Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT


.

Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Những Bài Viết Của Phan Nhật Nam

Lời khẩn thiết nhằm chấm dứt hiện tượng phân hóa


Nhân lần đến vùng Nam Cali để tham dự buổi Ðại Nhạc Hội gây quỹ xây dựng Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminter Civic Center, Orange County, Cali vừa qua, chúng tôi đã chứng kiến, được tham dự vào cảnh tượng, sinh hoạt vô vàn xúc động, ngờm ngợp tự hào. Từ sáng sớm ngày 24 tháng 11, đồng bào các giới, đủ mọi lứa tuổi, nhiều thành phần, rất đông người ở những vùng cách xa Orange County hằng trăm dặm, thuộc miền bắc Cali, như San José, Sacramento, San Francisco.. đã vượt khoảng đường bằng chiều dài của Miền Nam, nếu kể thêm đường về hẳn dài hơn đoạn Sài gòn- Hà Nội đến đây họp mặt - Tất cả về đây, tập trung dưới một biểu tượng cao cả: CỜ VÀNG BA SỌC ÐỎ để thực hiện một lễ tạ cảm động – Xây dựng tượng đài biểu hiện Lòng Nhớ Ơn NGƯỜI LÍNH: Lính Việt và Lính Mỹ- những người đã hiến tế thân xác cho cuộc chiến đấu bị ngộ nhận, bị xuyên tạc hằng bốn mươi năm qua, kể từ khi chiến tranh đang độ cao nhất, dẫu lúc thâu đoạt những chiến thắng lẫm liệt như của Mùa Hè 1972. Theo chương trình, một giờ trưa buổi lễ mới khai mạc, nhưng từ sáng sớm rừng người đã tập trung dưới bóng đại kỳ để chuẫn bị lời hát uy nghi.. Nầy Công Dân ơi đứng lên đáp lời sông núi.. Cũng đồng thời minh chứng: Những Người Lính Chính Nghĩa hằng sống mãi với lòng Dân Nhớ Nước. Thêm một lần, Người Việt tỵ nạn cộng sản vùng nam Cali nói riêng, và khắp đất Mỹ, cũng như toàn thế giới nói chung đã xác chứng: Chế độ gọi là cộng sản hiện đang cầm quyền ở Việt Nam là một chế độ phải bị vất bỏ, tiêu trừ bởi chính nó là đầu mối- đầu mối độc nhất và chính danh thủ phạm của tai họa vô lường cả dân tộc phải gánh chịu – kể từ khi tổ chức gọi là Ðảng cộng sản Ðông Dương thành lập vào đầu thế kỷ, ngày 3 tháng 2, 1930. Từ đó đế nay, chế độ độc đảng do tổ chức kia thành lập quả thật "thâu đoạt những thắng lợi to lớn", (nói theo ngôn ngữ của những kẻ cầm quyền ở Hà Nội, Miền Bắc Việt Nam), nhưng đồng thời chúng cũng gây ra chuỗi tai họa cực độ vô lường và thậm tệ tàn hại. Tai họa sau lớn hơn tai họa trước. Tai họa không đường giải cứu. Tai họa không có cách hồi phục. Vùng biển Hoàng Sa, Vịnh Bắc Bộ, lãnh thổ dọc cột mốc biên giới phía Bắc.. Biết đến bao giờ, khi nào, bằng giải pháp gì chúng ta có khả năng lấy lại phần đất, biển, trời bị mất của tổ quốc? Năm 1978, sau đợt cải tạo công thương nghiệp toàn quốc, và tiếp theo đợt cải tạo nông nghiệp do Tố Hữu chỉ huy 1986, cả nước đứng bên bờ vực thiếu đói, Miền Bắc có những làng nông dân dắt díu nhau đi về thành phố xin ăn, làm mướn; Miền Nam sau ba trăm năm mở nước, dựng nước trong sung mãn, phồn vinh, nay con người bắt đầu xử dụng những thức ăn mà trước đây chỉ dùng để nuôi gia súc: khoai, sắn, bo bo.. Một viên chức chính quyền trung ương nơi Hà Nội phải kêu lên: "Một trăm năm thực dân Pháp phá không bằng mười năm xã hội chủ nghĩa Hà Nội". Cũng tương tự như thế, chúng ta có thể nói thêm: "Một ngàn năm Bắc thuộc từ đầu Thế kỷ thứ Nhất sau Công Nguyên đến năm Ngô Quyền xưng đế, 939, tiền nhân Người Việt phát triển, xây dựng được một vùng đất nước chỉ bằng phần đất và vịnh biển mà tập đoàn cầm quyền Miền Bắc đã cống hiến cho người Hoa trong một nhiệm kỳ đại hội đảng". Ðiều tồi tệ chính trị và sa đọa quyền lực của tập đoàn bộ chính trị trung ương đảng cộng sản Việt Nam đã được xác chứng rõ hơn ở hải ngoại: Lá cờ đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam, cờ búa liềm màu đỏ; và cờ của tổ chức quyền lực chính trị tập trung nơi Hà Nội, cờ đỏ sao vàng, sau gần ba mươi năm cưỡng chiếm Miền Nam- lá cờ mầu đỏ đáng nguyền rũa kia không hề được dựng nên bất kỳ nơi đâu có cộng đồng người Việt. Dẫu nó đã, đang là biểu trưng cho một chính phủ hợp hiến, hợp pháp của một quốc gia; dù rằng trong những thập niên 1960, 70, nó đã từng được dẫn đầu những đoàn biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam ở Paris, Washington, Seoul, Tokyo.. lẽ tất nhiên cũng có mặt chính thức nơi những quốc gia cộng sản thuộc vùng Ðông Âu. Nhưng từ ngày 30 tháng 4, 1975 đến nay lá cờ ấy hoàn toàn mất bóng trên khắp thế giới. Toàn thể Người Việt đồng nhất thiết chối từ lá cờ lấm máu kia (lẽ tất nhiên không tính tổng số những nhân viên, và gia đình của những người thuộc toà đại sứ, lãnh sự quán chế độ Hà Hội đang có mặt ở Mỹ và tập thể cán bộ cộng sản nằm vùng) và đương nhiên xếp đội ngũ dưới Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ- Bởi đấy là biểu tượng thuần thành, chính thống của Nền Cộng Hòa và Tổ Quốc Việt Nam.

Nhưng đau đớn, cay đắng thay, những người anh em, những cá nhân người Việt hôm nay chung đứng dưới lá cờ uy nghi, cảm động và tự hào kia cũng chính là tác nhân - Chủ Thể lẫn Ðối Tượng - Người khởi đầu, xây dựng, thực hiện quá trình hành động; và đồng thời cũng là nạn nhân hứng chịu, mục tiêu công kích của một hệ thống xung đột, đánh phá toàn diện, dai dẵng, cùng khắp. Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường nầy đã, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt. Bài viết khẩn thiết nầy phải được viết nên nhằm vào một mục tiêu cụ thể: Nói cho đến tận cùng về nguyên nhân khởi đầu, động lực thực hiện sự phân hoá.

Phần thứ Nhất: Nguyên nhân thuộc phía đối phương:

Chúng ta có thể nói ngay mà không phải ngại ngần do e sợ vấp phạm nhầm lẫn - Nguyên nhân đầu tiên do tổ chức tối cao điều động, chỉ huy ấy là Cục Tình Báo Hải Ngoại trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng cộng sản Hà Nội. Cơ quan nầy không phải chiû thành lập từ sau 30 tháng 4, 75 khi có mặt hằng triệu người Việt trên khắp thế giới, ở mọi nơi trên đất Mỹ, mà đã có mặt cùng lần với đảng cộng sản Ðông Dương do chính Hồ chí Minh thành lập, chỉ huy, điều hành, huấn luyện cán bộ trong khuôn khổ chung với họat động tình báo của Liên bang Nga Sô-viết. Bởi, thoạt kỳ thủy lúc còn là Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Aùi Quốc, Nguyễn Tất Thành cho đến ngày trở thành chủ tịch nước với bí danh cuối cùng, Hồ Chí Minh, con người nầy luôn luôn và chỉ là một cán bộ tình báo cao cấp của Ðệ Tam quốc tế. Với Cục Tình Báo Hải Ngoại nầy trong chiến tranh Việt Nam (giai đoạn 60-70) vài chục thước hầm đào tay ở Củ Chi (Tây-Bắc Sài gòn khoảng 30 cây số đường bộ, vùng Tỉnh Hậu Nghĩa) biến hóa trở nên "thành phố bí mật dưới đất", có khả năng nuốt gọn hằng ngàn lính của các đại đơn vị lừng danh của Mỹ như Sư Ðoàn 1 (Big Red One); 25 Bộ Binh, với hàng trăm, ngàn chiến xa bị chôn sống (!), dẫu chúng đã bị các xe ủi đất hạng nặng của công binh Mỹ đào tận gốc trong hai cuộc hành quân lớn, Cedar Fall, và Junction City khai diễn đầu năm 1967 để mở rộng vòng đai an ninh Sài Gòn, bạch hoá hai vùng gọi là "Chiến Khu C; Tam Giác Sắt", tây-bắc Sài Gòn. Với điều động dẫn dắt của cán bộ cục tình báo quốc ngoại, các sinh viên du học ra đi từ Miền Nam vừa mới đặt chân đến Pháp, các quốc gia Tây Âu, Nhật, Úc, nhất là Canada, Mỹ, đã có người đến tận phòng ngủ giúp làm bài, đưa đi sinh hoạt, dự liên hoan thanh niên, và cuối cùng học tập tài liệu "mặt trận".. Chỉ trong thời gian ngắn, những người trẻ tuổi ra đi do học bổng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp, xuống đường, đi đầu các đoàn biểu tình với lời hô lớn "Yankee Go Out of Vietnam", những Ðoàn Hồng Hải, Nguyễn Thái Bình, Huỳnh Hữu Tuệ.. của những thập niên 60, 70. Cô Lê Thị Ngôn năm 1970, 19 tuổi du học do Hội Thánh Tin Lành bảo trợ, và dẫu cha là sĩ quan cao cấp hàng đầu của ngành tình báo, Ðại Tá Lê Ðạt Công, Quân Ðoàn III, Biên Hòa, nhưng chỉ sau vài ba tháng ở Mỹ, đã trở nên thành một chiến tướng xuống đường của Ðại Học Georgetown (Washington, DC) trong suốt khoá học. Sau ngày 30 tháng 4, 1975 cơ quan tình báo hải ngoại nầy được tăng cường tối đa thành phần nhân sự theo đường di tản với người Việt tỵ nạn mà không một ai có khả năng kiểm chứng, phân biệt thế nào là "cán bộ tình báo cộng sản và người tị nạn cộng sản"- trong thành phần lẫn vào người di tản, người vượt biên , người đi theo diện HO, ODP, sau nầy thêm khối nhân sự từ phía các nước cộng sản Ðông Âu?! Tỷ lệ cán bộ công an (công an ngành tình báo) trong số người vượt biên là 2/5- Công an tổ chức vượt biên, công an bán bãi vượt biên, công an bảo vệ cuộc vượt biên, công an đi bắt vượt biên, và cuối cùng - công an cùng vượt biên đến Mỹ. Chúng tôi không hề đặt điều hài hước, hoặc bày dựng nên chuyện quá độ, vì chỉ riêng bản thân cá nhân, trước khi bước lên máy bay theo đợt HO 22, trong phòng phỏng vấn ở đường Nguyễn thị Minh Khai (Pasteur cũ) đã thấy tận mắt viên công an phường Dakao, trụ sở gần Trường Lê Văn Duyệt. Thế nên phải kể đến Lưu Thừa Chí, (Khóa 18 Trường Ðà Lạt, thiếu tá ngành an ninh quân đội); Thái Sơn Vân (Khóa 19), nhưng cũng là các thượng úy cộng sản hiện thực trong ngày 30 tháng Tư, 1975; nay, những sĩ quan cộng hòa - cán bộ cộng sản đã có mặt đủ ở Mỹ theo các đợt HO sớùm nhất, tham dự chặt chẽ với sinh hoạt Tổng Hội Trường Võ Bị. Ðấy là chưa kể thành phần chiêu mộ từ các trại tỵ nạn vùng Ðông-Nam Á trong những ngày "kháng chiến" của thập niên 80 mà Ðại Uùy Bùi Văn Nam Sơn, Tiểu Khu Gia Ðịnh là một điễn hình: Sơn "trốn trại" Long Giao (tháng 5, 1976), vượt biên đến Thái Lan, chỉ huy "quân đội cách mạng" của tổ chức Lê Quốc Túy, xong trở về nước "giải phóng tổ quốc". Cuối cùng - đạo binh cứu quốc trình diện đủ tại phòng hỏi cung công an thành phố HCM không thiếu một người. Cũng thế, một tên vô lại vô danh tiểu tốt nào đó gọi là Trần Trường không thể nào vô cớ đơn thân hành động ngang ngược đòi treo cờ đỏ giữa cộng đồng người Việt nơi vùng Westminster, nếu không có người và tổ chức tình báo cộng sản nằm vùng kia điều động, yểm trợ tối đa tài chánh. Và cuối cùng, sách, báo, băng nhạc, đoàn văn công, dịch vụ thương mại, giao lưu văn hoá, chuyển giao tin học, giáo dục, kỹ thuật.. Người và việc của Việt Nam cộng sản hiện diện hầu như một điều hiển nhiên trên đất Mỹ, ở Thủ Ðô Người Tỵ Nạn - Chủ đề chúng tôi đã trình bày trong tiểu luận tháng 10 vừa qua. Hôm nay, nhắc lại sự kiện xâm nhập, điều động của Cục Tình Báo Hải Ngoại cộng sản để nhấn mạnh về một khía cạnh khác: Cơ quan nầy là đầu mối gây nên hiện tượng hỗn loạn trong sinh hoạt chính trị người Việt. Nó gây nên hiện tượng mạ lỵ những cá nhân khả kính như cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, những người trung chính cao thượng như Giáo sư Nguyễn Ðình Huy, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Thượng Tọa Quảng Ðộ; nó cung cấp những "tài liệu đáng tin cậy để hoạt kê hoá, hề hóa" những hành vi của Lý Tống, Nguyễn Ngọc Hạnh; nó tạo nên một cơn lốc vấy bẩn không từ một ai, bày đặt nên những điều thậm tệ vô lý mà một cá nhân có lương tri, lương năng bình thường không bao giờ vấp phạm, thực hiện: Hạt lúa "đỏ tượng trưng hy vọng dân tộc" trong băng nhạc Thúy Nga Mẹ 40; trực thăng quân lực cộng hòa xuất hiện cùng lần với cảnh chiến tranh tàn phá; hoặc nay với vấn đề Nguyễn Cao Kỳ phê phán, định giá chiến tranh "nhỏ nhoi bẩn thỉu"; hay Nguyễn Chí Thiện là "cán bộ tình báo cộng sản giả danh" mà Hoa Ðịa ngục là đạo thơ của Lý Ðông A (!) Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ càng dâng cao, những vấn đề giaû đặt ra càng ngày càng nhiều - Nhiều quá độ để lực lượng quốc gia sẽ có một ngày mất sức - Ngày chúng ta mệt mõi, ngã lòng không phải vì cuộc chiến đấu trên đường lớn nhưng do những viên đá ném ra bởi bằng hữu, anh em ta. Do bàn tay của chính những người rất mực thân thiết vô vàn - Những Ðồng Bào cùng ta chia sẽ Mối Ðau chung của Tổ Quốc Việt Nam.

Biết bao giờ! Biết bao giờ chúng ta mỗi người hiểu ra ngọn nguồn đơn giản, cay đắng, khắc nghiệt nầy để ngừng tay ném đá anh em ta.

Phần thứ Hai: Vấn đề của chúng ta:

Chúng tôi đã trình bày xem như tạm đủ về vấn đề của phía đối phương - thành phần nhân sự cộng sản đang cầm quyền trong nướùc, hoặc nằm vùng ở hải ngoại, trong Cộng Ðồng Người Việt. Nay đến phần câu chuyện của người Việt phía quốc gia, những người tỵ nạn cộng sản, ra đi từ Miền Nam, trốn thoát từ Miền Bắc, đào tỵ từ các nước cộng sản Ðông âu sau 1989.

Sau một thời gian gần 30 năm kể từ 1975, do những "chuyển đổi thực tế" của đời sống xã hội, văn hóa, sinh hoạt vật chất, tâm lý, tình cảm, một số không nhỏ (phần đông đi trong những ngày trước, hoặc thời gian ngắn ngay sau ngày 30 tháng Tư)- những người chưa thực sự nếm đòn thù của chế độ cộng sản ở Việt Nam đã nhìn chế độ ấy với nhãn quan dung thứ và coi như một điều "tất nhiên". (Quả thật chúng tôi cũng có phần ngần ngại dùng danh xưng "cộng sản" để chỉ tổ chức hiện đang cầm quyền ở Việt Nam - Vì chế độ kia hiện chỉ là tổng hợp một thứ tổ chức tập quyền, gia trưởng, hương đảng làng, xã (dù đơn vị làng, xã không còn tồn tại từ hơn nửa thế kỷ nay), quần hội - Hình thái tổ chức đảng bạo lực của một nhóm người cố kết nhau từ, bởi quyền lợi vật chất - thuần túy là chia sẻ quyền lợi với nhau - Chúng tôi sẽ trở lại vấn đế nầy ở phần cuối bài viết.) Nhóm người nầy hầu như phản ứng rất hạn chế đối với người, việc phát sinh từ chế độ gọi là cộng sản ở Việt Nam - những con trẻ sinh ở Mỹ thì quả thật ý niệm, kinh nghiệm đối với cộng sản là một vấn đề không hề tồn tại. Số lượng bạn trẻ thuộc thành phần nầy góp mặt với cuộc tranh đấu chung với chúng tôi là con số quá nhỏ so với đám đông không ý niệm về, không quan hệ đến.

Nhóm thứ hai, gồm thành phần người đến Mỹ trong giai đoạn vượt biên (70-80); ra đi theo chương trình ODP, đoàn tụ gia đình; và số đông quân nhân, công chức, nhân viên hai chính phủ Việt - Mỹ và gia đình của họ đến Mỹ qua Chương Trình HO, khởi sự từ đầu năm 1990. Nhân sự trong khối đông thuộc thành phần lại nầy có thể chia thành hai nhóm chính như sau:

1/ Những người, tập thể còn nhiều ràng buộc với thân nhân, gia tộc ở Việt Nam, hoặc do có sinh hoạt dịch vụ, nhà cửa, thương mải, du lịch, giáo dục, tôn giáo, xã hội với tổ chức, người trong nước nên chấp nhận chế độ kia như là một đơn vị hành chánh, tài chánh ắt có, cần thiết - và hệ quả nẩy sinh là vấn đề chống cộng không còn là điều sinh tử - dẫu rằng họ cũng đã kinh qua những đau thương mất mát do chế độ nầy hành xử, tác động lên chính bản thân, gia đình trực hệ của họ. Và, chúng tôi cũng không đề cập đến thành phần thoả hiệp toàn phần với chế độ cầm quyền ở Việt Nam để cầu lợi, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân, bất chấp chế độ ấy tồi tệ, xấu xa như thế nào. Số đông nầy không phải nhỏ nhưng không là mục tiêu của bài viết nầy.

2/ Những người, nhóm người nạn nhân trực tiếp hứng chịu toàn thể khổ nạn do hành vi, chính sách thực hiện bởi người, chế độ cộng sản không phải chỉ từ 1975 mà cả những năm trước nữa qua các biến cố, 1972, 1968, hoặc xa hơn từ những năm 1954, 45: NHỮNG NGƯỜI QUYẾT LIỆT KHÔNG KHOAN NHƯỢNG ÐỐI VỚI CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN TRONG BẤT CỨ TÌNH HUỐNG, ÐIỀU KIỆN, THỜI ÐOẠN NÀO, DẪU KHI ÐỐI DIỆN VỚI CÁI CHẾT- BỞI VÌ HỌ ÐÃ HIỂU NGHĨA SỰ CHẾT GÂY NÊN BỞI CHỦ NGHĨA BẤT NHÂN VÔ LƯỢNG GỌI LÀ CỘNG SẢN.

Nhưng tất cả những thành phần trên, dẫu chính kiến khác nhau như thế nào, kể cả thành phần thuần nhất chống cộng vừa kể bên trên đồng có những đặc trưng về sinh hoạt chính trị như sau:

  • Không HÌNH THÀNH ÐƯỢC MỘT TỔ CHỨC CHỐNG CỘNG (NẾU KHÔNG HƠN THÌ CŨNG PHẢI CÓ MỘT CƠ CẤU TƯƠNG ÐỐI VỮNG) KHẢ THỂ ÐƯƠNG CỰ VỚI TỔ CHỨC GỌI LÀ ÐẢNG CỘNG SẢN HIỆN CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM, ÐANG ÐIỀU ÐỘNG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG LỰC LƯỢNG QUỐC GIA Ở HẢI NGOẠI.
  • Không đối xử với người, chế độ cộâng sản như là MỘT TỔ CHỨC mà chỉ tấn công đối phương như những CÁ NHÂN RIÊNG RẺ - từng đối tượng cá nhân người cộng sản do "cảm tính cá nhân" của bản thân mình, chứ không do một THÙ HẬN CHÍNH TRỊ – ÐỐI NGHỊCH TUYỆT ÐỐI VỀ QUAN ÐIỂM CHỈ ÐẠO VÀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN.
  • Từ hai xuất phát cơ bản trên, người Việt chống cộng ở hải ngoại THAY VÌ "TẬP TRUNG" NĂNG LỰC ÐỂ CHỐNG CỘNG lại vận dụng THÀNH SỨC MẠNH "BỊ PHÂN TÁN" ÐỂ TẤN CÔNG ANH EM MÌNH, BỞI VÌ NGƯỜI ANH EM NẦY CÓ MỘT "QUAN ÐIỂM CÁ NHÂN CHỐNG CỘNG" KHÁC BIỆT MÌNH.
Ba điều trên đồng xẩy ra cùng một lúc, yếu tố nầy là nguyên nhân, và hậu quả của sự kiện kia. Và hôm nay, dẫu sau 28 năm mất Miền Nam Lá CỜ VÀNG- Biểu trưng NỀN CỘNG HÒA vẫn tồn tại là do những Cá Nhân Chống Cộng kia duy trì, bảo vệ. Nhưng phải đến một lúc - thời điểm ấy không xa - Những cá nhân chống cộng ấy không còn nữa, và vấn đề cuối cùng càng hiện rõ ra: Chúng ta vẫn không có một Tổ Chức Chống Cộng hữu hiệu vì - Những Cá Nhân Chống Cộng đã, đang tiếp tục bị đánh vỡ không phải do kẻ địch mà bởi chính anh em mình.

Sự kiện tác hại của hiện tượng trên không phải không được nhìn ra, nhưng bởi những nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng lần xuất hiện, chẳng phải chỉ riêng từ tâm lý người Việt, nhưng rõ ràng đến cả những nhân sự tài giỏi tiếng tăm trên toàn thế giới vẫn không nhìn ra được phần hiễm độc vô lượng (được ngụy trang) rất mực tinh xảo của người cộng sản Việt Nam. Chúng ta không bi quan nhưng cần phải thực tế kiểm chứng lại..

Nầy đây, chúng ta hãy nhìn lại những cách đánh giá, định lượng về người, các tổ chức chống cộng (do chính các cơ quan truyền thông, báo chí người Việt phổ biến - theo quan điểm cá nhân của những nhân sự điều hành, phụ trách cơ quan, tờ báo kia): "Giáo sư Nguyễn Ðình Huy (hiện tiếp tục bị tù ở trong nước, sắp đến năm thứ 30 kể từ 1975), bị kết tội "thỏa hiệp (đối lập cuội) với cộng sản" qua hoạt động phối hợp với Giáo Sư Stephen B. Young, Tiểu Bang Minnesota vận động cuộc hội thảo dân chủ cho Việt Nam. Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị kết án "ngôn sứ đô-la" trong khi chịu án tù lần thứ ba trong đời với tổng số đã quá 20 năm kể từ ngày mất Miền Nam. Nguyễn Chí Thiện bị cáo buộc "giả danh Nguyễn Chí Thiện", đạo thơ của Lý Ðông A. Lý Tống, mô tả như một loại "anh hùng rơm"; Nguyễn thị Ngọc Hạnh bị gán cho danh từ khinh thị, "anh thư dỡm"… Như thế là thế nào? Chúng tôi không ghi rõ danh tính những cá nhân, bài báo, cơ quan truyền thông phát xuất từ những lời buộc tội kia không phải vì ngại ngùng sẽ bị họ tuyên chiến, nhưng bởi không muốn đến phiên mình bị rơi vào "bẫy kế" rất hiệu quả (của cơ quan cộng sản điều hành hoạt động quấy phá có hệ thống nầy, đã trình bày trong phần 1).Và chúng tôi lại càng không hề cáo buộc cá nhân, cơ quan truyền thông, tờ báo thân hữu ấy là "tay sai Việt cộng nằm vùng". Hoàn toàn không phải là như thế, bởi vì bản thân cá nhân chúng tôi hơn ai hết hằng quen biết, giao tiếp với những nhân sự ấy suốt bao năm qua từ lúc tất cả còn là những người tuổi trẻ ở Miền Nam trong những thập niên 60, 70. ÐẤY LÀ ANH EM CỦA MỖI CHÚNG TÔI. CHÍNH LÀ CHÚNG TA.

THẾ NÊN, VẤN ÐỀ ÐẶT RA LA:Ø NHÂN SỰ, TỔ CHỨC NÀO ÐÃ CUNG CẤP ÐẾN ký giả của một tờ báo nầy những yếu tố (không được phổ biến, được bảo vệ bởi quy định, pháp luật Mỹ; những dữ kiện rất chính xác) về trương mục ngân hàng; số an sinh xã hội; số thẻ di trú; thời điểm gọi điện thoại; nội dung buổi điện đàm.. của một nhân sự, tổ chức khác để cuối cùng, ký giả kia viết nên những bài báo "không thể nào chính xác hơn, như một bản điều tra tư pháp". Hoặc cách thức cung cấp đến tờ báo, cơ quan ngôn luận của một tổ chức chống cộng, những bài thơ của Nguyễn Chí Thiện (chưa hề được phổ biến); để rồi qua một bài viết (dĩ nhiên đăng trên tờ báo khởi đầu vụ tố cáo nầy) của một nhân vật có tài năng, đức độ, tiếng tăm ở Miền Nam trước đây trong lãnh vực y khoa (nhưng không phải là nhà nghiên cứu văn học nên không thể biết tường tận THƠ NÀO THẬT, GIẢ của Lý Ðông A hay Nguyễn Chí Thiện) có cáo buộc rằng: "Ðấy là thơ của nhà cách mạng Lý Ðông A (cũng chưa hề được phổ biến) mà Nguyễn Chí Thiện đã mạo danh." Ai có khả năng kiểm chứng, thi ca nào thật, lời thơ nào giả vì tất cả (thật lẫn giả đều chưa hề phổ biến). Ðể cuối cùng "VẤN ÐỀ GIẢ TẠO - NGUYỄN CHÍ THIỆN ÐẠO THƠ LÝ ÐÔNG A" đánh lạc hướng toàn bộ cáo buộc danh thép của tác giả Hoa Ðịa Ngục, Hỏa Lò - Những bản cáo trạng chính xác về tội ác có hệ thống của chế độ man rợ Hà Nội. Sự việc xẩy ra lần đầu vào năm 1996, 97, lúc Nguyễn Chí Thiện mới đến Mỹ có ý đánh dằn mặt anh; nay tháng 11, 2002, được hâm nóng lại bởi những người viết mới, vì anh đã có mặt ở phiên toà xử Nguyễn Ngọc Hạnh, (18 tháng 11, 2002 tại San Francisco) với tư cách nhân chứng đối với tội ác cộng sản đã vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Nhân sự tham dự vào tổ chức có tờ báo tố cáo Nguyễn Chí Thiện năm 1966 kia là những ông bạn lính rất thân của tôi hằng 40 năm qua; vị viết bài báo tố cáo anh Thiện đạo thơ Lý Ðông A là bậc thầy của thế hệ chúng tôi; người viết mới (tố cáo Nguyễn Chí Thiện) ở hôm nay (11, 2002) là anh, chị em tôi. Tương tựï như năm 1995, đã có sự kiện kích động, xử dụng một vị sĩ quan cao cấp ngành Chiến Tranh Chính Trị, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Báo Ða Hiệu, Tổng Hội Trường Võ Bị, Ðài Phát Thanh Little Sàigòn ở Nam Cali, tố cáo bản thân tôi đã: "chao đão lập trường chống cộng, phủ nhận Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ" qua mười một (11) chữ: "CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÒN QUÂN, QUỐC KỲ" của toàn bộ câu viết: "Chúng ta là những Người Lính không còn Quân, Quốc kỳ, không còn đơn vị, và số quân, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục chiến đấu đấu bởi Lá Cờ ấy là sức mạnh, hơi thở của chúng ta" của bài viết dài 32 trang tố cáo hoạt động tình báo cộng sản ở hải ngoại", "Nhân sự kia, tờ báo ấy, đài phát thanh nọ, tất cả nào phải người lạ Ai Nằm Vùng? Ở Ðâu? đối với cá nhân tôi – Ðấy là những người đã đón tôi vào trường Ðà Lạt, sống cùng với nhau trong suốt ba năm 1961-1963; Báo Ða Hiệu số 1 (1962) là tờ báo do phần lớn người trong Khóa tôi (K18) biên tập, trình bầy; vị sĩ quan "nhà văn lão thành quân đội", người bắn phát súng lệnh tấn công là giảng viên chiến tranh chính trị dậy cho tôi bài học đầu tiên về chống cộng trên mặt trận tư tưởng.

Những bài báo tận diệt nhau giữa những Bằng Hữu-Huynh Ðệ Miền Nam đang hằng giờ, hằng ngày xẩy ra như đã, đang xẩy ra từ khi người Việt vượt chết di tản ra khỏi nước, trưa ngày 30 tháng Tư , 1975.

Hơn thế nữa, vào lúc những Tổ Chức Chống Cộng càng ngày càng lộ rõ bị PHÁ HOẠI VỀ MẶT TỔ CHỨC, SÁCH LƯỢC (do những nhân sự cộng san được gài bào trong hệ thống lãnh đạo) thì phần đông báo chí, cơ quan truyền thanh có cơ sở miền Nam Cali lại VÔ TÌNH HỢP THỨC HOÁ SỰ CÓ MẶT CỦA CHẾ ÐỘ MÀ CHÚNG TA ÐÃ TỪ CHỐI KIA bằng những bản tin có nội dung: "TỪ THÀNH ÐẾN TỈNH"; BỘ TRƯỞNG VIỆT NAM TUYÊN BỐ TẠI LIÊN HIỆP QUỐC". Thành tức là "thành phố hồ chí minh" , tỉnh tức là "Nghệ An, Hà Tĩnh quê hương của đồng chí tổng bí thư Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu!" Và viên "bộ trưởng Việt Nam" kia chính là người vừa bị Cộng Ðồng Người Việt phản đối lần có mặt ở khu Little Sàigon, Thành Phố Westminster, quận Orange, Tiểu Bang có người Việt tỵ nạn nhiều nhất thế giới. Và đồng thời sách vỡ nghiên cứu đến như của Bernard Fall cũng có nhận định: "Hồ Chí Minh là một người thực hiện, kẻ tổ chức, người khởi động, vàø cuối cùng chính ông ta là người cha của cả dân tộc..(Phần Dẫn Nhập, Hồ Chí Minh on Revolution của Fall, Signet Books, NY 1968) được xử dụng lại trong những hồi lý có "tính chất thú tội" của Vũ Thư Hiên, nhưng "tư tưởng họ Hồ" lại được nghiên cứu qua nhãn quan "hội chứng Marxism thuần túy trong phạm vi lý thuyết", chứ không hề đả động thành tích giết người của "bác" - giết đến cả kẻ đã ăn nằm, có con với y ta - khi "tư tưởng" hiện thực thành hành động.

Người ta tố cáo nhau bằng chữ, chống cộng và phản chống cộng cũng bằng chữ.. Chế độ cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tồn tại sau cơn hồng thủy của thế kỷ - Như cách nói kiêu căng ngang ngược của Trần Bạch Ðằng khi đánh giá "thành tích của cái gọi là đảng ta".

BIẾT ÐẾN BAO GIỜ? HỞ BIẾT ÐẾN BAO GIỜ?

Phannhậtnam
MN, 12, 12, 2002


Trang Bìa 
Ðầu trang