Người,
Việc,
Những
Nơi Ðã Sống Qua,
Nay
Nhớ Lại Nhân Ngày Ðầu Năm
Sydney, Uc
Người thổ dân trần trụi
Thổi nặng nhịp kèn buồn
Ðám du khách hăm hở
Tưởng ra trò “dã nhân”
Paris, Pháp
Dưới chân cầu nước cuốn
Dài thế kỷ vinh hoa
Ðám “clochard” hiu hắt (*)
Vô hồi trông sóng xô
(*) Tiếng thông tục gọi dân
bụi đời
Trở lại Mỹ,
Lão khổ đứng góc phố
Giong tấm bảng cơ cầu
Tuyết ngập lún quá gối
Xám đục chòm râu khô.
Gã ngã ngất bên đường
Ðáy quần jean sờn rách
Ðèn xanh, xe qua nhanh
Nào ai hay thảm cảnh.
Và bất cứ nơi
đâu…
ở Việt Nam,
Chồng đạp xe ngật ngật
Lắt lẻo cô vợ què
Ðứa trẻ con bật khóc
Chiều xuống dập mưa giông.
Người lính thiếu hai chân
Nằm đủ tấm ván hụt
Chống lên trời ngón cụt
Không một lời kêu than.
So sánh lịch sử
xưa, nay
Ngũ Tử Tư âu lo vận nước ngỗn
ngang
Thức qua đêm…
Tóc hốt nhiên trắng xóa.
Y sĩ Ðại Úùy Quân Ðội Cộng
Hòa
Tên Kim Long
Người Nam
Họ Nguyễn.
Ngồi suốt ba-trăm sáu-mươi lăm
ngày
của một năm,
nơi Trại Long Giao
Trừng mắt nhìn vũng trống
Mòn khô khoảng chiếu rộng hai
gang.
Chuyển ra Bắc.
Hộc máu tươi,
Uất khí chết dần…
Huyệt cạn vùi hốc núi
Ðêm khuya tăm tối trời không trăng.
Tạm kết luận
do kinh nghiệm sau
”học tập”.
Sự Aùc chỉ tưởng đến
Lòng chĩu nặng muộn phiền
“Bác- chủ tịch vĩ đại”
Tính đủ kế sát sinh.