I.
Hãy phá bỏ những “đồi
hoa sim”,
chốn hoàn toàn không có.
Hãy vất đi bó “hoa diêu
bông”,
hoang tưởng chưa hề mọc
trên đất.
Lềnh lầy phó sản phẩm hỗn
âm,
chạy chợ trời từ những
gã rao bán đồ rong,
móùn hàng “văn hoa tự tình
dân tộc”.
Bày biện lu loa miệng lưỡi
nguỵ danh.
Dài nghiệp nạn quê hương
suốt hơn nửa kỷ.
Đừng kể ra làm gì,
“cô gái đi chùa Hương, tà
áo xanh, đôi guốc mộc..
Lễ hội Hà Sơn Bình; Quan
họ, hát chèo Bắc Ninh, Kinh Bắc. .”
Những loại, vật, người
mốc meo, tồi tàn, vô dụng..
Tiếng hát, lời ca bất nhẩn,
Trên thây ngàn con người sóng
bạt thảm vào đảo Bidong.
Ngã phía Bắc qua vùng bạch
hóa Móng Cái - Quảng Đông,
Cha ăn thịt con đặng cầm
hơi vượt sống.
Dọc đường vượt biên năm
“Tám-mươi” mẹ đẻ vất bên rừng,
nay nên gái bán dâm,
lên giường giành riêng khách
chơi tuổi ngang ông, cha, chú..
Ở Nam Vang,
Nơi “Thành phố Bác”,
Đầy cảng Hải Phòng,
Chật thủ đô Hà Nội.
Góp mặt đủ bầy lũ già
nua cuồng dâm sống còn từ “cách mạng mùa thu”,
tiếp lần “xẻ dọc trường
sơn đi cứu nước”...
Sau bao trận liều mình,
“dinh tê; vào Nam; bỏ xứ
tìm tự do.. Nhập cư Úc, Pháp, Mỹ”.
Lập đúng phương trình,
“Chống Cộng = Tờ đô-la
chập miếng lá đa”
Lời ngang ngược cuối cùng
chúng thách đố kiêu ngạo la to.
Khinh mạn, vô ơn lòng thắm
thiết nhân hòa,
Vạn triệu người khốn cùng
hai vùng đất nước Việt.
Bất kể trái tim gào đau,
bao kẻ tan thân chìm đáy biển,
Hai triệu người vượt biên,
Sáu trăm ngàn người chết!
Tự Do! Tự Do!
Hãy phá nổ tung cây Cầu Công
Lý,
cùng lần xóa tên anh thợ
điện bất cập phong thánh, thành thần.
Gã nhạc sĩ da vàng kia khỏi
phải vong thân lên Tân Sơn Nhất.
Khóc!
người vừa nằm xuống.
bỏ chim,
bỏ bạn,
bỏ rượu,
bỏ cuộc tình chưa nên tử
tế.
Bởi không hề là kẻ có lòng.
Anh cứ tùy nghi đi về một
cõi cô đơn thân phận, vụn vặt ái tình,
Anh không thể nhập nhằng
chung buổi thai sinh,
(với Chúng Tôi)
Chỉ Một Lần.
Từ Mẹï.
Mẹ – Bộ đội cộng sản
lấp ngang, chôn ngược“Mậu Thân 68” ở Huế!
Mẹ - Cán bộ cộng sản đấu
tố chết,
hồi “Năm-ba” phát động
phong trào cải cách, tập trung sưu thuế!
Mẹ còn đâu?!
Hở mẹ nào..
Ngồi hầm sâu hứng pháo cộng
hòa,
may cờ sao,
đợi ngày giải phóng?(5)
Mẹ – Đi tìm đầu con Tây
chặt đoạn,
cắm ngọn phơi khô nắng gió
Gio Linh,
tiếp di tản “Bảy-hai”
qua chín cây-số đường đỏ lửa kinh hoàng,
Nam La Vang, Quảng Trị.
Sư đoàn 308 miền Bắc dập
pháo, giương nòng bắn thẳng
Giết! Không nương tay.
Giết! Không chớp mắt.
Mẹ đã Chết.
Mẹ thật Chết.
Mẹ chết trần truồng không
người tẫm liệm.
Mẹ chết oan khiên không kẻ
gọi hồn.
Nơi đâu “Mùa Thu Hà Nội”?
Ở đâu “Mùa Đông đan áo
thương binh”?
Hãy chỉ ra!
Hóa thật rặc ròng tiếng
lời âm ma, giọng quỷ,
Diễn chung tuồng đám “giả
hành” đa quốc tịch chuyên nghiệp mạo danh,
Lời sói lang ngụy trang Ý
Phật .
Chúng ta phải một lần thanh
toán.
Ngay hôm nay.
II.
Ngày 20 tháng Bảy.
Chặt đứt thân Tổ Quốc.
Đủ danh biểu cộng hòa, cộng
sản, tư bản, công nông,
Nghĩa là toàn thể tập đoàn
sát nhân nại danh chủ nghĩa đại đồng.
Nghĩa là tất cả bầy lũ
giết người lấy cớ hòa bình tiến bộ.
Và đồng bọn tay sai gia công,
giá rẻ,
Đeo dày cánh sao, ngực nặng
huy chương,
Vành nón xum xoè hoa lá.
Hai, ba phía quân, quyền không
một tên vắng mặt.
Mắt che kín, bưng tai không
nghe ra khốc âm gào ngất
Chật lũng sâu thây lính ngỗn
ngang
Dưới cánh B52 trải thảm.
Sau cơn pháo 130 ly cường tập
xung phong.
Chết hờn oán,
Chết bất ngờ, trợn tròng
mắt không nhắm.
Thịt xương đã một lần
trộn mùn đất Hồng Cúm, Him Lam.. (1)
Nay lấp kín sườn đồi dài
suốt vùng Khe Sanh, Lao Bảo. (2)
Dậy bãi lửa, đuốc thân
người rừng rực..
Ai có nghe ra?!
Hở mẹ cha đâu?!
Cộng sản, cộng hòa tất
cả đã là vô ích.
Độc lập, hạnh phúc bày
toang, phơi ngang bằng trong cái chết.
Chết nơi Charlie, chết ở
An Lộc, chết dọc Chu Pao.. (3)
Còn nơi chốn nào bình an?
Có cái chết nào không bào
gan, đoạn ruột?
Năm-mươi năm hơn nào phải
vài buổi chiều hôm..
Sao không hiểu ra những định
nghĩa hàm hồ,
Sao không vất bỏ thứ loại
phân chia đơn giản..
Chúng tôi không hề là ngụy
quân đi lính thiệu-kỳ!
Cớ sao anh lại hân hoan sẵn
sàng bị giết,
Để sáng danh xưng đồng,
chinh, giáp, duẩn?
Kể cho cùng Hồ, Mác, Lê-Nin!
Cớ sao không thấy?
Cớ sao không biết?
Im lặng đồng thuận quá lâu
hẳn biến nên thành bản thể
Toàn dân tộc bị xô vào bãi
lầy đỉnh cao trí tuệ
Xây tượng đài quá khứ –
Xác quyết tương lai,
Hồ hỡi mừng vui bão bùng
dậy tràn miệng ly nước cặn.
Đã rất lâu..
Quá năm-mươi năm,
Không dấu hiệu chấm dứt.
Do chẳng có khởi đầu!
Miền Nam dẫu ba-mươi năm
cam chịu toàn phần thất trận.
Ở đâu gọi là “Cách mạng
mùa Thu tháng Tám”?
Ở đâu giá thành chung kết
“Đại thắng mùa Xuân”?
Có chăng chỉ âm động sát
nhân,
vọng vang từ bài hát tiến
quân lênh láng máu! (4)
Viết lịch sử phải với
lòng can đảm.
Học lịch sử hẳn rất cần
trí sáng.
Bắt đầu từ trang khốc nhục
đau thương,
Để mạnh mẽ mở lòng,
Lên đường đổi thay,
Khởi cuộc.
Chứ không bài học thuộc,
Tờ cuối cùng kể tràn chiến
thắng huyênh hoang,
ngập dầm tiếng khóc.
Viết bằng máu, lệ Nhân Dân.
III.
Giác Ngộ Từ Bi, Thái Tử
Tất Đạt Đa nhập đại định bốn-mươi ngày hóa Phật.
Đức Jesus căng thân gánh mười-hai
Đoạn Đường Thánh Giá nên thành Chúa Cứu Thế Ky-Tô.
Sư Tổ Đạt Ma diện bích
chín năm, chứng tận cùng Thiền Lực huyền vi,
xoay chuyển đất, trời dẫu
bao la cũng có kỳø, có hạn,
Nhật, Nguyệt kia phải lúc
tỏ, lúc mờ..
Riêng Việt Nam,
Thê thảm Việt Nam!
Năm- mươi năm hơn toàn dân
tộc trốc ngược, xiên hình trên gai lửa.
Không cơ hội nhìn ra phương
cứu Khổ
Không khả năng vượt thoát
kỳ oán Nghiệp
Hiểu tận sâu nên kinh hãi
sững sờ
(Thậm vô lý tưởng không
thể nào tin,
từng ngày đã, đang hiện
thực)
Trên nếp trán dao cắt mỗi
con người trôi nỗi,
(Phiêu tán khắp bốn phương
trời thế giới).
Hụt hơi thở nặng nề từng
con nhỏ thiếu đói.
Bé chấp tay lạy khách đừng
buộc chước khẩu dâm!
Nỗi đê nhục xé da,
Cô thiếu nữ xa khuất xóm
làng đem thân đi xứ người ở đợ.
Đất bị mất.
Biển, trời thu nhỏ..
“Nhà Nước Ta” là một
Nguyền Rũa tự bản thân.
Tràn đất nước, quê hương
bày đỏ, vàng.. lòe loẹt
Tất cả từ một nguyên nhân
Thậm tệ vô vàn kỳ cục:
Tổ Quốc - Chế Độ là Một.
Cơn cưỡng ép miên man bất
nhẩn quá đỗi kéo dài..
Dài theo giòng lịch sử,
Mãi tận hôm nay quá hơn nửa
kỷ.
Điều khốn nhục (được
và bị) chấp nhận toàn phần hợp lý,
Của sự chết.
Mỗi người Việt đi hết
cuộc đời với Tính Ác,
đóng cứng dày, chặn ngang
hơi thở tắt,
Nuốt xuống cam đành ân huệ.
Tưởng được khóc.
Bắt đầu từ ngày 20 tháng
7 hai mươi-mốt năm qua,
không mấy ai để ý,
Tự nhiên như Bất Hạnh của
chính mình.
Để nhớ một “Ngày Oán Nghiệp
20 THÁNG 7”
Lần mở đầu thảm họa Việt
Nam
Colorado, 20 tháng 7, 1954-2005
Phan Nhật Nam.
(1) Hồng Cúm, Him Lam: Những
đồi ác chiến ở Điện Biên Phủ (1954)
(2) Lao Bảo, Khe Sanh: Chiến
trường lớn vùng Quảng Trị (1968)
(3) Charlie (Kontum); An Lộc (Bình
Long); Chu Pao (Pleiku): Chiến trận mùa Hè 1972.
(4) Tiến Quân Ca: Nhạc Văn
Cao với nội dung: “Cờ in máu chiến thắng.. Đường vinh
quang xây xác quân thù..”.
(5) Huyền Thoại Mẹ: Nhạc
Trịnh Công Sơn sau 1975.