Nghĩ
về hiện tượng người muốn vất bỏ
Căn
Cước Quân Nhân
(Cập
nhật hóa 23/11/2002)
Những ngày đầu tháng 11 vừa qua
có sự kiện ký giả David DeVoss của tờ báo chuyên về thương
mãi tài chánh vùng Châu Á, Asian Inc’s America có đăng bài
phỏng vấn về dự định của một người muốn về Việt
Nam làm ăn với chính quyền cộng sản ở đấy. Dư luận bùng
lên chống đối, bởi nhân vật kia không phải là một thương
gia vô danh nào đó, và công việc chỉ bao gồm trong dịch cụ
tìm kiếm lợi nhuận. Nhưng đấy là một Tướng Lãnh của
Quân Lực Việt Nam Cộâng Hòa, cũng không phải là một viên
tướng bình thường của riêng giới quân sự, nhưng là Thiếu
Tướng Tư Lệnh Quân Chủng Không Quân, và hơn thế nữa, đấy
cũng là Chủ Tịch Ủy ban Hành Pháp Trung Ương, là Phó Tổng
Thống nền Ðệ Nhị Cộng Hòa miền Nam. Trong sinh hoạt lịch
sử chính trị, quân sự thế giới vẫn thường có hiện tượng
những người trẻ tuổi, thuộc giới quân nhân từ những
vị thế, điều kiện thuận lợi (do hoàn cảnh khách quan,
và phần lớn do nhân vật kia tạo nên) nắm giữ quyền lực,
và từ đó tạo nên những kỳ tích đáng nễ phục. Ðại
Ðế Alexander, khởi nghiệp từ năm 335 trước Công Nguyên đến
năm 323, đã gồm thâu một đế quốc từ Âu Châu đến biên
giới Aán Ðộ, mà chỉ do lời khuyên ngăn của các tướng
lãnh, nên vị quân vương bách thắng nầy đã dừng lại, chứ
thật sự ông đủ sức đi hết vòng thế giới. Sự nghiệp
lẫy lừng của Alexander dựng trên yên ngựa, đầu mũi gươm
vào những năm ông 30 tuổi. Thời cận đại, Việt Nam có Nguyễn
Huệ, Nguyễn Ánh; Pháp với Napoléon. Gần đây, cùng thời
điểm của những thập niên 60, 70, có hiện tượng phổ quát
về những người lính thuộc các nước Á, Phi, Mỹ La-tinh
chuyển hướng hoạt động, tham dự vào tranh chấp quyền lực
nơi quốc gia mình, và sinh hoạt chính trị thế giới: 1961,
Tướng Phác Chánh Hy lên cầm quyền ở Ðại Hàn, Ðại Tá
Quaddafi, Libya năm 1969, hoặc Pinochet nắm giữ vận mệnh đất
nước Chile đầu thập niên 70.. Dẫu thành công hay thất bại,
những nhân vật kia đã một thời chiếm giữ sự chú ý hàng
đầu của công luận thế giới. Tình thế Việt Nam với chiến
tranh cao độ trong thập niên 60-70 càng thể hiện tình trạng
trên rõ nét, cụ thể hơn - toàn bộ sinh hoạt chính trị,
quân sự đã gắn chặt với danh tính của những nhân vật
mang tên "Thiệu-Kỳ"- Những danh tự nầy không còn là
từ riêng để chỉ về những cá nhân, mà đã trở thành tính
từ đặc trưng cho một giai đoạn lịch sử khốc liệt của
Miền Nam. "Chế độ Thiệu-Kỳ"; "Nội các chiến tranh của
Kỳ", "Quân đội Thiệu-Kỳ". Những cụm từ nầy dùng
với nhiều ý nghĩa đối nghịch, bạn lẫn thù đồng xử
dụng. Những ý nghĩa ấy nay đã không còn giá trị, nhưng
danh xưng kia vẫn tồn tại, bởi chúng chỉ một nội dung đích
thực đã xuất hiện, sống cùng vận mệnh, lịch sử Dân
Tộc Việt: Chế độ Việt Nam Cộng Hòa-Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa. Nói như vậy hẳn đủ để trở lại câu
chuyện về một người mang danh tính Nguyễn Cao Kỳ và nội
dung bài báo. Cũng nên nói thêm rằng, chúng tôi và nhân sự
nầy trước kia cũng như hiện tại hoàn toàn không có một
liên hệ, tranh chấp cá nhân trong bất cứ lãnh vực nào, nên
chắc chắn những lời sau hoàn toàn không phải là phản ứng
do từ xung đột giữa những người có chung đối tượng hoạt
động, mục tiêu chiếm đoạt. Chúng tôi thuộc giới truyền
thông, báo chí, hằng mấy mươi năm qua (từ trong nước ra
hải ngoại hôm nay) chỉ có một mục tiêu hành động, và
phục vụ: Truyền thông đến đồng bào mình, cộng đồng
người Việt những điều cần kíp đã, đang xẩy ra có liên
quan đến sinh hoạt, đời sống của mỗi người, với ý nghĩa
trung thực nhất của người làm công tác văn hóa, văn nghệ.
Chúng tôi không hề xử dụng diễn đàn chung để đề cập,
đả kích vụ việc cá nhân. Trở lại sự kiện người tên
gọi Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Tư Lệnh Không Lực VNCH,
Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (1965-1967) và Phó tổng
Thống VNCH từ 1967 đến 1970, chúng tôi sẽ không đề cập
đến những ý kiến của ông ta nói về nguyên do, hậu quả
của việc giao thương buôn bán với chính quyền Hà Nội mà
ông ta sẽ đóng một vai trò trung gian, giới thiệu (theo như
bài báo đã trình bày khá rõ ràng); và cũng thế, chúng tôi
không bàn đến việc"ông ta sẽ về Việt Nam hay không" (theo
như lời đính chánh của Nguyễn Cao Kỳ qua điện đàm với
các ký giả Cao Sơn, Võ Phong (San José). Chúng tôi nói về một
điều cụ thể-
Câu nói của cá nhân Nguyễn Cao Kỳ muốn
từ chối cuộc chiến mà ông ta đã có mặt từ thuở còn
trai trẻ (lúc vừa vào tuổi 20) – cũng là cuộc chiến
mà mỗi người chúng tôi hằng tham dự với tận hiến hết
đời sống bằng máu, thịt xác thân, và trả giá cuối cùng
bằng cái chết.
KHÔNG NHỮNG TỪ CHỐI, MÀ NGUYỄN CAO KỲ
CÒN KHINH MIỆT VẤY NHỤC BẰNG CỤM TỪ TỒI TỆ TÀN NHẪN:
"A DIRTY LITTLE WAR". Chúng tôi muốn nói về nội dung vô lại
rẽ rúng nầy. Cũng trong bài viết đính chính của những ký
giả kể trên hoàn toàn không nhắc đến lời nói bội bạc
đáng lên án kia, vậy chúng tôi có quyền khẳng định: ÐẤY
CHÍNH LÀ NGÔN NGỮ CỦA NGUYỄN CAO KỲ- NGÔN NGỮ CỦA MỘT
KẺ PHẢN BỘI, VÔ ƠN ÐỐI VỚI NHỮNG CHIẾN HỮU- NHỮNG
NGƯỜI LÍNH ÐÃ TRÃI THÂN GIỮ VỮNG MIỀN NAM TRONG SUỐT BA
THẬP NIÊN TỪ 1954-1975 CŨNG ÐỒNG THỜI XÂY ÐẮP NÊN CÔNG
DANH, SỰ NGHIỆP CỦA CÁ NHÂN TÊN GỌI NGUYỄN CAO KỲ. Chúng
tôi không hề quá lời. Sợ rằng không đủ chữ nghĩa để
nói lên hết lòng phẫn nộ – Sự phẫn nộ chính đáng của
Người Lính chiến đấu vì nghĩa vụ cao thượng Bảo QuốcAn
Dân. Cơn phẫn nộ không phải do lần đầu bị xuyên tạc,
mạ lỵ, vấy nhục, bởi chúng tôi đã quen, hằng tập thói
quen chịu đựng tình cảnh bị nhục mạ hạ tiện nầy đến
từ đám báo chí ngoại quốc, các thành phần thiên tả, từ
phiá kẻ thù, kể cả cách đánh giá hàm ý coi rẻ của một
số thị dân Miền Nam trước 1975. Nhưng chúng tôi vẫn giữa
chắc tay súng chiến đấu trong suốt cuộc chiến dai dẵng
tàn khốc, và kể đến hôm nay 27 năm sau ngày mất miền Nam,
sức chiến đấu kia không hề tàn lụi, bởi SỨC SỐNG CỦA
DÂN TỘC VIỆT MÃI BỀN VỮNG, VÀ CHÚNG TÔI LÀ NHỮNG NGƯỜI
LÍNH THUẦN THÀNH CỦA DÂN TỘC KHỔ NẠN SIÊU VIỆT NẦY. Xác
định nầy không do chúng tôi tùy tiện tạo dựng để an ủi
lần thất trận oan nghiệt của mình năm với ngày 30 tháng
Tư 1975, nhưng do hằng hằng xác chứng của cả toàn khối
dân đau thương khi đối diện với cái chết, và gọi lên
sức cứu viện cuối cùng.. Anh Lính cộng hòa ơi.. lính
cộng hòa ơi.. Người dân đã gọi lên như thế trên
chín cây số chết của Ðại Lộ Kinh Hoàng, nam Quảng Trị;
ở xã Xa Cam, cửa ngỏ phía nam của An Lộc năm 72; trên đường
đèo Củng Sơn, Tuy Hòa; dưới chân Hải Vân, địa giới Thừa
Thiên- Quảng Nam tháng 3, 1975. Người dân đã gọi như thế
suốt cuộc máu lửa, trên đường tỵ nạn, di tản, chạy
loạn. Và cả nước sau 1975 khi bị hải tặc Thái Lan bức
hại, bọn cướp Khmer Ðỏ tàn sát, lính cộng sản bắn giết
trên đường vượt biên.. Người Việt đồng hiểu nên, PHẢI
HIỂU nên điều đau đớn: NGƯỜI LÍNH DÂN TỘC KHÔNG CÒN
KHI NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TƯỚC MẤT VŨ KHÍ.. Nguyễn Cao
Kỳ không thể vì một mối lợi (cho dù lớn đến bao nhiêu)
hạ nhục cuộc chiến đấu cao thượng nầy. Và hơn thế nữa,
cá nhân kia cũng chính là người đã thụ hưởng phần lớn
nhất trên bàn tiệc máu của quê hương. NẾU KHÔNG CÓ CUỘC
CHIẾN VIỆT NAM, CÁ NHÂN TÊN GỌI NGUYỄN CAO KỲ LÀ AI? LÀM
GÌ? Ở ÐÂU?
Trong cuộc chiến 1960- 1975, số lượng
thiệt hại của quân chủng không quân quả thật rất ít so
với bộ binh, nhưng số lượng ít ỏi của những người "tự
trời, trong vũng lửa rơi xuống, chết trước khi chạm mặt
đất" nầy đã làm hiện rõ cái chết vĩ đại lặng lẽ của
những người tự hiến - Hiến dâng đời mình cho Tổ Quốc-Không
Gian. Chúng tôi không nói điều văn chương, chữ nghĩa, nhưng
bởi chỉ một năm 1972 thôi, đã từng tận mắt trông thấy
mỗi lần xuất kích của Trần Thế Vinh ở Quảng Trị; Nguyễn
Du, Trịnh Ðức Tự ở mặt trận Quảng Nam- Ðà Nẵng, của
Phạm Văn Thặng "Thặng Fulro" nơi Tây Nguyên. Ba mươi năm sau,
hôm nay khi ngồi viết những giòng nầy, chúng tôi vẫn thấy
ra vũng lửa vàng tươi khi chiếc tàu trúng đạn, và tiếng
bạn kêu cấp cứu qua hệ thống máy không-lục, âm thanh cuối
cùng của người phi công tuẫn nạn bởi đã liều thân cố
bảo vệ chiến hữu dưới đất bằng sự yểm trợ sống
chết, tăng cường khả năng hỏa lực để quân bạn giữ
vững trận địa, thâu đoạt chiến thắng. Thiếu Tướng Tư
Lệnh Không Quân Nguyễn Cao Kỳ không lẽ không biết lần chết
bi tráng của những phi công chiến hữu mình? Phó Tổng Thống
Nguyễn Cao Kỳ lẽ nào không biết đến chi tiết, khi phi công
Ðỗ Hữu Toàn, Toàn "đờn" cố rà sát thân tàu trúng đạn
trên mặt đất ở đèo Khánh Dương, chỉ một vài giờ nữa
của ngày 27 tháng 1, 1973 là chấm dứt "Chiến cuộc Ðông Dương,
tái lập hoà bình tại Việt Nam"- nơi chốn ấy có khu đồn
điền mà sở hữu chủ là chính ông đứng tên khai thác. Và
sáng ngày 29 tháng Tư, 1975 để ông có đủ thì giờ bước
lên trực thăng bay ra Hạm Ðội 7, Trung Úy Nguyễn Văn Thành,
phi công phi hành đoàn Hỏa Long C119 cố bay lên vùng trời Tân
Sơn Nhất, dùng vũ khí cơ hữu của Hỏa Long,chỉ là những
khẩu đại liên Minigun 7.62 ly tuyệt vọng chống trả với
những dàn đại pháo đặt ở Hốc Môn, Bà Ðiểm, kéo dài
phút cuối cùng của Sài Gòn trong cơn hấp hối.. Ðể rồi
toàn thể phi hành đoàn, con tàu, đồng bốc lửa, rã cháy
do một hỏa tiễn tầm nhiệt cắt đôi thân, cánh. Ông có
nghe ra tiếng thét đau thương của người lính không quân,
Phi Công Thành "Mọi" chết trong vũng lửa- Những người chết
cho lần tháo chạy của chính ông? Và ông phải nhớ, Nguyễn
Cao Kỳ phải biết, đúng lúc ông bước chân xuống sàn tàu
USS Blue Ridge là khi chiếc C130 chở toàn bộ sĩ quan cao cấp
của Bộ Tư Lệnh Không Quân đâm vào tòa cao ốc đường Ðồng
Khánh Chợ Lớn. Nguyễn Cao Kỳ, ông nào có biết cái chết
oan khốc thương tâm của người thiêu sống trong lửa ngọn,
những sĩ quan không quân và gia đình của họ. Chắc chắn
rằng trong số những sĩ quan bị thảm sát trong buổi sáng
đau thương ấy không thiếu những người có đủ điều kiện
để vào cơ quan DAO (Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ), để sau đó
bình an ra khỏi nước trước giờ thất trận, đầu hàng theo
lệnh Dương Văn Minh. Nhưng những sĩ quan cao cấp ấy đã ở
lại- ở lại rất đông- phải chăng bởi lời kêu gọi "mở
một trận đánh cuối cùng oanh liệt như Stalingrad" của chính
ông. Nguyễn Cao Kỳ, ông lừa dối người sống, phản
bội người chết. Chúng tôi không thể nói điều gì khác
hơn. Có lẽ trí nhớ của ông quá cạn, trí não ông quá hạn
hẹp - Không dài, lớn hơn điếu thuốc ông hút dối khi đợi
chia những quân bài.
NGUYỄN CAO KỲ, ÔNG ÐẮC TỘI
VÔ CÙNG VỚI ANH LINH CỦA LIỆT SĨ, ANH HÙNG ÐÃ CHẾT ÐỂ
SÁNG DANH CUỘC CHIẾN ÐẤU MÀ ÔNG VỪA TUÔNG LỜI VẤY NHỤC.
CÓ NGHĨA – ÔNG ÐÃ VẤT BỎ CĂN CƯỚC QUÂN NHÂN CỦA MÌNH
- ÔNG KHÔNG XỨNG ÐÁNG Ở CÙNG ÐỘI NGŨ CHÚNG TÔI- NGƯỜI
LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Nếu trở lại Sàigòn, ông sẽ theo
đường Công Lý (cũ) vào thành phố, con đường ngày trước
ông thường đi, về từ nhà, nơi căn cứ Tân Sơn Nhất. Ông
sẽ ngừng lại ở Ngã Tư Công Lý- Yên Ðổ, chắc chắn như
thế, bởi tình trạng kẹt xe, và cảnh tượng giao thông hỗn
loạn kinh hoàng ở Sàigòn bây giờ là một "hiện tượng
có tính cách tất yếu"- ông nên học dăm ba từ ngữ Việt
cộng để chứng tỏ có "tiến bộ" cho họ tin cậy. Nhưng
cũng chắc một điều, người cộng sản không hề tin ông
như chúng tôi, những người lính đã có một lần "tin"-
không lẽ ông không có một tấm lòng?! Ông sẽ ngừng lại,
đủ thì giờ để nhìn vào quán phở Dậu- nơi ấy, khoảng
1966, ông đã từng biễu diễn màn màu mè - ăn cơm nguội
với phở để chứng tỏ ông cầm đầu một nội các của
dân nghèo. Và ông cũng đủ thì giờ để nhìn chung quanh,
xuống lề đường: Ông sẽ thấy những hình nhân mặc áo
lính - áo tác chiến hoa của Biệt Ðộng, Nhảy Dù; chỉ
áo thôi chứ không có quần. Bởi đấy là những
người cụt chân. Cụt cả hai chân - Những
Thương Phế
Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa-
Những người đã tham
dự, thực hiện, bỏ dỡ cuộc chiến mà ông vừa đặt tên
"a
dirty little war"- Cuộc chiến đã đưa ông vào vị trí:
Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nội Các Chiến Tranh.
Chiến tranh nào dơ bẩn hở kẻ gọi là "thiếu tướng
nguyễn cao kỳ?"
Phan Nhật Nam
23 tháng 11, 1961-2002
Người Lính ở đủ 41 năm.
|