Lời
khẩn thiết nhằm chấm dứt hiện tượng phân hóa
Nhân lần đến vùng Nam Cali để
tham dự buổi Ðại Nhạc Hội gây quỹ xây dựng Tượng Ðài
Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminter Civic Center, Orange County, Cali
vừa qua, chúng tôi đã chứng kiến, được tham dự vào cảnh
tượng, sinh hoạt vô vàn xúc động, ngờm ngợp tự hào. Từ
sáng sớm ngày 24 tháng 11, đồng bào các giới, đủ mọi lứa
tuổi, nhiều thành phần, rất đông người ở những vùng
cách xa Orange County hằng trăm dặm, thuộc miền bắc Cali, như
San José, Sacramento, San Francisco.. đã vượt khoảng đường
bằng chiều dài của Miền Nam, nếu kể thêm đường về hẳn
dài hơn đoạn Sài gòn- Hà Nội đến đây họp mặt - Tất
cả về đây, tập trung dưới một biểu tượng cao cả: CỜ
VÀNG BA SỌC ÐỎ để thực hiện một lễ tạ cảm động
– Xây dựng tượng đài biểu hiện Lòng Nhớ Ơn NGƯỜI LÍNH:
Lính Việt và Lính Mỹ- những người đã hiến tế thân xác
cho cuộc chiến đấu bị ngộ nhận, bị xuyên tạc hằng bốn
mươi năm qua, kể từ khi chiến tranh đang độ cao nhất, dẫu
lúc thâu đoạt những chiến thắng lẫm liệt như của Mùa
Hè 1972. Theo chương trình, một giờ trưa buổi lễ mới khai
mạc, nhưng từ sáng sớm rừng người đã tập trung dưới
bóng đại kỳ để chuẫn bị lời hát uy nghi.. Nầy Công
Dân ơi đứng lên đáp lời sông núi..
Cũng đồng thời
minh chứng: Những Người Lính Chính Nghĩa hằng sống mãi
với lòng Dân Nhớ Nước. Thêm một lần, Người Việt
tỵ nạn cộng sản vùng nam Cali nói riêng, và khắp đất Mỹ,
cũng như toàn thế giới nói chung đã xác chứng: Chế độ
gọi là cộng sản hiện đang cầm quyền ở Việt Nam là một
chế độ phải bị vất bỏ, tiêu trừ bởi chính nó là đầu
mối- đầu mối độc nhất và chính danh thủ phạm của tai
họa vô lường cả dân tộc phải gánh chịu – kể từ khi
tổ chức gọi là Ðảng cộng sản Ðông Dương thành lập
vào đầu thế kỷ, ngày 3 tháng 2, 1930. Từ đó đế nay, chế
độ độc đảng do tổ chức kia thành lập quả thật "thâu
đoạt những thắng lợi to lớn", (nói theo ngôn ngữ của
những kẻ cầm quyền ở Hà Nội, Miền Bắc Việt Nam), nhưng
đồng thời chúng cũng gây ra chuỗi tai họa cực độ vô lường
và thậm tệ tàn hại. Tai họa sau lớn hơn tai họa trước.
Tai họa không đường giải cứu. Tai họa không có cách hồi
phục. Vùng biển Hoàng Sa, Vịnh Bắc Bộ, lãnh thổ dọc cột
mốc biên giới phía Bắc.. Biết đến bao giờ, khi nào, bằng
giải pháp gì chúng ta có khả năng lấy lại phần đất, biển,
trời bị mất của tổ quốc? Năm 1978, sau đợt cải tạo
công thương nghiệp toàn quốc, và tiếp theo đợt cải tạo
nông nghiệp do Tố Hữu chỉ huy 1986, cả nước đứng bên
bờ vực thiếu đói, Miền Bắc có những làng nông dân dắt
díu nhau đi về thành phố xin ăn, làm mướn; Miền Nam sau ba
trăm năm mở nước, dựng nước trong sung mãn, phồn vinh, nay
con người bắt đầu xử dụng những thức ăn mà trước đây
chỉ dùng để nuôi gia súc: khoai, sắn, bo bo.. Một viên chức
chính quyền trung ương nơi Hà Nội phải kêu lên: "Một
trăm năm thực dân Pháp phá không bằng mười năm xã hội
chủ nghĩa Hà Nội". Cũng tương tự như thế, chúng ta có
thể nói thêm: "Một ngàn năm Bắc thuộc từ đầu Thế
kỷ thứ Nhất sau Công Nguyên đến năm Ngô Quyền xưng đế,
939, tiền nhân Người Việt phát triển, xây dựng được một
vùng đất nước chỉ bằng phần đất và vịnh biển mà tập
đoàn cầm quyền Miền Bắc đã cống hiến cho người Hoa trong
một nhiệm kỳ đại hội đảng". Ðiều tồi tệ chính
trị và sa đọa quyền lực của tập đoàn bộ chính trị
trung ương đảng cộng sản Việt Nam đã được xác chứng
rõ hơn ở hải ngoại: Lá cờ đảng cộng sản cầm quyền
ở Việt Nam, cờ búa liềm màu đỏ; và cờ của tổ chức
quyền lực chính trị tập trung nơi Hà Nội, cờ đỏ sao vàng,
sau gần ba mươi năm cưỡng chiếm Miền Nam- lá cờ mầu đỏ
đáng nguyền rũa kia không hề được dựng nên bất kỳ nơi
đâu có cộng đồng người Việt. Dẫu nó đã, đang là biểu
trưng cho một chính phủ hợp hiến, hợp pháp của một quốc
gia; dù rằng trong những thập niên 1960, 70, nó đã từng được
dẫn đầu những đoàn biểu tình phản đối chiến tranh Việt
Nam ở Paris, Washington, Seoul, Tokyo.. lẽ tất nhiên cũng có mặt
chính thức nơi những quốc gia cộng sản thuộc vùng Ðông
Âu. Nhưng từ ngày 30 tháng 4, 1975 đến nay lá cờ ấy hoàn
toàn mất bóng trên khắp thế giới. Toàn thể Người Việt
đồng nhất thiết chối từ lá cờ lấm máu kia (lẽ tất
nhiên không tính tổng số những nhân viên, và gia đình của
những người thuộc toà đại sứ, lãnh sự quán chế độ
Hà Hội đang có mặt ở Mỹ và tập thể cán bộ cộng sản
nằm
vùng) và đương nhiên xếp đội ngũ dưới Cờ Vàng Ba Sọc
Ðỏ- Bởi đấy là biểu tượng thuần thành, chính thống
của Nền Cộng Hòa và Tổ Quốc Việt Nam.
Nhưng đau đớn, cay đắng thay, những
người anh em, những cá nhân người Việt hôm nay chung đứng
dưới lá cờ uy nghi, cảm động và tự hào kia cũng chính
là tác nhân - Chủ Thể lẫn Ðối Tượng - Người
khởi đầu, xây dựng, thực hiện quá trình hành động; và
đồng thời cũng là nạn nhân hứng chịu, mục tiêu công kích
của một hệ thống xung đột, đánh phá toàn diện, dai dẵng,
cùng khắp. Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và
bất lợi không lường nầy đã, đang diễn tiến kết thành
hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt,
chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng
đồng người Việt. Bài viết khẩn thiết nầy phải được
viết nên nhằm vào một mục tiêu cụ thể: Nói cho đến
tận cùng về nguyên nhân khởi đầu, động lực thực hiện
sự phân hoá.
Phần thứ Nhất: Nguyên
nhân thuộc phía đối phương:
Chúng ta có thể nói ngay mà không
phải ngại ngần do e sợ vấp phạm nhầm lẫn - Nguyên nhân
đầu tiên do tổ chức tối cao điều động, chỉ huy ấy là
Cục Tình Báo Hải Ngoại trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương
Ðảng cộng sản Hà Nội. Cơ quan nầy không phải chiû thành
lập từ sau 30 tháng 4, 75 khi có mặt hằng triệu người Việt
trên khắp thế giới, ở mọi nơi trên đất Mỹ, mà đã có
mặt cùng lần với đảng cộng sản Ðông Dương do chính Hồ
chí Minh thành lập, chỉ huy, điều hành, huấn luyện cán bộ
trong khuôn khổ chung với họat động tình báo của Liên bang
Nga Sô-viết. Bởi, thoạt kỳ thủy lúc còn là Nguyễn Văn
Ba, Nguyễn Aùi Quốc, Nguyễn Tất Thành cho đến ngày trở
thành chủ tịch nước với bí danh cuối cùng, Hồ Chí Minh,
con người nầy luôn luôn và chỉ là một cán bộ tình báo
cao cấp của Ðệ Tam quốc tế. Với Cục Tình Báo Hải Ngoại
nầy trong chiến tranh Việt Nam (giai đoạn 60-70) vài chục thước
hầm đào tay ở Củ Chi (Tây-Bắc Sài gòn khoảng 30 cây số
đường bộ, vùng Tỉnh Hậu Nghĩa) biến hóa trở nên "thành
phố bí mật dưới đất", có khả năng nuốt gọn hằng
ngàn lính của các đại đơn vị lừng danh của Mỹ như Sư
Ðoàn 1 (Big Red One); 25 Bộ Binh, với hàng trăm, ngàn chiến
xa bị chôn sống (!), dẫu chúng đã bị các xe ủi đất hạng
nặng của công binh Mỹ đào tận gốc trong hai cuộc hành quân
lớn, Cedar Fall, và Junction City khai diễn đầu năm 1967 để
mở rộng vòng đai an ninh Sài Gòn, bạch hoá hai vùng gọi là
"Chiến Khu C; Tam Giác Sắt", tây-bắc Sài Gòn. Với điều động
dẫn dắt của cán bộ cục tình báo quốc ngoại, các sinh
viên du học ra đi từ Miền Nam vừa mới đặt chân đến Pháp,
các quốc gia Tây Âu, Nhật, Úc, nhất là Canada, Mỹ, đã có
người đến tận phòng ngủ giúp làm bài, đưa đi sinh hoạt,
dự liên hoan thanh niên, và cuối cùng học tập tài liệu "mặt
trận".. Chỉ trong thời gian ngắn, những người trẻ tuổi
ra đi do học bổng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp, xuống
đường, đi đầu các đoàn biểu tình với lời hô lớn
"Yankee
Go Out of Vietnam", những Ðoàn Hồng Hải, Nguyễn Thái Bình,
Huỳnh Hữu Tuệ.. của những thập niên 60, 70. Cô Lê Thị
Ngôn năm 1970, 19 tuổi du học do Hội Thánh Tin Lành bảo trợ,
và dẫu cha là sĩ quan cao cấp hàng đầu của ngành tình báo,
Ðại Tá Lê Ðạt Công, Quân Ðoàn III, Biên Hòa, nhưng chỉ
sau vài ba tháng ở Mỹ, đã trở nên thành một chiến tướng
xuống đường của Ðại Học Georgetown (Washington, DC) trong
suốt khoá học. Sau ngày 30 tháng 4, 1975 cơ quan tình báo hải
ngoại nầy được tăng cường tối đa thành phần nhân sự
theo đường di tản với người Việt tỵ nạn mà không một
ai có khả năng kiểm chứng, phân biệt thế nào là "cán
bộ tình báo cộng sản và người tị nạn cộng sản"- trong
thành phần lẫn vào người di tản, người vượt biên , người
đi theo diện HO, ODP, sau nầy thêm khối nhân sự từ phía các
nước cộng sản Ðông Âu?! Tỷ lệ cán bộ công an (công
an ngành tình báo) trong số người vượt biên là 2/5-
Công
an tổ chức vượt biên, công an bán bãi vượt biên, công an
bảo vệ cuộc vượt biên, công an đi bắt vượt biên, và
cuối cùng - công an cùng vượt biên đến Mỹ. Chúng
tôi không hề đặt điều hài hước, hoặc bày dựng nên chuyện
quá độ, vì chỉ riêng bản thân cá nhân, trước khi bước
lên máy bay theo đợt HO 22, trong phòng phỏng vấn ở đường
Nguyễn thị Minh Khai (Pasteur cũ) đã thấy tận mắt viên công
an phường Dakao, trụ sở gần Trường Lê Văn Duyệt. Thế
nên phải kể đến Lưu Thừa Chí, (Khóa 18 Trường Ðà Lạt,
thiếu tá ngành an ninh quân đội); Thái Sơn Vân (Khóa 19), nhưng
cũng
là các thượng úy cộng sản hiện thực trong ngày 30 tháng
Tư, 1975; nay, những sĩ quan cộng hòa - cán bộ cộng sản đã
có mặt đủ ở Mỹ theo các đợt HO sớùm nhất, tham dự
chặt chẽ với sinh hoạt Tổng Hội Trường Võ Bị. Ðấy
là chưa kể thành phần chiêu mộ từ các trại tỵ nạn vùng
Ðông-Nam Á trong những ngày "kháng chiến" của thập niên 80
mà Ðại Uùy Bùi Văn Nam Sơn, Tiểu Khu Gia Ðịnh là một điễn
hình: Sơn "trốn trại" Long Giao (tháng 5, 1976), vượt biên đến
Thái Lan, chỉ huy "quân đội cách mạng" của tổ chức Lê
Quốc Túy, xong trở về nước "giải phóng tổ quốc". Cuối
cùng - đạo binh cứu quốc trình diện đủ tại phòng hỏi
cung công an thành phố HCM không thiếu một người. Cũng
thế, một tên vô lại vô danh tiểu tốt nào đó gọi là Trần
Trường không thể nào vô cớ đơn thân hành động ngang ngược
đòi treo cờ đỏ giữa cộng đồng người Việt nơi vùng
Westminster, nếu không có người và tổ chức tình báo cộng
sản nằm vùng kia điều động, yểm trợ tối đa tài chánh.
Và cuối cùng, sách, báo, băng nhạc, đoàn văn công, dịch
vụ thương mại, giao lưu văn hoá, chuyển giao tin học, giáo
dục, kỹ thuật.. Người và việc của Việt Nam cộng sản
hiện diện hầu như một điều hiển nhiên trên đất Mỹ,
ở Thủ Ðô Người Tỵ Nạn - Chủ đề chúng tôi đã trình
bày trong tiểu luận tháng 10 vừa qua. Hôm nay, nhắc lại sự
kiện xâm nhập, điều động của Cục Tình Báo Hải Ngoại
cộng sản để nhấn mạnh về một khía cạnh khác: Cơ quan
nầy là đầu mối gây nên hiện tượng hỗn loạn trong sinh
hoạt chính trị người Việt. Nó gây nên hiện tượng mạ
lỵ những cá nhân khả kính như cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc
Huy, những người trung chính cao thượng như Giáo sư Nguyễn
Ðình Huy, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Thượng Tọa Quảng Ðộ;
nó cung cấp những
"tài liệu đáng tin cậy để hoạt kê
hoá, hề hóa" những hành vi của Lý Tống, Nguyễn Ngọc
Hạnh; nó tạo nên một cơn lốc vấy bẩn không từ một ai,
bày đặt nên những điều thậm tệ vô lý mà một cá nhân
có lương tri, lương năng bình thường không bao giờ vấp phạm,
thực hiện: Hạt lúa "đỏ tượng trưng hy vọng dân tộc"
trong
băng nhạc Thúy Nga Mẹ 40; trực thăng quân lực cộng hòa xuất
hiện cùng lần với cảnh chiến tranh tàn phá; hoặc nay với
vấn đề Nguyễn Cao Kỳ phê phán, định giá chiến tranh "nhỏ
nhoi bẩn thỉu"; hay Nguyễn Chí Thiện là "cán bộ tình
báo cộng sản giả danh" mà Hoa Ðịa ngục là đạo thơ
của Lý Ðông A (!) Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ càng dâng cao, những
vấn đề giaû đặt ra càng ngày càng nhiều - Nhiều
quá độ để lực lượng quốc gia sẽ có một ngày mất sức
- Ngày chúng ta mệt mõi, ngã lòng không phải vì cuộc chiến
đấu trên đường lớn nhưng do những viên đá ném ra bởi
bằng hữu, anh em ta. Do bàn tay của chính những người rất
mực thân thiết vô vàn - Những Ðồng Bào cùng ta chia sẽ
Mối Ðau chung của Tổ Quốc Việt Nam.
Biết bao giờ! Biết bao giờ chúng
ta mỗi người hiểu ra ngọn nguồn đơn giản, cay đắng, khắc
nghiệt nầy để ngừng tay ném đá anh em ta.
Phần thứ Hai: Vấn
đề của chúng ta:
Chúng tôi đã trình bày xem như tạm
đủ về vấn đề của phía đối phương - thành phần nhân
sự cộng sản đang cầm quyền trong nướùc, hoặc nằm vùng
ở hải ngoại, trong Cộng Ðồng Người Việt. Nay đến phần
câu chuyện của người Việt phía quốc gia, những người
tỵ nạn cộng sản, ra đi từ Miền Nam, trốn thoát từ Miền
Bắc, đào tỵ từ các nước cộng sản Ðông âu sau 1989.
Sau một thời gian gần 30 năm kể
từ 1975, do những "chuyển đổi thực tế" của đời
sống xã hội, văn hóa, sinh hoạt vật chất, tâm lý, tình
cảm, một số không nhỏ (phần đông đi trong những ngày trước,
hoặc thời gian ngắn ngay sau ngày 30 tháng Tư)- những người
chưa
thực sự nếm đòn thù của chế độ cộng sản ở
Việt Nam đã nhìn chế độ ấy với nhãn quan dung thứ và
coi như một điều "tất nhiên". (Quả thật chúng tôi cũng
có phần ngần ngại dùng danh xưng "cộng sản" để chỉ
tổ chức hiện đang cầm quyền ở Việt Nam - Vì chế độ
kia hiện chỉ là tổng hợp một thứ tổ chức tập quyền,
gia trưởng, hương đảng làng, xã (dù đơn vị làng, xã không
còn tồn tại từ hơn nửa thế kỷ nay), quần hội - Hình
thái tổ chức đảng bạo lực của một nhóm người cố kết
nhau từ, bởi quyền lợi vật chất - thuần túy là chia sẻ
quyền lợi với nhau - Chúng tôi sẽ trở lại vấn đế nầy
ở phần cuối bài viết.) Nhóm người nầy hầu như phản
ứng rất hạn chế đối với người, việc phát sinh từ chế
độ gọi là cộng sản ở Việt Nam - những con trẻ sinh ở
Mỹ thì quả thật ý niệm, kinh nghiệm đối với cộng sản
là một vấn đề không hề tồn tại. Số lượng bạn trẻ
thuộc thành phần nầy góp mặt với cuộc tranh đấu chung
với chúng tôi là con số quá nhỏ so với đám đông không
ý niệm về, không quan hệ đến.
Nhóm thứ hai, gồm thành phần người
đến Mỹ trong giai đoạn vượt biên (70-80); ra đi theo chương
trình ODP, đoàn tụ gia đình; và số đông quân nhân, công
chức, nhân viên hai chính phủ Việt - Mỹ và gia đình của
họ đến Mỹ qua Chương Trình HO, khởi sự từ đầu năm 1990.
Nhân sự trong khối đông thuộc thành phần lại nầy có thể
chia thành hai nhóm chính như sau:
1/ Những người, tập thể còn nhiều
ràng buộc với thân nhân, gia tộc ở Việt Nam, hoặc do có
sinh hoạt dịch vụ, nhà cửa, thương mải, du lịch, giáo dục,
tôn giáo, xã hội với tổ chức, người trong nước nên chấp
nhận chế độ kia như là một đơn vị hành chánh, tài chánh
ắt có, cần thiết - và hệ quả nẩy sinh là vấn đề
chống cộng không còn là điều sinh tử - dẫu rằng họ
cũng đã kinh qua những đau thương mất mát do chế độ nầy
hành xử, tác động lên chính bản thân, gia đình trực hệ
của họ. Và, chúng tôi cũng không đề cập đến thành phần
thoả
hiệp toàn phần với chế độ cầm quyền ở Việt Nam
để cầu lợi, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân, bất chấp
chế độ ấy tồi tệ, xấu xa như thế nào. Số đông nầy
không phải nhỏ nhưng không là mục tiêu của bài viết nầy.
2/ Những người, nhóm người nạn
nhân trực tiếp hứng chịu toàn thể khổ nạn do hành vi,
chính sách thực hiện bởi người, chế độ cộng sản không
phải chỉ từ 1975 mà cả những năm trước nữa qua các biến
cố, 1972, 1968, hoặc xa hơn từ những năm 1954, 45: NHỮNG
NGƯỜI QUYẾT LIỆT KHÔNG KHOAN NHƯỢNG ÐỐI VỚI CHẾ ÐỘ
CỘNG SẢN TRONG BẤT CỨ TÌNH HUỐNG, ÐIỀU KIỆN, THỜI ÐOẠN
NÀO, DẪU KHI ÐỐI DIỆN VỚI CÁI CHẾT- BỞI VÌ HỌ ÐÃ HIỂU
NGHĨA SỰ CHẾT GÂY NÊN BỞI CHỦ NGHĨA BẤT NHÂN VÔ LƯỢNG
GỌI LÀ CỘNG SẢN.
Nhưng tất cả những thành phần
trên, dẫu chính kiến khác nhau như thế nào, kể cả thành
phần thuần nhất chống cộng vừa kể bên trên đồng có
những đặc trưng về sinh hoạt chính trị như sau:
-
Không HÌNH THÀNH ÐƯỢC
MỘT TỔ CHỨC CHỐNG CỘNG (NẾU KHÔNG HƠN THÌ CŨNG
PHẢI CÓ MỘT CƠ CẤU TƯƠNG ÐỐI VỮNG) KHẢ THỂ ÐƯƠNG
CỰ VỚI TỔ CHỨC GỌI LÀ ÐẢNG CỘNG SẢN HIỆN CẦM QUYỀN
Ở VIỆT NAM, ÐANG ÐIỀU ÐỘNG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG LỰC
LƯỢNG QUỐC GIA Ở HẢI NGOẠI.
-
Không đối xử với người, chế độ
cộâng sản như là MỘT TỔ CHỨC mà
chỉ tấn công đối phương như những CÁ NHÂN RIÊNG RẺ
- từng đối tượng cá nhân người cộng sản do
"cảm
tính cá nhân" của bản thân mình, chứ không do một
THÙ
HẬN CHÍNH TRỊ – ÐỐI NGHỊCH TUYỆT ÐỐI VỀ QUAN ÐIỂM
CHỈ ÐẠO VÀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN.
-
Từ hai xuất phát cơ bản trên, người
Việt chống cộng ở hải ngoại THAY VÌ "TẬP
TRUNG" NĂNG LỰC ÐỂ CHỐNG CỘNG lại vận dụng THÀNH
SỨC MẠNH "BỊ PHÂN TÁN" ÐỂ TẤN CÔNG ANH EM MÌNH, BỞI
VÌ NGƯỜI ANH EM NẦY CÓ MỘT "QUAN ÐIỂM CÁ NHÂN CHỐNG CỘNG"
KHÁC BIỆT MÌNH.
Ba điều trên đồng xẩy ra cùng một
lúc, yếu tố nầy là nguyên nhân, và hậu quả của sự kiện
kia. Và hôm nay, dẫu sau 28 năm mất Miền Nam Lá CỜ VÀNG-
Biểu trưng NỀN CỘNG HÒA vẫn tồn tại là do những
Cá
Nhân Chống Cộng kia duy trì, bảo vệ. Nhưng phải đến
một lúc - thời điểm ấy không xa - Những cá nhân chống
cộng ấy không còn nữa, và vấn đề cuối cùng càng hiện
rõ ra: Chúng ta vẫn không có một Tổ Chức Chống Cộng
hữu
hiệu vì - Những Cá Nhân Chống Cộng đã, đang tiếp
tục bị đánh vỡ không phải do kẻ địch mà bởi chính anh
em mình.
Sự kiện tác hại của hiện tượng
trên không phải không được nhìn ra, nhưng bởi những nguyên
nhân khách quan và chủ quan cùng lần xuất hiện, chẳng phải
chỉ riêng từ tâm lý người Việt, nhưng rõ ràng đến cả
những nhân sự tài giỏi tiếng tăm trên toàn thế giới vẫn
không nhìn ra được phần hiễm độc vô lượng (được ngụy
trang) rất mực tinh xảo của người cộng sản Việt Nam. Chúng
ta không bi quan nhưng cần phải thực tế kiểm chứng lại..
Nầy đây, chúng ta hãy nhìn lại
những cách đánh giá, định lượng về người, các tổ chức
chống cộng (do chính các cơ quan truyền thông, báo chí người
Việt phổ biến - theo quan điểm cá nhân của những nhân sự
điều hành, phụ trách cơ quan, tờ báo kia): "Giáo sư Nguyễn
Ðình Huy (hiện tiếp tục bị tù ở trong nước, sắp đến
năm thứ 30 kể từ 1975), bị kết tội "thỏa hiệp (đối
lập cuội) với cộng sản" qua hoạt động phối hợp với
Giáo Sư Stephen B. Young, Tiểu Bang Minnesota vận động cuộc
hội thảo dân chủ cho Việt Nam. Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị
kết án "ngôn sứ đô-la" trong khi chịu án tù lần thứ ba
trong đời với tổng số đã quá 20 năm kể từ ngày mất
Miền Nam. Nguyễn Chí Thiện bị cáo buộc "giả danh Nguyễn
Chí Thiện", đạo thơ của Lý Ðông A. Lý Tống, mô tả như
một loại "anh hùng rơm"; Nguyễn thị Ngọc Hạnh bị gán cho
danh từ khinh thị, "anh thư dỡm"…
Như thế là thế nào?
Chúng tôi không ghi rõ danh tính những cá nhân, bài báo, cơ
quan truyền thông phát xuất từ những lời buộc tội kia không
phải vì ngại ngùng sẽ bị họ tuyên chiến, nhưng bởi
không muốn đến phiên mình bị rơi vào "bẫy kế" rất hiệu
quả (của cơ quan cộng sản điều hành hoạt động quấy
phá có hệ thống nầy, đã trình bày trong phần 1).Và chúng
tôi lại càng không hề cáo buộc cá nhân, cơ quan truyền thông,
tờ báo thân hữu ấy là "tay sai Việt cộng nằm vùng".
Hoàn toàn không phải là như thế, bởi vì bản thân cá nhân
chúng tôi hơn ai hết hằng quen biết, giao tiếp với những
nhân sự ấy suốt bao năm qua từ lúc tất cả còn là những
người tuổi trẻ ở Miền Nam trong những thập niên 60, 70.
ÐẤY
LÀ ANH EM CỦA MỖI CHÚNG TÔI. CHÍNH LÀ CHÚNG TA.
THẾ NÊN, VẤN ÐỀ ÐẶT
RA LA:Ø NHÂN SỰ, TỔ CHỨC NÀO ÐÃ CUNG CẤP ÐẾN ký
giả của một tờ báo nầy những yếu tố (không được
phổ biến, được bảo vệ bởi quy định, pháp luật Mỹ;
những dữ kiện rất chính xác) về trương mục ngân hàng;
số an sinh xã hội; số thẻ di trú; thời điểm gọi điện
thoại; nội dung buổi điện đàm.. của một nhân sự, tổ
chức khác để cuối cùng, ký giả kia viết nên những
bài
báo "không thể nào chính xác hơn, như một bản điều tra
tư pháp". Hoặc cách thức cung cấp đến tờ báo, cơ quan
ngôn luận của một tổ chức chống cộng, những bài thơ
của Nguyễn Chí Thiện (chưa hề được phổ biến);
để
rồi qua một bài viết (dĩ nhiên đăng trên tờ báo khởi đầu
vụ tố cáo nầy) của một nhân vật có tài năng, đức độ,
tiếng tăm ở Miền Nam trước đây trong lãnh vực y khoa (nhưng
không phải là nhà nghiên cứu văn học nên không thể biết
tường tận THƠ NÀO THẬT, GIẢ
của Lý
Ðông A hay Nguyễn Chí Thiện) có cáo buộc rằng: "Ðấy là
thơ của nhà cách mạng Lý Ðông A (cũng chưa hề được
phổ biến) mà Nguyễn Chí Thiện đã mạo danh." Ai có khả
năng kiểm chứng, thi ca nào thật, lời thơ nào giả vì tất
cả (thật lẫn giả đều chưa hề phổ biến). Ðể
cuối cùng "VẤN ÐỀ GIẢ TẠO - NGUYỄN CHÍ
THIỆN ÐẠO THƠ LÝ ÐÔNG A" đánh lạc hướng toàn
bộ cáo buộc danh thép của tác giả Hoa Ðịa Ngục, Hỏa Lò
- Những bản cáo trạng chính xác về tội ác có hệ thống
của chế độ man rợ Hà Nội. Sự việc xẩy ra lần đầu
vào năm 1996, 97, lúc Nguyễn Chí Thiện mới đến Mỹ có ý
đánh dằn mặt anh; nay tháng 11, 2002, được
hâm nóng lại
bởi những người viết mới, vì anh đã có mặt ở phiên
toà xử Nguyễn Ngọc Hạnh, (18 tháng 11, 2002 tại San Francisco)
với tư cách nhân chứng đối với tội ác cộng sản đã
vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Nhân sự tham dự vào tổ
chức có tờ báo tố cáo Nguyễn Chí Thiện năm 1966 kia là
những ông bạn lính rất thân của tôi hằng 40 năm qua; vị
viết bài báo tố cáo anh Thiện đạo thơ Lý Ðông A là bậc
thầy của thế hệ chúng tôi; người viết mới (tố cáo Nguyễn
Chí Thiện) ở hôm nay (11, 2002) là anh, chị em tôi. Tương tựï
như năm 1995, đã có sự kiện kích động, xử dụng một vị
sĩ quan cao cấp ngành Chiến Tranh Chính Trị, Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa, Báo Ða Hiệu, Tổng Hội Trường Võ Bị, Ðài
Phát Thanh Little Sàigòn ở Nam Cali, tố cáo bản thân tôi đã:
"chao đão lập trường chống cộng, phủ nhận Cờ Vàng
Ba Sọc Ðỏ" qua mười một (11) chữ:
"CHÚNG
TA LÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÒN QUÂN, QUỐC KỲ" của
toàn bộ câu viết: "Chúng ta là những Người Lính không
còn Quân, Quốc kỳ, không còn đơn vị, và số quân, nhưng
chúng ta vẫn tiếp tục chiến đấu đấu bởi Lá Cờ ấy
là sức mạnh, hơi thở của chúng ta" của bài viết
dài 32 trang tố cáo hoạt động tình báo cộng sản ở hải
ngoại", "Nhân sự kia, tờ báo ấy, đài phát thanh nọ,
tất cả nào phải người lạ Ai Nằm
Vùng? Ở Ðâu? đối với cá nhân tôi – Ðấy là
những người đã đón tôi vào trường Ðà Lạt, sống cùng
với nhau trong suốt ba năm 1961-1963; Báo Ða Hiệu số 1 (1962)
là tờ báo do phần lớn người trong Khóa tôi (K18) biên tập,
trình bầy; vị sĩ quan "nhà văn lão thành quân đội", người
bắn phát súng lệnh tấn công là giảng viên chiến tranh chính
trị dậy cho tôi bài học đầu tiên về chống cộng trên
mặt trận tư tưởng.
Những bài báo tận diệt nhau
giữa những Bằng Hữu-Huynh Ðệ Miền Nam đang hằng giờ,
hằng ngày xẩy ra như đã, đang xẩy ra từ khi người Việt
vượt chết di tản ra khỏi nước, trưa ngày 30 tháng Tư ,
1975.
Hơn thế nữa, vào lúc những Tổ
Chức Chống Cộng càng ngày càng lộ rõ bị
PHÁ
HOẠI VỀ MẶT TỔ CHỨC, SÁCH LƯỢC (do những nhân sự
cộng san được gài bào trong hệ thống lãnh đạo) thì phần
đông báo chí, cơ quan truyền thanh có cơ sở miền Nam Cali
lại
VÔ TÌNH HỢP THỨC HOÁ SỰ CÓ MẶT CỦA CHẾ
ÐỘ MÀ CHÚNG TA ÐÃ TỪ CHỐI KIA bằng những bản tin
có nội dung: "TỪ THÀNH ÐẾN TỈNH"; BỘ TRƯỞNG
VIỆT NAM TUYÊN BỐ TẠI LIÊN HIỆP QUỐC". Thành tức
là "thành phố hồ chí minh" , tỉnh tức là "Nghệ An, Hà Tĩnh
quê hương của đồng chí tổng bí thư Ðỗ Mười, Lê Khả
Phiêu!" Và viên "bộ trưởng Việt Nam" kia chính là người
vừa bị Cộng Ðồng Người Việt phản đối lần có mặt
ở khu Little Sàigon, Thành Phố Westminster, quận Orange, Tiểu
Bang có người Việt tỵ nạn nhiều nhất thế giới.
Và
đồng thời sách vỡ nghiên cứu đến như của Bernard Fall
cũng có nhận định:
"Hồ Chí Minh là một người thực
hiện, kẻ tổ chức, người khởi động, vàø cuối cùng chính
ông ta là người cha của cả dân tộc..(Phần Dẫn Nhập,
Hồ Chí Minh on Revolution của Fall, Signet Books, NY 1968) được
xử dụng lại trong những hồi lý có "tính chất thú tội"
của
Vũ Thư Hiên, nhưng "tư tưởng họ Hồ" lại được nghiên
cứu qua nhãn quan "hội chứng Marxism thuần túy trong phạm
vi lý thuyết", chứ không hề đả động thành tích giết
người của "bác" - giết đến cả kẻ đã ăn nằm, có con
với y ta - khi "tư tưởng" hiện thực thành hành động.
Người ta tố cáo nhau bằng chữ,
chống cộng và phản chống cộng cũng bằng chữ..
Chế
độ cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tồn tại sau cơn hồng
thủy của thế kỷ - Như cách nói kiêu căng ngang ngược
của Trần Bạch Ðằng khi đánh giá
"thành tích của cái
gọi là đảng ta".
BIẾT ÐẾN BAO GIỜ? HỞ BIẾT ÐẾN
BAO GIỜ?
Phannhậtnam
MN, 12, 12, 2002
|