Kính
Tường Trình Huynh Ðệ, Bằng Hữu Khắp Nơi
Kính
trình,
Trước tiên hết, tôi xin được
viết nên Lời Tuyên Dương trước thế giới Sức Mạnh Vô
Ðịch của tất cả Bằng Hữu. Ðừng kết tội tôi dùng những
chữ nghĩa to lớn về một việc không bao nhiêu tầm cỡ, bởi
sau đây là dẫn chứng rất mới từ trong lịch sử văn học,
báo giới nước ta chứ không phải ở một nơi nào khác. Năm
1938, do mến mộ văn tài của Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu,
ông triệu phú (gọi là triệu phú của thời bấy giờ, chư
so với chúng ta hôm nay, ông nầy cũng.. xoàng) Diệp Văn Kỳ
từ Sài Gòn gởi ra biếu Tản Ðà 200 đồng tiền Ðông Dương
để thi sĩ vào Nam dạo chơi và làm thơ. Hai trăm đồng thời
ấy rất lớn nhưng không thể so với tài khoản kỳ nầy chúng
ta gởi về đến ông Sa Giang, quý Huynh Ðệ cùng tôi xét đến
các mặt sau đây:
Năm 1938 kia Tản Ðà là "thi sĩ
đang lên"- Thơ đăng trang nhất của tất cả nhật báo,
tạp chí bắc, nam. Có bà độc giả vì quá mến mộ thi tài
đã tìm gởi đến Tản Ðà một bó rau sắn trồng ở vùng
Chùa Hương vì nghe qua thơ, biết thi sĩ thích ăn món rau sắn
kia để nhắm rượu!! Năm 2002 Sa Giang đã là "thi sĩ hết
đường đi xuống". Xuống tới đáy, thật ra cũng đã xuống
từ rất lâu. Bởi, năm 1972, sau lần lãnh giải thưởng thi
ca, cùng người bạn, Mặc Tưởng- hai ông làm thơ - đều bị
bắt đi lao công chiến trường. Mặc Tưởng chết ngay trận
ra quân đầu tiên ở cửa ngỏ vào An Lộc, mùa hè 72. Trần
Tuấn Kiệt mặc áo lính, lính Biệt Ðộng, đi giày botte de
saut được một ngày, sau đó trốn tiếp do tiếp tay, trợ
lực của Bùi Hồng Sĩ, Hoàng Ngọc Liên va chính tôi. Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa thiếu một ông Biệt Ðộng Quân nhưng
chúng ta còn được một ông làm thơ. Sau 1975, thì tất cả
nhà văn, nhà thơ, kể cả nhà thờ, nhà chùa, nhà trường..
Miền Nam đều xuống tới cùng- không trừ một ai- họa chăng
chỉ có những chã đâu từ trong khu, hoặc ngoài Bắc vô như
Thu Bồn, Mây Trắng, Bông Trang, Bông Sứ, Lá Diêu Bông.. gì
đấy làm thơ theo kiểu tố hữu (tôi cố ý không viết hoa,
xin đừng sửa lại, sẽ giải thích sau). Bởi, làm thơ, viết
văn giờ đã là một "cái nghiệp lẫn một nghề gây nợ
máu với với nhân dân, không sản xuất, tay sai mỹ- ngụy
(lần nầy do vi-xi không viết hoa) hẵn quý vị thấy rằng,
ở trên tôi bắt chước cách xách mé, vô lại của vi-xi hà
nội đưa vào, chứ ở trong Nam "ta" không có kiểu xỏ lá nầy-
Ðức Thánh Cha Jean Paul II bi chúng gọi lên báo nhân dân, "giáo
hoàng la mã giăn- pôn hai- Không một chữ hoa nào hết". Tôi
không bi thảm hoá tình trạng của anh em mình sau 1975, xin kể
ngay những trường hợp, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn,
Chu Tử.. toàn là những người bị bức tử vì mấy giòng
chữ. Tìm ra đâu trong những tập sách của Doãn Quốc Sỹ
một chữ nào "vi phạm an ninh quốc gia" hỡ trời?! Thế
nhưng, niên trưởng Doãn cũng hơn 13 năm tù vì mấy cuốn như
Gìn Vàng Giữ Ngọc, chuyện ngắn Chiếc Chiếu Hoa Cạp Ðiều.
Chắc rằng không một thời nào trong lịch sử cổ kim nhân
loại, chữ viết và người viết nên chữ bị kết án tàn
nhẫn đến như vậy. Và cũng lạ thiệt, kể cho đến hôm
nay, những người bị bách hại kia lại xem sự kiện bất
nhân phi lý mình phải hứng chịu ấy như là một điều tất
nhiên. Quý huynh đệ đừng cau mặt, bởi chẳng có ai trong
chúng ta đặt lại vấn đề: "Kẻ tội phạm nào đã gây
những cái chết oan khốc đối với Nguyễn Mạnh Côn, Dương
Hùng Cường, Vũ Hoàng Chương, nhà viết sử Phạm Văn
Sơn, thi sĩ Thục Vũ.. Cảnh sống khổ ải nguy nan của Bùi
Giáng, Nguyễn Thụy Long, Lê Xuyên, Nguyễn Tấn Lộc (người
viết nên những ca khúc bùng lửa, vực dậy sức chiến đấu
cho toàn Miền Nam năm 1972), những phóng viên chiến trường
Mai Anh, Mai Hòa, những người nhảy xuống Hạ Lào, Bastogne
để chứng tỏ cùng thế giới gương chiến đấu lẫm liệt
của quân dân Miền Nam; những án lệnh cùng cực phi lý ngược
ngạo đối với Doãn Quốc Sỹ, Như Phong, Hoàng Hải Thủy,
Khuất Duy Trác, tiếp đến với Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Ðan
Quế.. Ai là thủ phạm của những tội ác đối với những
người cầm bút trong tập thể toàn bộ mấy mươi triệu người
Miền Nam sau 1975?Chúng ta (ngay mỗi người chúng ta chứ
không ai) khác chỉ viết nên lời phản kháng đối với sự
kiện Nhân Văn Giai Phẩm, Trăm Hoa Ðua Nở ở đất Bắv từ
1957, với Trần Dần, Phùng Quán.. hoặc với Dương Thu Hương,
Hà Sĩ Phu của những thập niên sau nầy. Tại sao lại
bất công đối với chính mình và anh em chúng ta một cách
thản nhiên bạc bẽo như thế? Tại sao? Không lẽ người Miền
Nam, người cầm bút Miền Nam không xứng đáng cho một sự
lên tiếng bảo vệ? Tại sao? Và tất nhiên, những người
cầm bút của phía cộng sản thì nín khe. Cứ đọc Tháng
Ba Tây Nguyên
của Nguyễn Khải thì thấy rõ ra mức khoái
trá đê tiện tới bến của mấy anh viết văn ở Hà Nội
khi thấy dân Miền Nam"mỹ-ngụy" bị cách mạng trừng trị!!
Lẽ tất nhiên, Trần Tuấn Kiệt không thoát khỏi tình cảnh
tang thương chung nhất nầy, sáng 23 tháng 7, 1975 tôi nhìn ra
Kiệt ngồi bán sách ở lề đường Lê Lợi. Tôi mua những
cuốn thơ của Bùi Giáng ở "tiệm sách"tang tương nầy trước
khi đến trình diện vào trại tù trước tại trường Lê Văn
Duyệt. Thế nhưng, người làm thơ vẫn sống với chữ
của anh suốt gần ba mươi năm qua. Hôm nay quá kiệt
lực, anh phải kêu cứu với chúng ta. Ngoài ra, trong tập thể
bằng hữu vòng quanh thế giới, thế hệ sinh 60, 70 hẵn có
người chẳng biết Sa Giang Trần Tuấn Kiệt là ai? Bạn trẻ
Ðiền Lang bên Hòa Lan lại tưởng nhầm "Sa Giang Trần Tuấn
Kiệt là cụ Á Nam Trần Tuấn Khải" đang còn sống, thiếu
tiền thuốc uống chữa bịnh khi đọc lời kêu cầu cứu từ
trong nước, vì cũng là "trần tuấn.. với những danh tự
có âm a...a.." Tôi không đủ sức để bày ra chuyện đùa
cợt trong một tình thế thê thảm nầy. Nhưng, dẫu không đọc
Triều Miên Ngâm Khúc, Lời Gởi Cây Bông Vải của thi sĩ Sa
Giang, hoặc chẳng bao giờ coi chuyện võ học, luyện công,
ném phi lao, khinh công chạy bộ của môn đồ Tây Sơn Nhạn,
Hồng Lĩnh; hoặc chẳng hề biết rằng Miền Nam có tập khảo
luận 10 Năm Thi Ca Miền Nam của nhà biên khảo Trần Tuấn
Kiệt. Nhưng thật như một phép lạ: Tiếng gọi của người
bạn qua lá thư ngắn gởi Trần Hoài Thư đã có ngay thanh âm
vọng dội - Vang dội toàn thế giới- từ Bắc bán cầu đến
Úùc Châu. Từ Viễn Tây nước Mỹ qua tận Tây Âu, Pháp, Hòa
Lan, Ðan Mạch. Quý Huynh Ðệ hãy nghĩ điều đơn giản: Có
cơ quan nhà nước nào làm được sự nghiệp cao thượng nầy
chăng? Chúng ta lại mất Miền Nam nay đã gần 30 năm. Ba mươi
năm nơi một vùng đất bị khai tử, đánh vỡ toàn thể sức
chống đở chính trị, quân sự kinh tế, ngoại giao, nhưng
Thơ và Người vẫn còn sinh động. Vậy nên, chúng ta có thể
kết luận mà không sợ nhầm lẫn: Khi Thơ và người
Viết nên lời Thơ còn sức sống- Ðất Nước ấy vẫn bền
bỉ tồn tại. Chính Chúng Ta và Người Bạn đã làm
nên minh chứng siêu việt cảm động nầy.
Năm 1971, chính quyền Miền Nam trao
giải thưởng thi ca toàn quốc đến Thi Sĩ Trần Tuấn Kiệt
giải thưởng trị giá 200.000 đồng tiền VNCH - thời giá bấy
giờ khoảng 200 đô- la Mỹ. So với $2000 (hoặc hơn) của chúng
ta hôm nay thì quả tình đứng về mặt vật chất, giải thưởng
quốc gia kia chỉ là khen thưởng nhỏ nhặt. Nhưng quan trọng
hơn với câu chuyện vừa nhắc trên cho chúng ta thấy ra điều
bẽ bàng: Chính quyền, tập đoàn nhân sự cầm quyền Miền
Nam không hề coi trọng người cầm bút - những người cầm
bút tự nguyện làm nên sức mạnh vinh hạnh cho chế độ
-
Chế độ cộng sản Miền Bắc không thể nào tồn tại dai
dẵng với giá máu thắng lợi phí phạm buộc toàn dân tộc
gánh chịu nếu như ở đấy không có những người "gây
men" cho chế độ - những văn công, thi sĩ đã "xẽ
dọc Trường Sơn đi cứu nước... Tao đánh mầy hân hoan như
sinh đẻ. Và vinh quang như xây dựng kỳ đài - Thơ của "thi
sĩ chế lan viên" nói về vụ việc "tao đánh mầy" trong trận
Tổng Côn g Kích Mậu Thân 1968 ở Huế. Hóa ra, chúng ta
hôm nay đang làm việc chuộc lỗi đối với chính quyền Miền
Nam - Lỗi đã coi thường, xem nhẹ những con người âm thầm
nhưng bền bỉ bảo vệ và dựng nên tượng đài, sức mạnh
tinh thần, văn hoá nơi Phương Nam- Trị giá tương đương với
giá máu của Người Lính nơi trận tiền.
Với hai kỳ tích kể trên - công
việc của chúng ta tuy nhỏ bé nhưng quả thật đã vận động
nên sức mạnh vô vàn. Hãnh diện biết mấy.
Sau đây tôi báo cáo phần tài chánh
theo thứ tự từ ngày đầu tiên (15 tháng 7) đến ngày đóng
đợt 2 (22 tháng 7):
|
Tên Người
|
Số Tiền
|
Check
# |
Bank
|
Ngày ký
|
| Thái
T. Hạp & Ái Cầm (CA) |
$50.00 |
1343 |
Cathay
Bank |
7/18/02 |
| Hoàng
Song Liêm (VN AIRFORCE ASSOC (VA) |
$50.00 |
1035 |
1ST
Union Bank |
7/16/02 |
| NgọcYến-NguyễnN.Mai
(WA) &TrầnÐ.Thọ (Úc) &VũM.Ngọc (Canada) |
$100.00 |
2186 |
Net
Bank |
7/16/02 |
| NguyễnX.HoàngVanMagazine
NguyễnB.Trạc(San José) |
$100.00 |
1435 |
Bank of America |
7/15/02 |
| NgôGiaHậu-Thời
Báo (CO) |
$250.00 |
1078 |
Premier
Bank |
7/16/02 |
| Ngô
Phương Dung |
$50.00 |
2968244 |
Canada
Trust |
7/11/02 |
| La
v.Lương-HoangK. Chi (MN) |
$50.00 |
2179 |
TCF
Bank |
7/15/02 |
| Tưởng
NăngTiến(San José) |
$50.00 |
414 |
Bank
of America |
7/19/02 |
| ÐỗK.Hiển(Canada);
Hồ V.Sinh (CA) C/o Bùi Thúy Chi &Bùi Thúy Phương (MN) |
$200.00 |
3358 |
TCF Bank |
7/17/02 |
TỔNG CỘNGø: CHÍN (9) ÐƠN VỊ
GỒM 17 NGƯỜI GÓP TIỀN ÐỢT HAI VỚI SỐ TIỀN LÀ: $ 900.00
Phan Nhật Nam thêm vào $100.00 để
đủ $1000.00. Sở dĩ tôi đóng số tiền kia là để riêng Nguyễn
Hữu Thiên $50.00. Thiên là người lính nhảy dù đã theo tôi
suốt nhiều năm dài, sẽ là người quản lý tài sản khoảng
đất ở Lái Thiêu mà năm 1990-1991 các bạn Ðỗ Ngọc Yến,
Du Tử Lê (Orange Co, CA); Lê Văn Mễ, Ðoàn Phương Hải (San
José), Lâm Tuyết Nga (Seattle); Nguyễn Bá Dzĩnh & Thủy Trang,
Ngô Phương Dung, và Ðỗ Quý Toàn (Canada) đã chung phần tài
trợ để thực hiện dự án lập Bằng Hữu Mai Trang do Như
Phong, Ðằng Giao đồng quản lý. Trước ngày ra khỏi nước
(5 tháng 11, 1993) tôi đã đưa Trần Tuấn Kiệt xuống Lái Thiêu
để nhận khoảng đất kia (nay đã trở nên Khu Du Lịch tỉnh
Bình Dương với trị giá rất cao), nhưng Kiệt từ chối vì
quá xa Sài Gòn. Dự án ấy nay vẫn còn có giá trị (với trị
giá lớn hơn ban đầu gấp bội), tôi sẽ tường trình đến
quý bằng hữu sau nầy. Nguyễn Hữu Thiên sẽ từ An Giang về
Sài Gòn giúp Kiệt hoàn chỉnh cơ sở quán cà-phê Bạn Tui
với khả năng xây dựng của nghề nghiệp anh. Tóm lại, tôi
thay mặt các bạn chuyển tài lực, nhân lực đến Trần Tuấn
Kiệt làm nên Chuyện Bạn Tui. Và $50 kia là của Khánh
Giang, báo Thời Nay mà hiện tại tình trạng cũng đang vô cùng
khó khăn - Hy vọng Bạn Tui sẽ đóng chức năng mà Kiệt và
số anh em còn lại bên kia nhà mong ước-
Có chỗ đến
ngồi với nhau. Và ai cấm chúng ta sẽ có một ngày
bước vào quán Bạn Tui- Bởi Bạn Tui là cũng là Bạn của
tất cả Chúng Ta phải không quý huynh đệ, bằng hữu bốn
hướng địa cầu nhưng chỉ một thiên nhất phương.
Ngoài ra còn có những checks sau đây
đang trên đường đi tới: 1/ Nguyên Vũ (TX, $50.);
2/Phạm Trần (VA, đã có $150.00 và những checks tương lai sẽ
đến: Tập trung từ Ðỗ Tiến Ðức (Thời Luận); Lê Ðiền
(Chính Luận); Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Phan Tấn Hải, VBKT và
các bạn phía Tây, và vùng DC với Nguyễn Hữu Ðiển, Giang
Hữu Tuyên); 3/Các Trưởng Hướng Ðạo, Trương Trọng Trác
(Báo Ngày Nay Houston, TX) Nguyễn Xuân Nghĩa (PT HưngCa/VN) $100.00);
4/ Nguyễn Ðình Sài (Seattle) do Ngọc Yến Ðài Chân Trời Mới
(WA) vận động; 5/Huỳnh Lan, Lê Bá Thọ từ Denver, do Ngô Gia
Hậu (Thời Báo CO) tập trung; và 6/ Ðiền Lang ở Hòa Lan do
Bùi Thúy Chi (Nắng Mới Youth Organization, Orange County) thông
báo. Tóm lại, mức yểm trợ dự trù 3000 đô- la Mỹ từ bằng
hữu thế giới là một điều khả thể để biến một ông
thi sĩ tan nát nên thành một ông triệu phú xanh rờn.
Vậy chúng ta có thể kết luận
rằng: Ông Nhà Thơ Trần Tuấn Kiệt lãnh thêm một Giải
Khôi Nguyên lần thứ hai, lần thứ ba - Giải nầy vinh dự
hơn nhiều- mà số tiền gấp gấp bội so với giải năm xưa.
Ðấy là chưa kể đường riêng của Vũ Uyên Giang, Phương
Triều và nhiều bạn khác nữa gởi ngay sau ngày bạn ta cầu
cứu.
Hoan hô Ðạo Bằng Hữu với Nghĩa
Thủy Chung.
Kính Trình, Phan Nhật Nam
USA, MINNESOTA ngày 24 tháng 7 năm
2002.
|