm-mốt tao cũng đi được
như thường
Giang Thanh tìm được
nhân viên bưu điện giúp cô ngày hôm trước.. Bà muốn gọi
đứa bé hả.. Ông Lucassan đâu rồi.. Cô nén cơn xúc động..Hôm
nay sinh nhật con gái tôi.. Tôi muốn nghe tiếng nó, ông giúp
tôi, tôi rất cám ơn.. Cô đưa hai tay ra nắm tay nhân viên
bưu điện khẩn thiết.. Chuông reo liên tục không trả lời..
Ông thử thêm lần nữa giúp tôi.. Quái, con bé đi đâu?! Giang
Thanh thất sắc. Nhân viên bưu điện bối rối, tuyệt vọng..
Đây, đây ông giúp tôi gọi số nầy, cũng ở cité Ho.. Đằng
giây bên kia Việt Nam có tiếng Đậu.. Tiếng từ điạ ngục,
của quỷ.. Bé nó đi rồi! Hả? Đi đâu.. Con bé đâu!.. Giang
Thanh buông ống điện thoại, ngã sấp người trên đất.
Một năm sau, Giang Thanh
phục hồi trí nhớ, ly dị Lucassan, về ở hẵn Việt Nam. Cô
nhớ lại yếu tố mật mã, mở được két sắt ngân hàng,
nhưng tất cả nữ trang, hồ sơ địa bạ căn nhà đường
Nguyễn Trải đã bị lấy mất. Cô cũng biết chi tiết, đêm
sinh nhật bé Thanh Giang đàn mèo ở nhà kêu thảm thiết.. Và
hàng xóm ngỏ 222 Nguyễn Trải thấy bé đi ra khỏi nhà từ
chiều tối với áo quần đẹp, nét mặt tinh anh rạng rỡ
như thiên thần. B |