NGÀY
THẬT CHẾT VỚI QUÊ HƯƠNG
Hóa ra
cảm giác nhạt nhạt nơi miệng, buồn buồn đè nặng, đau
đau ở trũng ngực làm đứa nhỏ có thói quen luôn rờ tay
lên ngực áo như muốn gỡ đi một khối nặng vô hình dính
sâu đâu trong người, mà sau nầy khi khôn lớn, nó mới biết
đó là vị trí gần quả tim, chặn ngang đường thở. Tâm
cảnh nầy vốn có từ rất lâu,
nên
dẫu vốn tinh nghịch, hiếu động, đứa bé có lúc bất thần
ngồi lặng, rũ xuống; hay đang trong giấc ngủ, chợt giật
mình thức dậy giữa bóng tối với cảm giác lo sợ bồn
chồn - Cảm giác thời thơ ấu còn nhỏ dại nó chưa biết
gọi nên tên.
Hoặc, buổi thanh xuân, đang ở tuổi
hai-mươi nơi trường Đà Lạt, đầu những năm 60. Hằng đêm,
khi bóng tối chìm rét lạnh phủ kín dầy khu rừng phía sân
bắn, đối diện Vũ Đình Trường, anh khắc khoải nhìn ra
hướng vườn Bích Câu nơi xa, đường vòng Hồ Xuân Hương
chập chờn giàn đèn màu tím đẫm lẫn trong mù sương. Và
thế rồi, sinh hoạt ồn ào với đồng bạn bỗng nhiên chững
lại, lắng xuống, mất biến. Anh lần tìm thấy, hiểu ra:
Sẽ chỉ còn một mình với Nỗi Buồn, về một điều Không
Thật. Nhưng quả tình anh cũng chưa biết từ đâu? Là gì?
Tại sao?
Sau những năm kể trên, ra đơn vị,
lần chịu phạt quân kỷ đầu tiên tháng 8, năm 1964 ở Bộ
Tổng Tham Mưu, đường Võ Tánh, Gia Định. Phòng giam mờ đục,
ngột ngạt, suốt ngày nằm dán xuống chiếc giường sắt
lót nệm rơm cũ ẩm, khô khan, anh nghe sự sống bên ngoài qua
tiếng mưa chợt ào đến, vụt tắt dưới mái hàng hiên -
Mưa Miền Nam - Mưa mùa Hè thất thanh, vùng vẫy. Và anh
thấy trước sẽ có một mất mát rất lớn
ắt phải xẩy ra - Mà đã thật xẩy ra như
khi người vô cùng thương mến bỏ đi. Không biết đi đâu.
Tiếp
kỳ bị giam của những năm sau, cũng nơi nầy: Bộ Tổng
Tham Mưu, cơ quan chỉ huy tối cao, cuối cùng của Quân Lực
Miền Nam. Những lần trở lại nơi nầy giúp anh hiểu rõ thêm
cường độ về Nỗi Đau - Cái Đau của Sự Chết - Hiện thực
với khoảng tối của phòng giam tầng tầng chụp xuống, anh
há miệng ra như đang bị bóp cổ, mắt ráo hoảnh trừng trừng
nhìn lên đỉnh chiếc mùng nhà binh - tấm vải trắng nhờ
nhờ như như nắp quan tài.. bay lên cao.. cao.. cao nơi xa dật
dờ như một giải khăn tang.. Giật mình, anh ngồi dậy,
mồ hôi đẫm ướt mặt, và tận hiểu về một điều bí
ẩn nhưng cụ thể:Người có thể thật-chết khi đang
hiện-sống.
Nhưng không hẳn chỉ là thế, sâu
xa hơn những ám ảnh tuổi thơ, phiền bực tuổi trẻ còn
có điều gì khác, lớn lao, kinh hoàng, khốc liệt hơn: Đấy
là Nỗi Đau-Sự Chết dần hiện thực sắc nét như chính
bản thân - Là cuộc đời anh với thân phận Người Lính
trên quê nhà, dọc suốt quê hương.
Nầy đây, hình như
mới đây,
của ngày hôm trước, giờ vừa qua - Cảm giác
gần kề, rờn rợn, dẫu tính đến nay đã gần hết một
thập niên. Năm 1965, sau trận chiến bùng nổ ngày 11 tháng
6, với mưa Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa
không đủ lớn, không dài lâu để cho người có cảm giác
được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm bốc
dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị, Tiểu đoàn 2,
Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 Bộ Binh; của Biệt Động Quân, Tiểu
đoàn 52; và đơn vị đầu đời, thiết thân, thương mến,
Tiểu đoàn 7 nhẩy dù với những người lính anh quen mặt
từ buổi trưa cuối năm 1963 mang chiếc xắc marin nhà binh bước
qua cổng doanh trại, vào trình diện tiểu đoàn trưởng.. Đấy
là xác của Binh nhất Thái, Binh nhì Niên; xạ thủ đại liên
Phan Niên, tải đạn Phan Thỏn.. Những người lính với sức
chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của thùng
đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng,
để từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh
mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên rừng rậm
ngút ngàn không tiếng nhỏ than van. Họa chăng chỉ có hơi
thở dài nặng nhọc ghìm lại. Trong đám xác chết còn có
những người đã cùng anh vui đùa với hân hoan bất tận bằng
hữu.. Những Trần Trọng Hợp với cách nói rất nhanh dẫu
miệng vẫn ngậm chặt chiếc tẩu; với Dương Văn Chánh người
thấp đậm, rắn chắc, đang học văn khoa Pháp, tình nguyện
nhập ngũ Thủ Đức, cố xin được ra tiểu đoàn tác chiến
dù người thân là sĩ quan cao cấp của binh chủng; là Trần
Văn Ký, á khoa khóa 17 Đà Lạt, ngày ra trường, sẵn có trước
mắt một hàng đơn vị để tự do chọn lựa, nhưng cuối
cùng đã thuyên chuyển về đây, tiểu đoàn nhảy dù tân lập,
nhận tập trận, huấn luyện từ chiến trận hung hãn nguy
biến; là Trần Trí Dũng, cùng đoàn Hướng Đạo, cùng trường,
cùng lớp, với những trò chơi con trẻ ở Đà Nẵng mười
năm trước với anh.. Nay tất cả những người gần gũi thân
mến nầy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc
mùi xanh xao tanh tưởi; khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi
trẻ của tuần, tháng trước biến dạng thành những khối
thịt ủng lầy máu, đất đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm
mưa của bao ngày nằm nơi chỗ đụng trận, một chốn gọi
là xã Đồng Xoài, quận Đôn Luân, tỉnh Bình Dương, xa Sài
Gòn khoảng 50 cây số đường chim bay. Nghĩa trang ngày ấy
âm âm tiếng người khóc kể.. Cháu ơi sao chết trẻ bỏ
bà!!. Con ơi, biết bao giờ mạ mới gặp lại con con ơi Dũng
ơi là Dũng ơi!! Anh ơi là anh ơi.. anh chết sao cho đành bỏ
mẹ con em anh ơi là anh ơi!! Có bà lão ngồi im không đủ
sức khóc, không còn lực khéo chiếc fermeture bao xác đựng
người lính tuổi hẳn còn rất trẻ. Vòng khăn tang của thân
nhân những người lính chết trận dần lấm đỏ chạch của
đất nghĩa trang mà nay đã thành một bãi bùn sênh sếch thêm
máu từ những thây người rỉ ứa. Mưa Miền Nam Mùa Hè từ
đấy đối với anh có mùi máu. Máu của người.
Nhưng những người chết của cảnh
tượng kể trên vẫn còn có điều an ủi oan nghiệt: Họ chết
với nguyên dạng người và được tẩm liệm, đem chôn. Chết
Mậu Thân, 1968 và chết mùa Hè 1972 tiếp theo lại là những
cái chết toàn diện. Những cái chết tận diệt mà anh chứng
kiến, sống cùng.
Từ Giao Thừa Mậu Thân, bắt đầu
ở Huế, ngõ Âm Hồn, lối đi ra đường Mai Thúc Loan, hướng
Cửa Đông Ba. Khoảng đường u thẫm chập dầy bóng đen mà
đứa nhỏ thất thần, cuống quýt, lạc lõng vào lúc chiều
đổ tối một ngày mưa hai-mươi năm trước, 1948 lập lại
hôm nay, đêm Xuân 1968, với tình thế nguy biến tang thương
hơn qua hoạt cảnh người lính xao xác chạy dọc những khu
nhà đổ nát, vừa chạy tránh đạn, vừa kéo xác đồng đội..
Anh đi ngang qua căn nhà có xác người đàn bà chết trong vị
thế quỳ trước chiếc bàn thờ xiêu đổ tung tóe, hẳn đang
khấn lạy, cầu xin, nhưng chỉ còn thân người, bởi chiếc
đầu đã bị cắt lìa, vất tung đâu đó. Bên cạnh, thây
cô gái tóc dài lây lất, khuôn mặt chỉ còn những tảng thịt
rời rã.. Nhận biết đấy là người thiếu nữ do chiếc áo
dài trắng và áo len màu tím than, màu riêng biệt đặc trưng
của người thiếu nữ xứ Huế. Trước mặt ngôi nhà bên
cạnh là một ngôi mồ chôn vội với chân người chết lú
ra qua lớp đất vụn mỏng. Đấy là cảnh tượng ngày tiểu
đoàn anh từ Quảng Trị đổ bộ vào Huế, mồng 5 Tết. Qua
những ngày sau, dãy nhà không còn hình dạng, dần bị vỡ
tan, đỗ xuống, hoang tàn bày ra những xác chết khác- Những
người thoát nạn những đợt pháo kích đầu tiên, nay, sự
may mắn không thể kéo dài, lập lại nên dấu hiệu sự sống,
người còn sống cũng dần mất hẳn đi, lượng xác chết
thêm nhiều lớp lớp. Cũng bởi lý do, cán binh cộng sản sau
hai tuần tạm chiếm thành phố đã có được kinh nghiệm điều
chỉnh đạn pháo, nên đạn bắn vào "mục tiêu" càng thêm
chính xác - dân chúng thương vong, thiệt hại dần tăng trội.
Cuối cùng người chết ở đâu nằm ở đấy, không còn người
sống để lo toan. Lũ chó đói kéo lê nhưng bộ phận, tay chân
người vương vãi. Xác dân, xác lính chen chúc, lẫn lộn vào
nhau. Nhưng, như một an ủi khốn cùng, ở Huế, hay quanh ngoại
ô Sài Gòn, vùng Nhị Bình, Thạch Lộc, Hốc Môn, Gia Định
trong
dịp chiến loạn Mậu Thân, người ta vẫn còn khả
năng phân biệt đấy là xác chết của lính hay của dân;
của dân chúng Huế hay gã bộ đội Sinh Bắc-Tử Nam,
hoặc cán binh Mặt trận giải phóng.. qua áo quần, dạng tướng,
đôi dép Nhật làm ở Chợ Lớn, giày botte de saut, hay loại
dép râu mang theo từ Miền Bắc. Bởi người chết làm sao nói
lên được điều gì ngoài đôi mắt đứng tròng, khô rốc
chống ngược nhìn lên trời mù mưa xứ Huế, hoặc ngày nắng
sáng phương Nam, nơi cù lao sông Sài Gòn chảy qua Bình Phước,
Bình Triệu, Thạnh Lộc, Nhị Bình, Gò Vấp.. Cả một vùng
hoa Mai tàn tạ trong ánh nắng rung rinh mùi tử khí.
Nhưng đến năm 1972, cảnh chết
trên quê hương miền Nam tăng vụt cường độ; bất hạnh,
tang thương nhân lên bội phần cho dù trí tưởng tượng về
tình cảnh khốn cùng từ lâu đã được người Việt hằng
mang nặng, chuẩn bị chịu đựng. Trên chín cây số từ La
Vang, nam Quảng Trị đến Cầu Trường Phước lớp nhựa đường
đã hoàn toàn chảy nhão, đun nóng sôi bởi một thứ lửa
nhân tạo. Lửa được cháy lên do từ xăng, dầu, gỗ, thép
của khối quân trang cụ, vũ khí của các đơn vị thuộc mặt
trận giới tuyến bị phục kích trong cuộc lui binh rời bỏ
Thị Xã Quảng Trị ngày 29 tháng 4. Nhưng ngọn lửa ác nghiệt
kia sở dĩ còn thoi thóp tồn tại cho đến ngày quân lực miền
Nam vượt tuyến sông Mỹ Chánh phản công (27 tháng 6) vì chúng
được tiếp bồi bởi những vật chất cháy đượm - những
áo quần, tay nải, bao bị, gồng gánh, và những tế bào thịt
da của người - Những người dân chạy loạn. Bởi trong ngày
29 tháng 4, toán quân miền Nam dẫu bị rơi vào thế trận phục
kích, họ vẫn còn có bản năng người lính- bản năng vượt
thoát, tránh né, chống cự đối với cái chết. Người
dân thì hoàn toàn toàn bất động và bất lực. Họ giương
mắt nhìn đám lính Sư đoàn 308 bộ binh Bắc Việt; họ nghe
rõ từng tiếng nổ của loạt đạn chống chiến xa, chống
công sự của giàn sơn pháo Súng Không Giật có đạn đạo
thẳng - đạn bay thẳng tới mục tiêu - loại vũ khí đặc
biệt của binh đội cộng sản. Và tiếp liền, xác họ bay
lên như nùi rơm bị xáo tung. Nhưng đấy chỉ là lần chết
đầu tiên. Những thây xác tan nát kia tiếp bị xé tơi, nung
cháy, miết xuống mặt đường nhựa, tẩm vào lưỡi lửa
của áo quần, xăng nhớt, biến thái nên ngọn lửa bền bỉ
âm ỉ. Trên quãng đường chín cây số nam Thị Xã Quảng Trị
mà báo chí Miền Nam đặt nên tên đau thương Đại Lộ Kinh
Hoàng hoàn toàn không còn dạng thây ma để được gọi nên
là xác chết, mà chỉ là những mảnh xương cốt rời rã,
lăn lóc, lẫn lộn đất, đá, cát vương vãi dưới gầm khung
xe cháy nám, nơi ổ súng cong queo, sau những bụi lùm trơ trọi,
những gò, đụn oan khiên mà ổ mối đùn lên gây gây tanh
mùi máu.
Ở An Lộc, vào thời điểm đầu
mùa Hè, 1972 nơi Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cũng xẩy ra
tình cảnh kinh hoàng đau thương tương tự. Vì pháo binh cộng
sản yểm trợ cho các Công trường (sư đoàn) 5, 7 bộ binh
đã học được một kinh nghiệm hữu dụng: "Ban ngày pháo
kích xuống nhiều điểm bên trong thị xã để dân chúng tin
rằng, "bộ đội giải phóng" không pháo kích vô chỗ bệnh
viện!" Nhưng vào đêm, điển hình của những đêm 9, 10 rạng
11 tháng 5, 1972, tám ngàn (8000) quả đạn cùng tập trung vào
những điểm "chọn lọc điều nghiên": Trường Trung Học Cộng
Đồng, Bệnh Viện Tiểu Khu.. nơi lớp lớp người bị thương
đang lê lết trong bãi máu, giữa những người hấp hối để
cầu sống sót, cầu được lúc bình yên - cho dẫu bình yên
được chết. Những điểm tập trung người dân tị nạn,
và người bị thương nầy là điểm pháo tập trung dội xuống
trong khoảng thời gian mà Hà Nội ra lệnh Trung ương Cục Miền
Nam quyết dứt điểm An Lộc để lấy Bình Long làm thủ đô
ra mắt Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam trước
cộng đồng báo chí quốc tế! Tám ngàn quả đạn 130 ly rơi
xuống xé tung đám xác người (người sống lẫn kẻ chết),
ném tung lên dăm lần, ba lượt (hoặc rất nhiều lần) để
thân thể con người chỉ còn là những mảnh vụn tơi tả
lẫn với bụi, khói, mãnh thép.. Không thể phân biệt con người
nào đã chết, hoặc đang còn sống ở An Lộc trong những đêm,
ngày cào xé kể trên. Sau đêm 10 rạng 11, tháng 5 ấy, người
cha sống sót của một gia đình gồm năm con người (vợ và
ba con); hoặc người mẹ có ba con gái đồng tử nạn ngồi
giữa đống xác chết ngổn ngang.. Họ không thể phân biệt
đầu lâu nầy, chân tay nọ là của những ai, nên cuối cùng,
đành gói những đống thịt, xương hỗn độn kia nên thành
những bó riêng biệt, chôn chung vào một hố với hàng chữ
ghi số lượng và tên người chết lên tấm bảng gỗ thay
mộ bia. Đám táng tập thể ở sân Trường Trung Học Bình
Long thực hiện với xe ủi đất dưới đạn pháo nổ chụp.
Không ai đủ sức để khóc. Trận Đồng Xoài năm xưa trên
vùng đất nầy đã trở nên là cảnh tượng nhỏ nhoi, bởi
ở Đồng Xoài năm 1965 chỉ với những người lính tác chiến
gục ngã do đạn súng tay. Thây xác họ may mắn còn nguyên
vẹn hình hài.
Năm 1972, trên quê hương miền Nam
cái chết đã có những "tiến bộ vượt bực" theo đánh giá
của Bộ chính trị trung ương đảng cộng sản ở Hà Nội
- Thủ đô của "niềm tin và hy vọng" - cách gọi đầy hàm
súc, nhiều tính trí tuệ của những người viết văn, làm
thơ, viết nhạc gọi là "văn nghệ sĩ cách mạng" ở miền
Bắc Việt Nam.
Với những tình cảnh sống-chết
đan kín, xen kẽ cùng nhau trong suốt chặng đường dài từ
ngày ra đơn vị, nên đã rất nhiều lần, bất chợt anh nghe
ra tiếng gọi oán hờn từ Nghĩa Trang Quân Đội.. Và có nhiều
đêm, một thân từ Căn cứ Nguyễn Huệ, Lữ đoàn II Dù, anh
ra xa lộ, dừng xe ở chân Tượng Tiếc Thương, nhìn lên dạng
người - Người Lính Chờ Đợi - Anh nghe tự trong thân âm
động thảm thiết vang dội cơn gầm ghìm kinh hoàng của lần
"phải sống đau đớn khó khăn hơn được ngã chết."
TẤT CẢ HIỆN ĐỦ TRONG BUỔI
SÁNG HÔM NAY.
Sự Chết bắt đầu trùm chiếc
cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 tháng 4,
khi chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37 do viên phi công phản
trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi nhanh xuống phi đạo
Tân Sơn Nhất. Anh đã sống trong những phi trường từ ngày
ra trường, về đơn vị nhảy dù, vì lực lượng nhảy dù
(theo tổ chức quân đội Pháp) luôn có chung doanh trại cùng
binh chủng không quân, trong các phi trường. Tân Sơn Nhất là
chốn đầu đời, cũng là nơi làm việc cuối cùng của anh,
Ban Liên Hợp Quân Sự, tổ chức trung ương thành hình ngày
27 tháng 1, 1973 theo điều khoản của Hiệp Định Paris. Anh
đã sống cùng Tân Sơn Nhất dài lâu trong ánh sáng đèn cao
áp luôn rực sáng. Anh đã qua tuổi trẻ trong những căn cứ
không quân, lúc phi đạo phi trường Biên Hòa còn lót bằng
vỉ sắt PSP; quanh Tân Sơn Nhất là những khu rừng cao su xanh
ngắt màu lá, hoặc lũy tre vùng Hốc Môn, Gò Vấp đan dày..
Quả bom rơi xuống phi đạo, phá bung hệ thống nhà máy điện,
và Tân Sơn Nhất lần đầu tiên từ ngày thành lập chìm ngập
vào bóng tối, bừng bừng bốc lên lưỡi lửa. Đạn phòng
không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa
ngỏ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân
Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa
hỏa ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản từ Đồng
Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đỗ
xuống không ngắt nhịp.. Hơn hai năm trú đóng điều nghiên
trong Tân Sơn Nhất, phái đoàn cộng sản ở Ban Liên Hợp Quân
Sự đã có đủ yếu tố các điểm tác xạ.. Một trái đạn,
chỉ một trái thôi đủ phá tan đài kiểm báo; thêm một hỏa
tiễn hạ sập bồn chứa nhiên liệu. Từng trái đạn 130 ly,
từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống..Tân Sơn Nhất vật
vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa
ngọn.. Cuộc hành hình kéo dài từ 4 giờ sáng ngày 29 tiếp
tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO (Văn phòng Tùy Viên Quân
Lực Mỹ), ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng
C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng
lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống.. đống hành
lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc Năm
Trăm Trần Hưng Đạo của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam;
giấy bạc đô-la của ngân khố Mỹ.. tất cả cùng trộn lẫn
với thịt da thân thể người thành một thứ pháo bông tan
tác bay tung tóe, hiện thực cảnh địa ngục vô vàn của Dante
nơi trần thế. Cùng lúc, tại phòng hội La Celle St. Cloue, địa
điểm nghị hội "Thi Hành Hiệp Định 27 tháng 1, 1972, Tái
Lập Hòa Bình tại Việt Nam ", sau khi nhận được tin Dương
Văn Minh tiếp cầm quyền từ Tổng Thống Trần Văn Hương
(5 giờ chiều cùng ngày), và cuộc oanh tạc, pháo kích Tân
Sơn Nhất đang thực hiện.. Phát ngôn nhân phái đoàn Chính
Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ra thông cáo: "Dân
chúng Sài Gòn nổi dậy và quân đội buông súng đầu hàng.."
Con trai Dương Văn Minh nhân cơ hội đòi Tòa Đại Sứ Việt
Nam Cộng Hòa tại Paris bàn giao nhiệm sở. Và cũng lần đầu
tiên, Đài Phát Thanh Giải Phóng chính thức xác nhận:
"Dương Văn Minh chẳng đại diện cho ai. Y cũng không phải
là thành phần thứ Ba nào cả.." Phái đoàn "ngoại giao"
của "tổng thống Dương Văn Minh" gồm Trần Ngọc Liễng, Châu
Tâm Luân và Chân Tín vào Camp Davis gặp Võ Đông Giang để
tìm giải pháp chính trị giải quyết tình thế trong tinh thần
"anh em một nhà"- Chữ của Dương Văn Minh trong diễn văn nhậm
chức mấy giờ trước. Thầy su cai đồn điền Nguyễn Nhã
(tên thật của Giang) bắt luôn cả đám, gởi điện văn ra
Hà Nội xác nhận: "Nghị quyết ngày 26 là quan điểm cuối
cùng để chỉ đạo thực hiện: Loại trừ hẳn chế độ
Miền Nam.." Số phận "chính quyền Dương Văn Minh" đã
được quyết định, và chỉ cần đợi thêm vài ngày sẽ
thấy thêm một nạn nhân không lường trước- Cái gọi là
"Chánh phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam".
Những viên tướng lãnh đã ra đi,
những sĩ quan cấp tá cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị, nhưng,
Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành còn lại. Thành (có biệt
hiệu "Thành mọi" bởi nước da ngâm đen quá độ) ra chỗ
đậu tàu, anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên
trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao,
Thành thấy rõ những vị trí pháo của binh đội cộng sản..
Chúng đang ngang nhiên pháo kích, nhả đạn vào Tân Sơn Nhất
không che dấu từ lúc đầu đêm đến bây giờ, ngày rạng
của buổi sáng 29, tháng Tư. Thành nghiêng cánh, chúc mũi chiếc
Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả
hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới
cánh.. Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không cộng
sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi
lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc. Anh đáp
xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mù
bởi cuộc dội bom chiều hôm qua do kẻ phản bội Nguyễn Thành
Trung hướng dẫn, và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa
đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc nầy. Mặc, Thành
tự tay nạp đạn vào tàu, anh nhìn quanh phía sau phi đạo,
những dãy nhà của Bộ Tư Lệnh Không Quân, xa hơn nữa, Bộ
Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Quân Đội Cộng
Hòa - đời sống máu thịt của chính bản thân anh. Thành là
Thiếu Sinh Quân, người con thân yêu của quân đội chịu số
phần bão táp bi tráng cùng vận mệnh quê hương. Anh không
có thi giờ để suy nghĩ thêm.. Tân Sơn Nhất vừa có được
phút hồi sinh sau gần một đêm dài chịu pháo. Nhiều thân
tàu cất cánh rời khỏi không phận Sài Gòn bay về hướng
Tây - Hướng Thái Lan, nơi khơi xa của Hạm Đội 7. Trong số
có trực thăng của những tướng lãnh rời Bộ Tổng Tham Mưu.
Mặc, Thành trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất
- Cửa ngỏ của Miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo
cộng sản mà giờ nầy tạm ngưng hoạt động vì vừa bị
anh tấn công.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần
cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Thành nghiêng cánh, bấm
chặt hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một mình anh
lấy đường nhắm.. Một mình anh.. Phải chỉ một mình anh
- Trung úy Nguyễn Văn Thành, "Thành Mọi - Thành Thiếu Sinh
Quân". Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần
chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh
trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi.. Thành giật
mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất
cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình
ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối
rắm. Anh bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng
bừng! Lửa ào ạt.. Người phi công chìm trong lửa, gục ngất
giữa không gian..
Dưới đất, anh theo dõi cảnh chết
của người bạn (lúc ấy chưa biết là ai) từ khi chiếc hỏa
tiễn tầm nhiệt SA7 bay lên cắt đôi thân tàu.. Anh đứng
ở cổng Trại Trần Quý Mại của Tiểu Đoàn 8 Nhẩy Dù, nhìn
chéo vào căn nhà Tử Sỹ Đường của Không Quân, nhìn lên
trời, nghe rõ tiếng gào kêu im lặng của người phi công đang
vùng vẫy trong trong vũng lửa vàng tươi. Anh ôm con vào lòng
(đứa bé anh vừa tìm ra sau một đêm chạy xuyên hỏa ngục
Tân Sơn Nhất), hai người bạn, Phạm Gia Cổn và Minh "Râu"
trờ chiếc xe sát cạnh hỏi gắt.. Ông đi đi chứ còn đợi
gì? Có đi không? Anh đưa tay kiệt lực, vô nghĩa.. Anh muốn
chỉ lên hướng trời- Nơi có Người Phi Công vừa chết cho
Tổ Quốc, giữa Không Gian. Nhưng anh không nhấc nổi cánh tay.
Anh cũng muốn đưa chiếc máy hình lên.. Nhưng tất cả đã
là vô ích. Trên cao, thân máy bay dần rã ra từng mảnh, có
phần chiếc dù của Thành kẹt nơi khung cửa.. Anh nhìn lên
cổng trại Tiểu đoàn 8 Dù. Tiểu đoàn đầu tiên của Đại
Úy Trương Quang Ân,1960. Trung tá Ân, chiến đoàn trưởng ngày
anh ra trường; Chuẩn Tướng Ân, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh..
Người lính chết trên vùng trời cao nguyên.. Tướng lãnh đầu
tiên chết nơi trận địa.. Người chết cùng phu nhân giữa
vũng lửa trên trời cao. Người đầu tiên. Người cuối cùng
chết cùng vận nước. Với quê hương. Những Thiếu Sinh Quân,
những người lính nhỏ nhất, cũng vô vàn cực lớn của quân
lực cộng hòa.
Anh lục túi lấy hết giấy tờ...Chứng
Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư
mang Danh số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương...Có cảm giác
buồn cười..."Hoá ra đến giờ nầy vẫn chưa có chứng
chỉ sĩ quan mới, sau lần lên trung uý, trận Đồng Xoài. Tờ
giấy chứng nhận đầu tiên và cuối cùng về một lý lịch,
bị mất năm 1965". Anh đặt tất cả vào trong chiếc ví, vật
dụng tương đối có giá trị vật chất của bản thân, lại
là chiếc ví kỷ niệm nhận được hôm sinh nhật vừa qua.
Anh ném tất cả xuống miệng cống trước trước nhà sách
Khai Trí, đường Lê Lợi.. Coi như mình đã chết...Hình
như anh vừa nói ra lời. Có cảm giác thanh thản của người
vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Vất bỏ cùng lần với
đời sống chính mình. Tay giữ chặt hai chiếc máy ảnh trước
ngực.. Ít ra mình còn có vật dụng để thực hiện một
công việc, làm một nhiệm vụ. Đây là những hình ảnh không
thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết đến,
hiểu ra. Anh nhắc nhở, nâng đỡ. Cũng chỉ là cách tự
an ủi trong một hoàn cảnh kiệt cùng. Với ứng phó, giải
thích tội nghiệp, thảm hại nầy anh đi về phía Công Trường
Lam Sơn, trước trụ sở Hạ Viện. Chung quanh Sàigòn vắng
hoe. Trời bỗng nhiên trở mưa.. Cơn mưa ngắn, từng giọt
khô nồng, u uất.
Chiếc xe Molotova Trung Cộng (sau khi
đi tù mới biết đấy là xe Zin) từ hướng đường Trần
Hưng Đạo, chạy chậm rãi qua bùng binh chợ Bến Thành, những
người đi đường nhìn lên, ngó mông trống trải. Xe tới
trước thềm Hạ Viện, đám thiếu nữ nhẩy xuống, một anh
đội mũ tai bèo, chắc là người chỉ huy trung đội lính phụ
nữ, từ ca-bin xe bước ra, chỉ trỏ, ban lệnh, kéo từng người
vào vị trí "chiến đấu"...
các đồng chí, các đồng chí...
bố trí đây nì, sẵn sàng tác chiến... Giọng người vùng
miền Bắc Trung Việt cấm cẳng, the thé. Anh cùng hai phóng
viên người Nhật đi đến tổ súng thượng liên đang ngồi
nơi những bậc thềm; ba người đưa máy hình lên, nhắm góc
độ, điều chỉnh ánh sáng.. Những thiếu nữ ngồi bất động
nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh
dương, quần đen, vải nội hóa còn nguyên dấu hồ, giây đạn
đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần
bụng. Đạn cũng mới tinh, đỏ au. Cơ thể cô gái phụ xạ
thủ như muốn nức toang do chiếc áo quá chật bó thắt vào
khối thịt căng phồng. Đôi mắt nhỏ nhắm hờ, một lằn
chỉ khép kín để khỏi nhìn thấy ống kính, cô ta ngồi im,
cánh mũi phập phồng, mồi hôi ứa đẫm trên lớp da mặt
đỏ nâu lốm đốm dấu mụn.
Từ góc nhà hàng Givral, Công Trường
Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập trung
để xem mặt "bộ đội Việt cộng". Thêm hai xe đổ quân trước
rạp Rex. Lính nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm,
trườn, bò, nháo nhác. Từ Hạ Viện, anh đi băng qua hành lang
Eden.
Tiếng đập đục rầm rập từ
những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động,
phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt
kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi
lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề,
giành giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn
Đất, nhà thương Grall, những nơi có cơ sở của Mỹ kiều,
những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi. Bất chợt, tất
cả lắng lại để nghe rất rõ ..Có người tự tử. Có
người mới bắn chết. Ai? Lính, không biết, chỉ thấy mặc
đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoải, chỗ tượng Thủy quân
lục chiến..
Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút
giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng
nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho
hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền.
Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩy đó trong giờ phút
vỡ toang mối nối thời - không với những động tác, việc
làm bất định, bất ngờ, vô nghĩa, vô ích. Anh kiểm soát
lại số phim đang còn trong máy, trong túi, đi băng qua lối
ngang trong thương xá, ra ngõ quán Thanh Vị, quẹo phải, men
theo hàng hiên tiệm kem Đô Chính. Súng nổ.. Súng Aka và những
bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Đô Chính. Anh tiếp
tục làm "nhiệm vụ", đưa máy hình lên.. Động
tác quen thuộc, thuần thục từ bao năm, anh và các bạn, những
phóng viên chiến trường của báo chí miền Nam hằng thực
hiện nơi những chốn sự chết, lửa đạn vây bủa. Đồng
một lúc anh chợt nhói đau - Đây là lần cuối cùng. Đây
là giờ cuối cùng. Hình như một nhân vật trong Doctor Zhivago
cũng đã kêu lên như thế. Anh chỉ nhớ loáng thoáng bởi đang
có cảm giác người cạn ly rượu hành quyết trước khi bịt
mắt, dẫn đi. Anh chạy theo đám lính cộng sản với hai thanh
niên cầm cờ đỏ. Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đỏ.
Loại hàng may áo dài.
Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại,
liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nơi
có Người Lính vừa chết. Anh cúi gập người. Nôn khan.
Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen
giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có
tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong
đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia NGUYỄN VĂN LONG.
Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp,
động tác bàn chân quay vòng không chủ đích. Xe đi dọc đường
Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi các bạn anh hôm qua (nay đã
trở thành xưa cũ) hằng vui vầy, sống động.. Tạ Ký, Nguyễn
Xuân Hoàng, Đoàn "càn", Tôn Thất Trung Nghĩa và thỉnh thoảng
có cả Bùi Giáng với con mèo ôm trước ngực. Các bạn bây
giờ ở đâu? Quán vắng, cửa đóng kín, ghế úp ngược lên
bàn chỏng chơ, hàng me rũ xuống gờn gợn như giải phướn.
Định rẽ vào Yên Đỗ về Phú Nhuận, nhưng không hiểu từ
đâu thúc dục, anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa giòng
âm động dồn dập của Sài Gòn đang hồi tẩm liệm với
nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài. Mà quả
thật có nhiều quan tài của những người vừa chết.. Thầy
tướng số M.Y, bạn của Hoàng Ngọc Liên, một mình tử thủ
căn lầu vùng Ngã Ba Ông Tạ trước nhiều đợt tấn công
của một đại đội lính cộng sản, và trận đấu không
cân sức chỉ kết thúc sau khi ông ta đã dùng hết số đạn
và lựu đạn xin được của lính Tiểu Đoàn 2 Dù của Trần
Công Hạnh. Đơn vị đã bắn cháy những chiếc T54 cuối cùng
nơi Ngã Tư Bảy Hiền trước khi đồng đập vỡ súng XM16,
đại liên 60 lên mặt đường, vất nón sắt, cởi giây đeo
đạn ba chạc. Đến trước cổng trại Nguyễn Trung Hiếu,
hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Dù, anh hỏi Hạnh, Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 2: "Bây giờ bạn tính sao?" Hạnh im lặng nhìn ra
đường lộ đang ùn ùn lớp người chạy loạn về hướng
trung tâm Sài Gòn. Tròng mắt bạn khô khan ráo hoảnh sau bao
ngày đêm không ngủ.
Có một xác con trẻ trần truồng không
biết ai vất ra từ bao giờ.. Cô gái áo trắng nữ sinh
đi đến, gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường, bình thản,
thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy góc cạnh thây đứa trẻ
chết. Cháu chụp tấm hình nầy làm gì?Anh không dám nhìn đến
thây đứa trẻ mà giờ nầy đã miết xuống mặt nhựa đường
do đám người chạy loạn dẫm lên.
Để làm chứng tội
ác Mỹ-Ngụy trước khi bọn chúng rẫy chết! Giọng cô
gái đanh lại, mắt quắt lên sau lớp kính trắng. Anh thoáng
kinh hãi vì chứng kiến một điều ghê rợn: "Hóa ra Sự
Ác có thể chụp xuống lòng người mau chóng đến thế sao?"
Bấy giờ, chỉ mấy mươi phút sau lệnh đầu hàng của Dương
Văn Minh. Khi Hạnh châm điếu thuốc; anh lập lại câu hỏi
với bạn mà biết rằng chẳng có trả lời. Hạnh nói dứt
khoát, dẫu mệt nhọc, rời rã: "Tôi còn đến 500 người lính;
tất cả các đại đội trưởng đang đợi lệnh tôi, anh xem
tôi có thể làm gì, đi đâu?!" Anh đạp xe vào Cư Xá Sĩ Quan
Chí Hòa cốt đến thăm gia đình người em.. Biết đâu là
lần cuối cùng! Anh không dám, không thể nghĩ gì thêm.
Có trung đội lính Dù (thật sự chỉ khoảng hơn một tiểu
đội) giữ nhiệm vụ an ninh cư xá đặt dưới quyền chỉ
huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu (Tư lệnh phó Sư đoàn
Dù trước 1972). Chuẩn Tướng Hậu đang trải chiếc bản đồ
trên mui xe jeep, bàn tính với những viên sĩ quan. Khi biết
lệnh đầu hàng đã thi hành, ông vất tung chiếc bản đồ,
gầm lên ..Đ.. m.. đồ chó đẻ! Anh nói với viên thiếu
úy trung đội trưởng: Anh vừa gặp ông Hạnh ngoài cổng tiểu
đoàn 1. Ông Hạnh không có ý kiến, bảo anh em ai về nhà nấy.
Viên thiếu úy quyết liệt: "Em không đầu hàng, em với
trung đội sẽ ra bến tàu.." Thái, Thiếu úy Huỳnh Văn
Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di
chuyển.. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường
Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ
Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người
Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến
bến Bạch Đằng, tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ
xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn.. Việt
Nam Cộng Hòa Muôn Năm..Con chết đây cha ơi! Và những
trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết
cùng đất nước Miền Nam.
Sau nầy, anh biết thêm, trên con
đường anh vừa đi qua, đường Bắc Hải, ngõ nhỏ băng ra
Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy
nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước.
Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh (em của Bà Hà Thượng Nhân, Trung
Tá Phạm Xuân Ninh, niên trưởng của giới báo chí quân đội
Miền Nam) Khóa 1 Nam Định là sĩ quan của ngành tình báo đặc
biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách
đường giây quốc ngoại. Người con trai lớn của gia đình,
Trung Úy Đặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu..
Hai người cùng trao đổi đối thoại sau khi có lệnh đầu
hàng.. Tùy con, riêng bố đã
quyết như đã nói với
con từ trước. Nếu bố đã quyết như thế, con và các
cháu cũng đồng lòng. Toàn gia đình uống chậm những liều
thuốc độc cực mạnh đã chuẩn bị từ trước. Trung
Úy Đặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn
tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ Cờ Vàng
Ba Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương
đau.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!
Và ở vùng IV, chị Nguyễn Thị
Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm, thay chồng giữ
đồn đến trái lựu đạn cuối cùng. Chị kết thúc đời
sống bên cạnh thây của chồng, các con, với những vũ khí,
máy truyền tin đã bị phá hủy.. Không để cho Việt cộng
một cái gì cả! Người chồng đã dặn chị trước khi
lâm tử.
Cùng lần với những danh tướng
vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn
Hai, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn... rất nhiều
người không ai biết đã chết cùng lần vĩnh quyết Miền
Nam. Anh đi qua biên giới tử sinh nầy với mặc cảm phạm
tội - Tội đã được sống sót- Cảm ứng có thật từ ngày
15 tháng 3, 1975 khi anh theo đoàn người di tản dọc tỉnh lộ
7 từ Pleiku về Phú Bổn, xuống Tuy Hòa.. Khi đứng trên Đèo
Hải Vân ngày 25 tháng 3, nhìn đoàn người chạy từ Quảng
Trị, Huế vào Đà Nẵng. Nghe ra tiếng hờn đau ai oán của
người đàn bà chân trần, tóc rối, lật vạt áo dài ra để
thấy đứa con nhỏ đã chết từ lâu trên tay.
Anh đạp xe với màn nước mắt
pha máu; trên áo, ở đầu ngón tay, nơi cánh mũi rây rây, nồng
gắt mùi máu do khi anh đến gần, cúi xuống chụp hình viên
thiếu úy và những người lính nhảy dù tự sát. Mắt người
chết nhìn anh trừng trừng khốc liệt. Hai chiếc máy ảnh
vừa chụp những "đoạn phim lịch sử" kia cũng đã bị
một gã nào đó bên đường cướp giật, anh cũng chẳng màn
kể đến. Và không hiểu anh đã về đến nhà theo lối nào,
lúc mấy giờ, nhưng đây thật là đoạn đường dài nhất,
mệt nhọc nhất, gớm ghê nhất anh vừa đi qua với cổ đắng,
miệng khô rốc, trí óc vỡ loãng trỗng không. Đến đầu
ngõ đường Hồ Biểu Chánh, anh kiệt sức, xuống xe, dắt
đi xiêu ngã.. Người đứng dưới tàng cây vú sữa trước
căn nhà kín cửa đưa tay ngoắt anh dồn dập... Trời ơi..
sao mầy còn đây... Tại sao, tại sao mầy còn đây?! Hoàng
hỏi anh thất thanh, mắt bạn hốt hoảng. Anh biết bạn đang
lo sợ, băn khoăn cho số phận anh chứ không vì tình thế của
riêng mình. Cơn đau được nhẹ đi, anh tránh tầm mắt xao
xuyến, se thắt của bạn. Bởi, anh thật muốn cầm lấy bàn
tay đang rung rung giật giật trên ghi đông xe, và bật òa khóc
với bạn. Người chứng kiến phút giây anh đi, về từ sự
chết.
Hậu từ,
Ngày 14 tháng 1, 2002 tại Đại Học
Ngoại Ngữ thuộc hệ thống Đại Học Đông Kinh, trong hội
thảo tìm hiểu Nguyên nhân và Tác động của Chiến Tranh Việt
Nam đối với các quốc gia Á Châu hằng tham dự vào cuộc
chiến: Nhật, Đại Hàn, Trung Hoa và Việt Nam. Anh đã có lời
kết luận cho phần nói chuyện của mình.. "Người Nhật là
một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ hiến tế - Sepuku (mổ bụng
tự sát) khi danh dự cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc
phạm. Dân tộc Việt Nam chúng tôi không có nghi thức uy
hùng, dũng cảm ấy. Tuy nhiên, Người Việt cũng có phương
thức riêng để bày tỏ Lòng Yêu Nước, cách gìn giữ phẩm
giá Con Người. Chúng tôi xử dụng Cái Chết để chứng thực
nguyện vọng kia qua cách thế im lặng và đơn giản nhưng không
kém phần cao thượng. Khác với những vị tướng quân ôm
ảnh tượng Nhật Hoàng nhảy xuống biển trầm mình khi quân
đội Nhật phải đầu hàng sau hai quả bom nguyên tử rơi xuống
Nagasaki và Hiroshima. Sau ngày, 30 tháng 4, 1975 khi quân đội Miền
Nam buộc phải buông súng đầu hàng kẻ nghịch đi từ phương
Bắc xuống, từ rừng rậm về, đã có hàng loạt những vị
tư lệnh quân đội đồng lần tự sát trong im lặng. Nhưng
không chỉ những tướng quân chỉ huy những đại đơn vị
cấp quân đoàn, sư đoàn, mà ngay cả những viên thiếu, trung
úy cùng quyết định với những người lính của mình - Những
tập thể trung, tiểu đội nổ tung thân xác sau lời hô vĩnh
biệt quê hương. Và không phải riêng đối với những người
lính phải buông súng, mà cả gia đình, vợ, con họ cùng lần
kết liễu cuộc sống khi tổ quốc lâm tử. Ba thế hệ ông,
cha, cháu của gia đình Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh, Trung Úy Đặng
Trần Vinh và những trẻ nhỏ thuộc gia đình nầy là một
hiến tế uy nghi bi tráng vô cùng cho Tổ Quốc Việt Nam, nước
Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy ra với
thời điểm 30 tháng tư, 1975 mà sau đó, suốt hai thập niên
70, 80, hai triệu người Việt Nam, không phân biệt người Nam,
hay người Bắc (những người đã sống dài lâu dưới chế
độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954) đã phá thân băng
biển lớn, rừng rậm của vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600.000
người chết trên đường di tản ra khỏi nước. Hóa ra Dân
Tộc Việt, những người Việt Nam bình thường đã đồng
lần thực hiện một điều mà họ không hề diễn đạt nên
lời: Con người sống được nhờ bánh mì, cơm gạo, do những
nhu cầu vật chất, nhưng Người cũng có thể Chết về những
điều Cao Thượng Siêu Hình - Chết vì Tự Do, để bảo vệ
Phẩm Gia, Quyền Làm Người. Người Việt Nam đã, đang hiện
thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày vượt sống trên
quê hương khổ nạn, với chính thân xác của mình."
Anh nói những lời trên không riêng
cho hội thảo ở Đông Kinh mà muốn gởi đến thế giới về
Vĩ Đại Đau Thương của toàn Dân Tộc Việt.
Xin tất cả hãy lắng nghe.
Viết lại cho Ngày 30 Tháng Tư,
Hai-mươi tám năm sau,
(1975-2003).
Phan Nhật Nam
|