Máu
thấm đẫm lên Ba Sọc Đỏ
Nhân
ngày 30 tháng 4, 2004.
Lần
Little Sàigòn có mặt với Denver, Colorado.
Biểu
quyết Nghị Quyết Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa.
Một.
Buổi sáng ngày 30 tháng
Tư, 1975 anh đứng trước trụ sở Hạ Viện Việt Nam
Cộng Hòa, Công Trường Lam Sơn chứng kiến giờ hấp hối
với Sài Gòn trước, sau giây phút Dương Văn Minh ra lệnh quân
đội ngưng tác chiến. Đoàn xe gồm hai chiếc Zil (xe vận tải
Trung Cộâng) chở trung đội nữ du kích cộng sản (cho là
như thế, chứ thật ra chỉ là những gái quê miệt Bình Chánh,
Phú Lâm mới được tập trung làm "cách mạng" ở giờ
thứ cuối cùng của một cuộc chiến tai họa, xé lòng, và
cũng cực độ vô ích nhất suốt lịch sử người Việt
Hai mươi-chín năm sau, "trị giá" nầy hẳn không thể định
nghĩa khác hơn). Hai chiếc xe chạy chậm từ Trần Hưng Đạo
qua bùng binh Chợ Bến Thành, dọc Lê Lợi với toàn thể các
cửa hàng ghìm ghìm đóng kín. Những mũi súng chỉa sang hai
bên dọa nạt vụng về, đám người trên xe ngây ngô vô hồn
nhìn xuống lòng đường vắng vẻ - Không phải cách êm ả,
vắng lặng của Sàigòn thường có của những chiều ba- mươi
Tết để bùng vỡ với đêm Giao Thừa rộn rã mừng Xuân nồng
ấm giữa mùi khói pháo của những ngày gọi là "Tự Do"- Tự
Do có thật và đang dần hũy diệt. Nay, sáng ba-mươi tháng
Tư, 1975 đường Lê Lợi có cảnh tượng im lạnh của một
bãi tha ma vương vải những thây người chưa kịp thu dọn.
Mà quả thật có những người vừa chết, đang chết. Trung
Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long (sau nầy mới biết được danh
tính của Người Tận Hiến Tế đầu tiên cùng lần thật
chếât với Quê Hương) với y trang cảnh sát nghiêm chỉnh,
giày đen, chiếc nón kết bị bắn rơi sang một bên nằm trên
vũng máu dưới chân Tượng Đài Thủy Quân Lục Chiến. Tiếng
đạn súng tay của Trung Tá Long bị chìm khuất bởi chuỗi
âm động sầm sập do hàng ngàn vạn bàn tay đang đập đục
những cơ sở, kho hàng người Mỹ, hoặc của ngoại kiều
đã vắng mặt vùng Building Brinks, nhà thương Đồn Đất..
Nhịp âm lượng ma quái, ghê rợn tưởng như muôn vạn chày
vồ đập xuống nắp quan tài trong giờ tẫm liệm.. Nhưng bỗng
chốc, tất cả tất cả như lắng lại với những tiếng gào
uất hận thương đau..
Có người chết! Có người chết!
Ai... ai, ai chết? Lính, lính mình, chết nằm kia kìa.. Khu
tượng đài ùn ùn người kéo tới, vây chặt; những ký giả
người Nhật (trong đó có anh) rời bỏ thềm Hạ Viện, bởi
đám nữ chiến sĩ giải phóng" với áo xanh da trời, quần
đen, băng đạn quấn chéo ngang ngực không có động tác gì
khác ngoài việc ngồi im, nhắm hờ đôi mắt nhỏ như làn
chỉ trên những khuôn mặt căng phồng đỏ ửng mụn nám,
mồ hôi chảy giòng nhớp nháp, thấm đẫm. Mũ tai bèo, khăn
rằn quấn cổ, áo vải popeline, quần phụ nữ nhà nông, dép
lốp xe hơi, giây đeo đạn, đạn, súng.. Tất cả đồng đỏ
au, mới nguyên, miết xuống lớp áo vải mỏng, làm hằn lên
những múi thịt tưởng như xé rách những thân hình béo phì
bấât động. Anh đóng nắùp máy ảnh, hiểu rõ tính vô nghĩa,
vô ích của những việc làm đang lãng đãng thực hiện; cũng
không thể nghĩ gì thêm khi nhìn xuống mắt người vừa chết
đứng tròng, khô rốc. Anh bất định bước dọc theo hành
lang quán Thanh Vị, nhìn sang hàng hiên rạp REX.. Toán lính cộng
sản trườn, bò, chỉ chỏ nháo nhác; vài gã thanh niên cầm
lá cờ đỏ chạy về phía cổng Tòa Đô Chánh. Cờ thật ra
chỉ là loại vải lụa may áo dài màu đỏ tía. Khi ném hết
giấy tờ xuống chiếc cống trước nhà sách Khia Trí.. gồm
Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương; Chứng Minh Thư danh số
41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương; Căn Cước Bọc Nhựa..
Hóa ra mình cũng chưa có thẻ sĩ quan mới thay thế thẻ
kỳ lên trung úy sau trận Đồng Xoài, 1965. Anh không rõ
bản thân đã nói thầm như thế hay không, cũng không có cảm
giác tiếc nuối cái ví da, món quà nhận hôm sinh nhật vừa
qua, vật chất độc nhất có đôi chút giá trị đối với
bản thân... Thì coi như mình đã chết! Anh muốn nói
ra lời, nhưng chỉ nghĩ không cũng thấy đau.
Hai
Hai mươi-chín năm sau.
Đúng hai mươi-chín năm, anh xuống phi trường Denver, Colorado
với cảm giác không khác của ngày ấy - Ngày 30 tháng Tư,
1975 tại Sài Gòn, nơi trái tim anh. Có khác chăng, lòng anh trống
trải, lặng lẽ hơn với tuổi sáu-mươi. Bởi từ lâu, hình
như anh không nói: "Tôi đến nơi ấy. Tôi về nơi nầy.."
Anh chỉ di chuyển từ chốn nầy qua chỗ khác. Cảm giác có
thật, không phải làm dáng để viết nên chữ nghĩa, văn chương,
cách điệu giang hồ, khinh bạc. Bởi, hai mươi-chín năm qua,
anh di chuyển từ trại tù nầy qua trại tù khác; từ thành
phố nầy sang một chỗ ở bị chỉ định khác. Rất nhiều
lần sau thức dậy buổi sáng, anh ra trước căn nhà vừa trú
ngụ đêm qua, đọc tên đường và số nhà, hoặc tìm xem niên
giám điện thoại để biếât mình đang ở nơi đâu. Quê nhà
với anh hình như không còn - Thật sự không còn - Bởi cũng
do tình huống, anh sợ phải hứng chịu nỗi đau cùng với
nơi xa xôi cách biệt kia mỗi khi ngồi xuống một mình với
những chữ viết mà anh hiểu thật lòng..
Rồi cũng chẳng
đi đến đâu..
Chiều 30 tháng Tư, 2004
Denver trời đổ tuyết lớn. Anh nói cùng Hùng, (Đơn Vị 101
cũ), người bạn đón anh, và Nguyễn Chí Thiện: "Các ông,
bà thi sĩ, ông viết văn thật ra không hơn ai, nhưng có được
khả năng thấy trước, và thấy đúng." Để hai bạn rõ
ý hơn, anh giải thích: "Mấy mươi năm trước, ông Thiện nằm
tù ở Hỏa Lò, nơi chốn người chưa đến nỗi ăn thịt người
(do không có lửa để nấu nướng); chứ ở trại tôi, trại
Thanh Cẩm (Thanh Hóa, nơi Dân Biểu Đặng Văn Tiếp bị đánh
chết; sau 1990, giam Đoàn Viết Hoạt); Mã Nhì và Lý Trường
Trân thịt ngay anh chàng người Hoa đồng phòng, vì anh nầy
chịu khổ không nỗi, hiến mình cho hai bạn ăn để có chất
thịt. Thịt người cũng là thịt. Họ lý luậân với
nhau như thế trước khi thuận cho hai người kia sửa soạn
bữa thịt đồng bạn, đồng chủng. Ở Hỏa Lò nơi giam ông
Thiện,
người tù chỉ ăn thức do người kia vừa nôn ra;
vậy trong cảnh sống ấy, làm sao biết được tuyết (trắng,
ấm) như thế nào; nơi đâu có tuyết rơi cho những con người
xứng danh người để có thể viết nên câu thơ: "Tuyết
ấm rơi lòng người đôn hậu..". Năm ấy, cách đây hơn
hai-mươi năm, ông Hùng ở nhà thương Cốc Lếu (Lào Cai) nằm
chờ chết vì bịnh lao; tôi ở hầm tử hình trại Thanh Cẩm..
Đến ông Trời cũng không có thể tiên tri cho ba người sẽ
gặp nhau hôm nay ở đất Mỹ, giữa một chiều mưa tuyết
trong ngày đầu hè, cuối tháng Tư!! Mà tuyết ấm thật, anh
đưa tay hứng bông tuyết thoa lên mặt, lòng vui như đang chứng
kiến sự diệu kỳ. "Bác Thiện nói cứ như thánh hèn gì
làm thơ hay thiệt!" Anh nói với lòng thành thật, cảm động
về sự thanh khiết, dũng cảm của THƠ.
Nhưng sự ngẫu nhiên
(nếu gọi là ngẫu nhiên) không ngừng ở đấây, khi chúng
tôi vào đến thành phố, thì nơi phòng làm việc của Phan
Hội Yên, viên "Hạ Sĩ Khinh Binh" của Tiểu Đoàn 3 Nhảy
Dù, đơn vị đã đánh xe tăng T54 cộng sản với lựu đạn
tay, và bán súng cá nhân XM16 nơi đồi 30 Hạ Lào trong chiến
dịch Lam Sơn 719, năm 1961; ở đây chiều nay cũng đã có mặt
viên sĩ quan mang danh hiệu: "Khủng Long Đại Úy Lại Văn
Long của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù", người đại đội trưởng
nhưng kiêm luôn nhiệm vụ khinh binh xung kích chiếm nóc gác
chuông Nhà Thờ LaVang, nơi đơn vị cộng sản bố trí một
dàn phòng không, ngăn cản sức tiến công của những đơn
vị tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Mùa Hè 1972. Và kết quả
đã hiện thành với chiến công mcät lần vang dội hùng tâm
giữ nước - Ngày 14 tháng 9, tức là gần hai tháng sau buổi
quyết tử của Long "Khủng Long", những lính Thủy Quân Lục
Chiến, Biệt Động Quân, Thiết Kỵ, Sư Đoàn I Bộ Binh, Địa
Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc lực lượng diện địa Tiểu
Khu Quảng Trị đồng nhào lên trên đất đá điêu tàn của
khối cỗ thành mà nay chỉ còn là những nấm đất sênh sếch
khói đạn điêu tàn, lầy lềnh những xác người chết trẻ,
để dựng nên lá cờ linh thiêng của Tổ Quốc..
Cờ bay..
Cờ bay giữa vũng
lửa
Trầm trầm quân,
dân nước mắt ứa
Một bận cờ bay
vàng thành xưa
Bao tầng máu, xương
người lính đỗ!!
Những người lính của
mùa Hè lẫm liệt năm ấy nay tất cả đã trở nên những
lão nhân lặng lẽ, chịu đựng.. Nầy là Sum, Kim của Tiểu
Đoàn 8; ông Bưu Tín Viên, Triêm của Tiểu Đoàn 7 Dù mà ngày
anh mới ra trường (1963) về đơn vị, dẫu lớn cấp bậc
hơn vẫn ngại ngần gọi ông bằng danh xưng kính trọng "Thưa
bác Thượng Sĩ!!"; hoặc Ngô Gia Hậu của lớp viên phóng chiến
trường xông xáo ngày trước, những "nhà báo" nhảy xuống
Khe Sanh, vào An Lộc, lên Pleiku cùng với khinh binh của những
đợt trực thăng đầu tiên đổ bộ xuống những bãi đáp
còn nóng hơi bom, đạn tiền pháo kích. Tất cả đồng có
mặt hôm nay trong căn phòng chật chội nầy để đợi một
phép lạ tưởng như không thể xẩy đến.. Không Quân Vũ Sĩ
Cường, viên tân chủ tịch cộng đồng của địa phương
Denver nhào vào với tiếng nói trong hơi thở gấp.. "Xong rồi,
xong rồi quý vị.. Năm giờ, đúng năm giờ, chúng tôi có mặt
từ ba giờ chiều, đợi đến năm giờ, thượng viện, hạ
viện tấât cả chuẩn y Nghị Quyết Cờ Vàng -
Vâng, không có phiếu chống đối, họ đứng lên phất cờ
vàng với mình dẫu ông thống đốc bận đi họp. Nhưng thượng
viện họ quyết định hôm nay: Ngày 30 Tháng Tư.. Vâng,
họ biết, họ chia vui với mình. Họ cốt Nghị Quyết ra hôm
nay, ngày 30 Tháng Tư sau hai mươi-chín năm. Tiểu bang mình là
tiểu bang thứ năm có nghị quyết nầy: Toàn Tiểu Bang Colorado
là của Quê Hương của Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản."
Vũ Sĩ Cường lấy lại hơi thở với tiếng nói trầm xuống
cảm xúc: "Thành quả nầy là của chung tập thể, nhưng
người đầu tiên phải tri ân là Thống Đốc Bill Owens, người
nhiệt thành yểm trợ không ngừng nghỉ cuộc đấu tranh chính
nghĩa của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản."
Bởi Bill đã không chỉ chối từ, phủ nhận chủ nghĩa,
chế độ cộng sản do sự tệ hại thâm hiểm của nó trong
hôm nay với cương vị thống đốâc tiểu bang, nhưng ngay từ
những ngày của thập niên 60, 70, ngày Bill còn là người trẻ
tuổi, nơi khuôn viên các trường đại học, khi "phản chiến"
là một trào lưu thời thượng của tiến bộ và yêu chuộng
"Làm Tình tốt hơn Chiến Đấu- Make Love. Not War". Cường
tiếp lời: "Chúng tôi, ban tân dại diện cộng đồng cũng
như các bạn không thể nào quên được. Không bao giờ quên
Công lao của Người Tuổi Trẻ Bùi Phương Hải Bác Sĩ
Quân Y Hải Quân Hoa Kỳ, vị chủ tịch tiền nhiệm của chúng
ta. Bác Sĩ Hải đã vận động cùng Nghị Sĩ Bruce E. Cairns,
vị tướng lãnh hồi hưu James C. Hall trong suốt thời gian bao
năm qua để thuyết phục phe chống đối (do mưu định khống
chế của tòa đại sứ cộng sản Hà Nội) để đến hôm
nay chúng ta có đươc thành quà nầy Nghị Quyết được thông
qua với đa số tuyệt đối của 35 nghị sĩ, 65 dân biểu của
Thượng- Hạ Viện Tiểu Bang Colorado."
Kết Từ,
Trong những ngày nằm
trong hầm số 2 (để đợi mang đi bắn theo như án lệnh đã
tuyên bố; hầm 1 giam Trần Văn Chí, Khóa 11 Quốc Gia Hành Chánh;
buồng 3 giam Cao Văn Bảy, Giáo sư Pétrus Ký;) thuộc phòng cấm
cố tử hình ở Trại 5 Lam Sơn Thanh Hóa; ba chúng tôi thường
nghe tiếng hát yếu ớt vọng từ căn hầm số 4: "Bảo vệ
làng thôn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.."; hoặc, "..đường
trường xa ta quyết đi cho đến cùng..". Thật ra, người
ở hầm số hầm số 4 kia không hát, anh chỉ nói những lời
trên với âm lượng yếu ớt, kiệt sức, nhọc mệt; nhưng
đôi khi anh cũng "hát" thành âm điệu, đấy là khi anh cất
giọng với thanh sắc thành kính uy nghi: "Nầy công dân ơi
đứng lên đáp lời sông núi..." Anh hát vói nhịp cùm sắc
ở cổ chân rung mạnh hoặc nắùm tay đập vào tường. Chúng
tôi ba người đồng im lặng dù anh luôn khuyến dụ hát cùng;
cũng bởi không chắc anh có phải là "tù quốc gia" không, hay
chỉ là tù cộng sản gài vào để dò xét anh em chúng tôi.
Nhưng vào một hôm, ngày 25 tháng 2, 1979 một ngày Chủ Nhật,
ngoài trại im vắng, và người ở hầm số 4 kia thực hiện
nghi thức: "Hôm nay ngoài trại nghỉ, cán bộ chúng nó đi
chơi hếât rồi, anh em mình trong này làm lễ chào cờ.. Tôi
hô nghiêm các anh đứng dậy và mình hát quốc ca". Không
đợi chúng tôi trả lời, anh hô lớn dõng dạc.. "Chào cờ..
Nghiêm!", và tiếp theo vang lừng câu hát: "Nầy công dân
ơi đứng lên đáp lời sông núi.." với tiếng đập mạnh
vào tường thay tiếng trống thúc quân. Có lẻ anh hát quá
lớn, hai cán bộ công an Bùi Dù, Các vào mở cửa hầm số
4. Và trước khi ra đòn trừng trị vì tội "âm mưu phá
rối an ninh, trật tự trại giam", ba người chúng tôi nghe
rõ đối thoại:
-Nầy Thành (sau nầy
chúng tôi biết rõ, anh tên Nguyễn Công Thành, người Nghệ
An), mầy là lính biệt kích sao mà mầy ngoan cố đến thế.
Bên kia có ngụy dù phan nhật nam; ngụy thầy giáo cao văn bảy;
ngụy quyền trần văn chí.. Ngoài kia có ngụy tổng, bộ trưởng,
tướng, tá một lũ, chúng tao trị cho phải biết phép.. Thế
sao mầy chỉ là lính biệt kích mà mầy phản động ngoan cố
đến vậy.
-Phải, tôi là lính.
Lính biệt kích. Tôi không ngoan cố, không phản động. Các
ông nhốt thế nầy thì phản động cái gì nữa. Tôi chỉ
chào cờ. Tôi hát Quốc Ca của Việt Nam Cộng Hòa.
- Bọn đầu sỏ chúng
mầy, dương văn minh, nguyễn văn thiệu đồng bỏ chạy, đầu
hàng, mầy là lính thì làm được cái chó gì. Dù và Các gầm
gừ chưởi trước khi ra đòn trừng trị.
...Chen trong âm động
của da thịt người bị đánh dập, tiếng cùm kéo lê, vùng
vẫy sen sét, cào siết có tiếng nói đứt khúc của anh Thành:
".. Các ông hèn lắm.. đánh thằng già bị cùm thì tài giỏi
gì.. Cán bộ Các hét lớn để át tiếng của anh Thành:
"Địt mẹ, mầy già mà mầy ngoan cố, cả bọn còn đầu
hàng chúng ông huống gì mầy.." Anh Thành trả lời ngắt
khoảng với tiếng thở bĩ nén nhưng dứt khoát: "Ai đầu
hàng tôi không biết, thiếu uý Khiết (Đặïng Ngọc Khiết,
Khóa 17 Đà Lạt (1960-63); học sinh Phan Châu Trinh, Đà Nãng
(1955-60)-pnn), trưởng toán tôi bị đem ra chợ Ninh Bình bắn.
Tôi bị bắt, tôi bị bắt vì bắn hếât đạn. TÔI KHÔNG
ĐẦU HÀNG."
Lính Biệt Kích là Người
Lính Không Số Quân. Lính Không Đơn Vị. Lính Không Huy Chương.
Không Bằng Tưởng Lục. Lẽ tất nhiên họ không hề được
thăng cấp. Và sau khi chết, gia đình cũng không được lãnh
Tiền Tử Tức Vì không ai biết họ chết khi nào. Chết ở
đâu.
Sau nầy, Đại Úy Nguyễn
Hữu Luyện, người Lính Biệt Kích sống sót qua 21 năm, 4 tháng,
14 ngày tù kể lại: "Nguyễn Công Thành sau khi cho ra trại,
không được về Nam, vẫn bị quản chế ở Nghệ An, và đã
chết vào một năm nào đó khi gần hết Thế Kỷ 20". Cần
nói thêm một chi tiết: "Anh Thành luôn bị cùm, giam hầm tối
kể từ khi bị bắt, tháng 8, 1964 cho đến ngày thả ra để
chết."
Ba Sọc Đỏ của lá
Cờ Vàng quả thật thấm máu của rất nhiều người- Những
người chúng ta không hề biết.
Biệt Kích Nguyễn
CôngThành là Một.
Denver, Colorado.
Sau hai mươi-chín
"Ngày 30 Tháng Tư" (1975-2004)
(Riêng gởi
DNN với Tình Thân qua Huế-Sàigòn-Houston-Denver)
Phan Nhật Nam
|