Lá
Cờ Vàng - Nền Cộng Hòa -
Tổ
Quốc Việt Nam - Là Một
Cờ bay!
Cờ bay!
Giữa vũng lửa
Trầm trầm dân, lính nước mắt
ứa
Một lần Cờ bay Vàng thành xưa
Bao phần máu xương Người Việt
đổ...
Cờ Vàng Ba
Sọc Ðỏ là chung của tất cả Chúng Ta - Dân Tộc
nơi Phương Nam dựng phận nghiệp Khổ Ðau nhưng Siêu Việt.
Cờ Vàng Ba Sọc đỏ là mối biễu
tượng thuần thành, chính thống nhất-Bởi Cờ đã dựng lên
uy nghi suốt giải quê hương từ Aûi Nam Quan, miền núi cực
bắc Ðồng Ðăng, Cao Bằng, Lạng Sơn, đến Mũi Cà Mâu, vùng
đầm lầy Quản Long, An Xuyên, cuối nguồn Cửu Long, Sông Cái.
Dẫu Cờ mất đi quyền hiện diện
chính trị.
Nhưng Cờ vẫn linh thiêng vĩnh hằng
tồn tại nơi trái tim, và hơi thở chúng ta.
Cờ bay không ngừng như máu chảy
tự thân.
Lá Cờ Vàng – Nền Cộng Hòa
- Tổ Quốc Việt Nam là Một.
Ngày 26 Tháng Mười, Năm 1955, nền
Cộng Hòa khai sinh ở Thủ Ðô Sài Gòn với danh hiệu chính
thức: Việt Nam Cộng Hòa thay thế danh hiệu Quốc
Gia Việt Nam, thể chế chính trị thành hình từ 8 tháng
Ba, 1949, ngày Hiệp Ước Elysée ký kết giữa Tổng Thống Cọng
Hòa Pháp Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Ðại chấm dứt
65 năm thuộc Pháp (1884-1949). Chức vụ nguyên thủ quốc gia,
"Tổng
Thống thay thế danh xưng Quốc Trưởng".
Ngày 8 tháng 3,
1956, Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa chính thức công
bố Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ là Quốc Kỳ,
Quốc Huy
của nước là hình Cây Trúc
biễu tượng Tinh Thần
Chính Nhân, Ðại Nghĩa của Dân Tộc Việt Nam.
Chúng ta hôm nay cần nhắc lại những
sự kiện, thời điểm lịch sử kể trên để cùng nhau xác
chứng lại một điều hiễn nhiên: Lá Cờ Vàng, danh hiệu
Việt Nam Cộng Hòa là một Thực Thể Chính Trị- Biễu Tượng
Quốc Gia- Lý Chính Nghĩa- Sức Chiến Ðấu của vạn, triệu
Người Việt dài theo cùng Thế Kỷ 20 và trước đây, lẫn
mai hậu. Dẫu hôm nay có những âm mưu đê tiện, thâm độc
đòi xoá bỏ đi biễu tượng cao quý nhiệm mầu trên vì nại
cớ chúng đã có liên hệ với những nhân sự, vụ,ïï việc
gây nhiều lầm lỡ của giai đoạn từ sau cuộc đại chiến
thế giới lần hai (1945) đến ngày thiên thu uất hận 30 tháng
4, 1975. Chúng ta phải vô cùng sáng suốt cảnh giác trước
mưu hiễm của kẻ nghịch cùng đồng lõa và kiên trì giữ
vững niềm tin, sức chiến đấu: Bởi máu của anh em ta, của
cả dân tộc khổ nạn đã tô thắm thêm ba đỏ vạch sắc
son nầy. Và Cộng Hòa không chỉ là danh xưng về thể chế
chính trị, nhưng là mục đích tối thượng của toàn khối
Người Việt luôn kiên tâm thực hiện Sống xứng đáng Giá
Trị Con Người, giữ gìn bền bỉ Phẩm Tính Dân Tộc.
Nền Cộng Hòa, Cờ Tam Tài "Xanh-Trắng-Ðỏ"
luôn là biễu tượng huy hoàng, vĩ đại của Dân Tộc Pháp,
và cũng của toàn nhân loại về nỗ lực thực hiện ý niệm
"Cộng Hòa-Tự Do-Dân Chủ"û, dẫu Cách Mạng 1789 phải trả
bằng giá máu kinh hoàng của bao người vô tội do tay những
kẻ khủng bố tàn nhẫn.
Mao Trạch Ðông đã không tùy nghi
vô cớ liên kết cách mạng vô sản với cuộc Chiến Tranh
Nha Phiến 1884 giữa Triều Ðình nhà Thanh với những đại
cường Tây Phương trong buổi lễ vĩ đại ngày 1 tháng 10,
1949 nơi Quảng Trường Thiên An Môn mừng lần thành lập nước
Cộng Hòa Nhân Dân - Bởi đấy là Truyền Thống chiến đấu
giữ nước của Dân Tộc Trung Hoa.
Chúng ta không thể tạo dựng nên
điều vô cớ, bởi lá Cờ Vàng quả thật đã thấm đẫm
lượng máu vô hạn của lớp lớp Người Việt quyết tử
để Dân Tộc tồn sinh. Giòng máu oanh liệt của nhị vị Trưng
Nữ Vương hòa xuống Hát Giang năm 43 lúc nước vừa mới tượng
hình được tiếp nối với lượng sóng sông Bạch Ðằng của
kỳ giữ nước quang vinh, Thế Kỷ 13 quân Nhà Trần đánh tan
ba lần đạo binh bách thắng Nguyên Mông. Từ bậc quân vương,
đến người lính đầu bạc, cũng như ngựa đá phải chồn
chân, hãn huyết xông lên trận tiền giữ nước. Ðấy cũng
là giòng máu kiên trung, hiến thân cho mệnh nước hằng tuôn
chảy không ngừng khi Chiến Hạm Nhựt Tảo-Hải Quân 10 chìm
xuống, hòa lẫn màu biển Hoàng Sa ngày 19 tháng 1, 1974, cùng
thân xác Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà, và những Người Lính
Hải Quân Quân Lực Cộng Hòa giữ gìn trời, biển phương
Nam.
Thế nên, Cờ không chỉ giới hạn
là biễu hiện của riêng những chế độ cầm quyền, với
Quốc Gia Việt Nam hay hai nền Cộng Hòa. Và Cộng Hòa là ý
niệm tối thượng của cuộc sống- chiến đấu bất tận
trên vùng đất lửa phương Nam. Dẫu sống vô cùng nguy biến
đau thương như hằng hằng những đoàn người chạy loạn
cộng sản-Từ cuộc di cư vĩ đại năm 1954 rời bỏ Miền
Bắc; lần chạy nạn Tổng Công Kích Mậu Thân 1968; cảnh Mùa
Hè Ðỏ Lửa suốt ba vùng đất nước năm 1972, và lần oan
khốc uất hận khi mất Cao Nguyên từ ngày 10 tháng 3, 1975 để
đến hôm nay hiện thực với hai triệu người có mặt ở
hải ngoại – Những NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN ÐỂ
THỰC HIỆN Ý NIỆM CỘNG HÒA.
Vậy, chúng ta phải khẳng định
lại thêm một lần: Lá Cờ Vàng - Danh Hiệu Cộng Hòa là sức
mạnh chuyển giòng đấu tranh xuyên suốt lịch sử từ những
lần vị quốc vong thân sáng ngời trung liệt của Hoàng Diệu,
Nguyễn Tri Phương khi thành mất; của Trương Công Ðịnh, liệt
sĩ Vàm Láng, Gò Công; của Nguyễn Trung Trực với chiến công
vang động giòng Vàm Cỏ, Long An: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh
thiên địa. Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần",
cho đến
lần Cờ lên trên Kỳ Ðài Cố Ðô Huế, sáng Mùa Xuân Mậu
Thân, 24 tháng Hai, 1968..
Quân dân ta nên một lần
bật khóc
Khi lá Cờ Vàng Ba Sọc
Lừng lững lên cao
Giữa mờ sương xứ Huế sáng
Xuân nào!
Danh hiệu Cộng Hòa bao gồm trong lời
hô uy dũng của mười ba Liệt Sĩ Quốc Dân Ðảng "Việt
Nam Ðộc Lập Muôn Năm" nơi Yên Bái, sáng sông núi gờn
gợn đau thắt, 17 tháng 6, 1930, không khác ý niệm quyết tử
"Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm" của trung đội lính Nhảy
Dù do Thiếu Uùy Huỳnh Văn Thái chỉ huy, đã chọn giây phút
báo đền ân nghĩa quê hương với chính xác thân mình nỗ
tung bởi trái lựu cuối cùng, buổi sáng 30 tháng Tư, 1975 nơi
bùng binh Ngã Sáu, Chợ Lớn. Danh hiệu Cộng Hòa linh thiêng
kia đã bừng lên soi rạng khoảng trời đất u tối sáng 29
tháng 4, 1975 khi chiếc Hỏa Long C119 của Trung Uùy Nguyễn Văn
Thành bốc cháy trên không gian Tân Sơn Nhất, Gia Ðịnh. Và
giá trị Cộng Hòa mải mải tồn tại trong thanh âm quyết
liệt của Hồ Ngọc Cẩn, Trần Văn Bá khi đối diện với
nòng súng của trung đội hành hình.
Chúng ta hôm nay cũng tương tự tình
cảnh của những người Việt lưu vong đầu thế kỷ ở Sa
Khôn, Thái Lan, với tất lòng đau xót như đã một lần được
Tú Tài Ðặng Thúc Hứa, đồng chí của nhị vị tiền bối
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh diễn dạt khi nhớ về quê nhà
đang trong cơn điêu linh nhục thãm:
Vùng Quê Hải, gió tanh mưa máu,
án ba đào vì tình thế xui nên.
Cõi Viêm Bang, núi thịt cồn
xương, nỗi bi thảm xưa nay chưa có.
Ngoài ngàn dặm trông về cố
quốc,
Non sầu bể thảm, quặn ruột
gan chín khúc tơ vò.
Cuộc trăm năm tưởng tới đồng
tâm,
Cỏ úa hoa dàu, dẫu sắt đá
cũng hai hàng lệ nhỏ.
Nỗi Ðau cào xé nầy luôn bừng bừng
cùng mối Ước Nguyện sắc son - Lần dựng lên trong nắng
Miền Nam mầu uy nghi rực rỡ Cờ Vàng, và câu hát đã một
lần vang động núi sông lẫm liệt cảm động ánh sáng vĩnh
cửu Cộng Hòa..
Cờ bay! Cờ bay!
Trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng
máu!!
CHÚNG TA PHẢI HÁT LẠI THÊM MỘT
LẦN CÂU HÁT BI HÙNG NẦY TRÊN TOÀN CÕI QUÊ HƯƠNG
Viết để nhắn nhở, vững tin
Nghĩa Lớn - Việt Nam Cộng Hòa
26 Tháng Mười, 1955 -- 26 Tháng
Mười, 2002.
Phan nhật nam
|