Hãy
Vất Bỏ Khối Nặng của Tính Ác và Sự Xấu
Bài II
Nếu Nguyễn Hồi Thủ,
người dịch "Người Trung Quốc Xãu Xí" của Ba Dương đã
gióng trước, "Có thể giữ được lòng bình an nếu đừng
đọc cuốn sách nầy"... Quả thật là như vậy, vì chỉ đọc
bài giới thiệu của Phan Thanh Tâm thôi, chúng ta đã lậm phải
ngay điều xa xót vớI câu hỏi cay đắng: Chẳng lẽ người
Việt cũng "xấu" đến độ đáng sợ như thế sao? Câu trả
lời không thể khả quan hơn vì như Saroyan Vann đã tường
trình quá đầy đủ và quá hữu lý (ở phần I), mà chúng
ta dẫu đào cái hố sâu bao nhiêu, tiếng vọng của lời tố
giác "Vua Midi mọc tai lừa!!" cũng không thể lấp liếm được.
Vâng, người Việt Nam đã trở nên thậm tệ dị dạng, và
biến tướng đến độ thảm thương - Ðã đến lúc chúng
ta phải chập nhận sự thật, dẫu khắc nghiệt đến bao nhiêu.
Có thể tạm bỏ qua
một bên sự kiện tranh chấp quyền lực chính trị bằng biện
pháp quân sự giữa hai phe Quốc-Cọng, mà lần khởi sự và
buổi kết thúc (ắt phải có giữa hai phe lâm chiến) đã diễn
ra cách đây hơn nửa kỷ, quá 25 năm. Nói như thế không phải
để 'chạy tội", đánh tráo trách nhiệm cho tập đoàn người
cộng sản ở Hà Nội về tình trạng sa đọa của Việt Nam
hiện tại. Nhưng, bởi chúng ta cần trung trực, khách quan hơn
để nhìn vấn đề từ nguồn cội, mà tác động đích thực,
quyết định trực tiếp đến vận mệnh, tương lai đất nước,
hầu định hình, định tính lại diện mạo, bản sắc người
Việt Nam. Chúng ta nói về diễn tiến nguy hại, hậu quả lâu
dài khi - nền giáo dục nhân bản và dân tộc mà người Việt
tối cần thiết dần bị hũy hoại và tiêu diệt.- Ðầu
mối tội của người cộng sản là nơi đây.
Chẳng đợi đến năm
1883, 1884, hai Hòa Ước Quý Mùi và Giáp Tuất hợp thức hóa
chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, giới sĩ phu mới có
phản ứng không chịu khuất phục, nhưng ngay sau khi quân Pháp
đánh chiếm Ðà Nẵng, 1858; thành Chí Hoà, ba tỉnh Miền Tây
Nam Bộ, 1861, từ Nam ra Bắc, Trương Ðịnh, Nguyễn Trung Trực,
Nguyễn Hữu Huân, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Thuyết,
Phan Ðình Phùng, Cao Thắng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật....
đã thống lãnh quân binh, phối hợp với những vị vua minh
duệ Duy Tân, Hàm Nghi liên lũy chống Tây xâm, giúp vua, cứu
dân, giữ nước. Trí thức quan lại cũng không thiếu trí tuệ
viễn kiến hoặc dũng khí bản lãnh để thúc dục triều đình
cải cách, hoặc cùng đành tiết tháo hy sinh, tỏ lòng tận
trung báo quốc, trường hợp của Nguyễn Trường Tộ, Phan
Thanh Giản, Hoàng Diệu. Và đỉnh cao trung dũng Kẻ Sĩ Việt
Nam được đánh dấu bởi cái chết bi tráng của mười ba
Liệt Sĩ Quốc Dân Ðảng nơi pháp trường Yên Báy, 17 tháng
6, 1930. Thế nhưng, năm mươi năm sau, hơn nửa thế kỷ được
thụ lãnh "học thuật" Tây phương, nơi phương tây hàng đầu
của tổ chức và kỹ thuật cao, phía Tây- Âu với Mỹ, Pháp,
phía Ðông-Âu với Nga, Ðức - cuối cùng, tiếng than xé cật
đã vang lên vô vọng - Kẻ sĩ nay ở phương nào? Kẻ sĩ
nào thấy đâu?! Tình trạng bi thảm nầy hẳn phải có
một đâu mối. Ðầu mối tiên khởi và độc nhất: Người
Việt ở thế kỷ qua đã hẳn thiếu một nền QUỐC HọC.
Và đảng cộng sản ở Hà Nội là thủ phạm hàng đầu của
"sự nghiệp tai họa"- thay thế nền quốc học khẩn thiết
nầy bằng một kế sách mạo danh xã hội, mót nhặt từ những
tay sát nhân siêu đẳng. Chúng ta hãy xem thuật "dạy người"
của cán bộ cọng sản đệ tam quốc tế.
Do quá khốn đốn, quẩn
bách trong cuộc sống, nên con người số đông luôn cần phép
lạ và ân huệ mà thực tại trần thế lại không thể nào
đáp ứng được, nếu không muốn nói còn tạo nên nguy biến
trầm trọng hơn. Thế nên, các tôn giáo đã được các bậc
đại trí, từ nhân khai sáng và mãi tồn tại cùng nỗi khổ
con người. Chúng ta có thể nói chắc như thế mà không sợ
sai lầm. Nhưng người cộng sản lại ngang ngược phủ nhận
nhu cầu sinh tử nầy, họ khinh miệt đánh giá tôn giáo như
là một hình thái tồi tệ tinh thần, loại "thuốc phiện của
nhân dân", và quyết tâm trị liệu cơn say thuốc nầy bằng
biện pháp bạo lực. Sau khi thanh toán "ông trời" - không đáng
một chữ viết hoa, và cưỡng ép người dân vào ngỏ cụt
lịch sử lầy lội đẫm máu (phần I), người cộng sản (cộng
sản Á Châu vốn là kẻ theo học xuất sắc, cộng sản Việt
Nam lại là "đỉnh cao trí tuệ siêu việt" của quá trình thụ
huấn khốc hại nầy) tra vào tay nhân dân một "ân huệ" độc
địa nhưng cũng thích hợp vớI tính ác tự thân của người
- quyền giết người - được biện hộ vì mục đích, yêu
cầu của chủ nghĩa và chế độ. Và giới gọi là "kẻ sĩ"
thêm một lần được "vận động cách mạng":
Từ, Ðường vinh quang
xây xác quân thù... Tiến Quân Ca của Văn Cao", đến
Giết! Giết! Giết!...
Bàn tay không phút
nghỉ
Ðể ruộng đồng
thêm tốt
Lúa thêm xanh - Chế
Lan Viên
Trong hơn năm mươi năm,
cán bộ cộng sản đã cưỡng ép, thực tập buộc người
dân nhiễm thói quen - một bản năng thứ hai - sống cùng cảnh
giới của sự ác và hóa thân nên tính ác. Quá trình tàn nhẫn
nầy không loại trừ đến cả tình thương, trái tim người
mẹ - tất cả đồng bị "chính trị hóa":
Bầm thương con nên
bầm yêu đồng chí
Bầm quý con nên bầm
mến anh em - Tố Hữu
Hoặc giây phút linh thiêng
của cuộc tồn sinh - khi người sản phụ lâm bồn - được
so sánh, đánh giá như động tác bắn giết một loại quân
thù tàn tệ
Tao đánh mầy hân
hoan như sinh đẻ
Và linh thiêng như
xây dựng kỳ đài - Chế Lan Viên
Ðể cuối cùng hoàn
tất nên "con người xã hội chủ nghĩa" với nỗi ngu muội
mê thiếp theo hình ảnh của một "lãnh tụ tôn giáo mới",
Thương cha, thương
mẹ, thương chồng,
Thương mình thương
một, thương ông thương mười!! - Tố Hữu
"ÔNG" chính là "Stalin,
tên giết người" ghê tởm nhất của lịch sử nhân loại
với thành tích 20 triệu người Nga và những dân tộc thống
thuộc đế quốc sô-viết, chết dưới tay y trong 29 năm cầm
quyền. Hoặc, một mẫu mực khác gần gũi, quen thuộc hơn,
Mao Trạch Ðông với "tính sáng tạo vô sản", dùng xe hốt
rác để dọn xác người, chỉ một thành phố Nam Kinh sau một
lần Hồng Vệ Binh xuống đường biễu dương lực lượng
năm 1965. Trước những đỉnh cao thắng lợi nầy, ba ngàn người
Huế bị chôn sống trong Tết Mậu Thân, 1968, hoặc 800 bộ
đội miền Bắc của sư đoàn 308 bị tan xác bởi một pass
B52 nơi mặt trận Khe Sanh cuối năm 1967, (do thực hiện âm
mưu thí quân, đánh lạc hướng Tướng Westmoreland, để đoạt
thắng lợi trong lần tấn công đầu năm 1968) không hề làm
Võ Nguyên Giáp chạnh lòng, nên ba mươi năm sau, khi nhắc lại
với người Mỹ, y vẫn hân hoan giương giương tự đắc về
một "chiến thắng Khe Sanh, Mậu Thân 1968".
Vâng, khi giết người
đã là một "sự nghiệp", máu người là "chất men vinh quang",
xác chết của đồng bào mình là món hàng phải trả giá bằng
những tờ giấy bạc mới được phép đem chôn (Xác người
chết vượt biên trôi vào bãi biển Vũng Tàu nhân ngày giỗ
Nguyên Hồng, Thơ Trần Mạnh Hảo) - chữ "xấu xí" có còn
đủ nghĩa để gọi đến "người Việt Nam" nữa hay không.
Tuy nhiên, trong khi đó, vẫn còn một số người không nhỏ
- Lẽ tất nhiên cũng là"người Việt Nam ta" tung hô, ngợi
ca và cố công bắt chước những kẻ "xấu xí cách mạng vô
sản tiên tiến" kia.
Và về phía cộng hòa,
trách nhiệm dạy người được trao gởi vào tay những viên
cai, đội mà cùng đích "võ nghiệp" không gì hơn là một vài
mẫu kim loại hình ngôi sao được đeo lên cổ áo, để có
"uy tín" chiếm giữ nhiệm vụ "đặc trách văn hóa", nên thành
"thần tượng tuổi trẻ" với kỹ thuật cao giải tử vi, chọn
gà chọi và đánh bài mạt chược. Bài viết của Phan Thanh
Tâm sau đây e rằng không đủ vào đâu.
Vạch
Áo Cho Mọi Người Cùng Xem
PHAN
THANH TÂM
Tốt khoe ra, xấu xa đậy
lại và nhất định không có chuyện vạch áo cho người xem
lưng. Ðó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho
là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn
bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt,
cũng bãnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngoại
quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bằng thằng, bằng
con. Và nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc
soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là
phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng
đó. Họ cho rằng cứ hót ca và, nâng bi dân tộc mình một
cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như
con gà mắc dây thun. Chắc hẳn phải có vấn đề, có trục
trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả
trong khi các nước lân bang ở Ðông-Nam Á nay đã là con cọp,
con beo, con sư từ rồi.
Cái hay ở chỗ, người
tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Saigon, du học
ở Nhật năm 1966, định cư ở Pháp năm 1969, trong khi sang Tàu,
vớ đựơc một cuốn sách khiến ông 'thích thú quá cỡ" và
ông nghĩ rằng "bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo
đảm cũng sẽ thích thú" như ông. Ông tin rằng quyển sách
sẽ "giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn
hóa của mình trong giai đoạn hiện nay". Vì thiện ý, ông bỏ
công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bàn
Chân Mây Cuối TrờI phát hành bản dịch lấn đầu tiên tại
Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới
báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận
Cam, thủ đô của người tị nạn, hưởng ứng in lại và
quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.
Nhà báo Lê Ðình Ðiểu,
trước khi qua đời, trong khi nằm trên giường bệnh, viết
bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 4/99: "Ðọc
Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương, người VN nào cũng
liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ
thay cái tựa là Người Việt Nam Xãu Xí cuốn sách cũng vẫn
có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ
bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt ngữ?"
Trả lời câu hỏi của nhà phê bình văn học Ðặng Tiến,
đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi
Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói, sự đời là thuốc đắng
đả tật. Có chướng tai cũng phải nói. Ông tâm sự, "không
đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi;
còn chẳng may đọc có thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là
thích thú".
Trong bàì phỏng vấn
hồi tháng 10/99 này, khi đề cập về những cuốn sách như
Người Việt Ðáng Yêu, Người Việt Cao Qúi, dịch giả, đã
có bảy tập thơ xuất bản ở ngoại quốc từ năm 1968, cho
biết, "Ðó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến
giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một
cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người
Pháp, người Ðại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết
điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình.
Bây giờ đến lượt người Trung Quốc. Cuốn Người Trung
Quốc Xấu Xí xuất bản ban đầu ở Ðài Loan; sau đó được
tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước
lớn, văn hóa lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rã về những
cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách,
Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi".
Nhà thơ Nguyễn Hồi
Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung
Quốc về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một người bạn
ở Hà Nội và động viên người này dịch ra tiếng Việt.
Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người
Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không
thể được đọc nó, cho dù không phải để học hỏi, mà
có thể vì hiếu kỳ, thông tin về một nước láng giềng.
Hơn năm năm, ông đã hy vọng là cuốn sách sẽ xuất hiện
tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được
đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả
các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hóa Trung Quốc.
Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng
dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết
điểm, sai trái của mình.
Ðọc người rồi
ngẫm đến ta
Tác giả Bá Dương, là
nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy
sang Ðài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem
là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng
Người Trung Quốc Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện
của ông và của những người tranh luận với ông. Có người
cho rằng nếu không đọc được sách của Ba Dương là một
sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn, hơn chuyện chưởng của
Kim Dung, vì nó khiến thiên hạ phải: đọc người rồi ngẫm
đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy cà. Giống dễ sợ. Theo
ông, văn hóa Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết,
càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Ðặc tính
rõ nhất của người Trung Quốc là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn
ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Quốc đến ở là những
người khác dọn đi.
Bất kỳ ở chân trời
góc biển nào hễ có người Trung Quốc là có cắn xé nhau.
Mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh
vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt
được mặt trời, ổ dưới thì tài trị quốc bình thiên
hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau,
ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi.
Người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được. Mỗi
người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một
quyển sách nói tại sao họ lại không đòan kết. Bất cư
xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm
cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của
sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển
sách nói tại sao cần phải đòan kết, hay ho đến Thượng
Ðế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm
căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ
ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không
chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối,
nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến
lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lơiï là những
lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.
Người Trung Quốc
sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hữu, trung lập,
độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hữu, hưũ thiên trung
vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò.Người
này đối vớI kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết
bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Ðối xử
với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người
nước ngoài, mà chính là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ,
hăm dọa người Trung Quốc lại không phải là người Mỹ
mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ
đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã
đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo
thù đến ba đời cũng chưa hết. Sống trường kỳ trong cái
hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra tâm lý cẩu thả. Một
mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không
có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để
đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười,
ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh
được với ngươi Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật,
ngươi Ðại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn
năm ánh sáng rồi.
Người Trung Quốc
sợ sệt đủ moị thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ
này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao
nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị
tiêu diệt, và đã biến dân tộcTrung Quốc thành một dân
tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy củu
giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ
Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn
nữa. Cái hũ tương văn hóa, cái hũ tương thối làm cho người
Trung Quốc xấu xí, không thể dùng tư duy của mình giải quyết,
phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác; lớn
lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc,bần cùng,
cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng
hốt, lo âu.Trung Quốc diện tích rộng thế, lâu đời thế
mà người Trung Quốc lại có một tâm điạ thật hẹp hòi,
không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Ðế đã phú cho
chúng ta có một nội tâm xấu xa?
Trên đây là những đọan
trích các ý tưởng tản mạn trong sách của nhà báo Bá Dương.
Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một
ngàn năm đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng
lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay
ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Lại nữa, mỗi dân tộc
có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm
bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc
chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ,
lệt bệt đì sau thiên hạ. Nếu văn hóa Trung Hoa đã biến
thành một cái hũ tương thối thì văn hóa ta là cái hũ gì?
Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn
thoáng vào gương xem.
Mẫu người Việt
Nam
Trong cuốn Việt Nam Sử
Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người
VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình,
thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại
khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay,
nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng
có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác
chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự
hòa bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết
giữ kỹ luật. Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không
kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu
danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỉ,
sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào
cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết
thương người và hay nhớ ơn. Ðàn bà thì hay làm lụng và
hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ moiI việc
mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều
chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí
là tiết, nghĩa, cần, kiệm.
Với mẫu người nói
trên và nếu cho rằng, văn hóa là sinh hoạt, ta không hiểu
văn hóa ta là văn hóa gì, lại có thể sản sinh một tay gian
hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Ðộ. Việt Nam Sử
Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây
dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần
Thủ Ðộ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng
họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Ðộ nói với vua Lý Huệ Tông,
tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời "nhổ
cỏ thì phải nhổ cả rể cái". Trong khi đó, Nguyễn Trãi,
đại công thần của vua Lê Lợi, thảo ra Bình Ngô Ðại Cáo,
môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình
người "Thương người như thể thương thân", trong tập Gia
Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng
người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu
hại nhà vua.
Cụ Hoàng Văn Chí, trong
cuốn từ Thực Dân đến Cọng Sản cho biết, vào những năm
1954 và 1956, khi Cọng Sản Việt Nam đem chiến thuật "Cải
Cách Ruộng Ðất" của Mao Trạch Ðông, áp dụng tại Bắc
Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ
vậy. Ðúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình: "từ tư tưởng
cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương.
Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước
được là dở". Mà theo Bá Dương, Trung Quốc hiện tại còn
là một nước dã man nguyên thủy, thì việc Cọng Sản Việt
Nam đưa ra phương châm: "thà giết mười người vô tội còn
hơn để thoát một kẻ thù" trong khi phát động chiến dịch
long trời lỡ đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi.
Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của
họ là: thà tha lầm hơn bắt lầm.
Mặc khác, trên sân khấu
chính trị nước ta có một "diễn viên kỳ tài", chữ của
nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm
cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên
thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước,
khi ba bước, khi khóc, khi cười, biến ảo khôn lường. Cả
thế giới đêu nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ ỏcon
đường bác điõ. Theo giáo sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên
Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông
Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ
Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Ðể cho "chủ nghĩa xã hội
hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế
giới'' ông sẵn sàng mua chiến thắng đó "dẫu phải đốt
sạch cả dãy Trường Sơn" hay phải "đánh Mỹ đến người
VN cuối cùng".Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà
lại có thể hun đúc một con người kỳ bí như vậy? Ông
đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.
Hồi thập niên 60, có
bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Ðể Lại Cho Em nói
lên thực tế của đất nước: "bây giờ chỉ còn là một
mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận
thù nhân danh chủ nghĩa, bạo lực vênh vang bề thế"; và "Ðường
về tương lai nghẽn lối". Thế hệ đàn anh chỉ đề lại
"những giả dối, đê hèn, và vụng dại". Bài hát lưu hành
ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng,
máy bay, hỏa tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi
các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Ðó là hệ quả
của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kè
đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho
là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc
quyền trị nước nên VN thành chỗ thử lửa của cuộc chiến
tranh lạnh.
Trong ba mươi năm nội
chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra
bắc theo Nga, theo Tàu; nửa bên này chống lại bằng dựa vào
Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì hết điểm tựa.
Hoa Kỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng
Ba và Tư năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống
chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong
lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn
lanh thì nhiều như lá mùa thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai
buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu
tù, chịu nhục, chịu chia xẽ với thuộc cấp? Anh hùng tất
phải hiếm. Ðiều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát "Dân
ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không
nao"?
Ngày 30/4/1975 là ngày
phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: miền
Nam hèn kém, miền Bắc xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ
Sau khi chiếm Sàigòn, người Cọng Sản tìm cách tiêu diệt
các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét
tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ
quản lý. Họ lại đốt sách baó và cấm lưu trữ các sản
phẩm văn hóa cũ như thời Tần Thủy Hoàng. Họ cố xoá bỏ
căn cước của dân miền Nam. Dân miền naỳ không thấy được
giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em
làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù
chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc,
cho sóng dữ. Ðến ngay "cả cái cột đèn nếu biết đi cũng
còn muốn bỏ nước ra đi"? Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu;
anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với
nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?
Con Rồng Cháu Tiên?
Sau thế chiến thứ hai,
chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Ðức và Nhật
đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế.
Ông Bá Dương đã ví họ, "chẳng khác nào, một anh khổng
lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất,
một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó
bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán". Còn nước
ta, Việt Nam là một nước nghèo. Ðời sống nói chung so với
các nủớc ở Ðông Nam Á hãy còn thấp. Tuy theo tin báo, hiện
đã có 39.000 thuê bao Internet nhưng nhà nước lại tăng cường
tốc độ các bức tường lửa để kiểm soát các ngươì
vào lưới. Người dân chưa được tự do xử dụng máy in,
một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi
ấn phẩm đều phải có giấy phép của chính quyền. Ở thời
đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao
Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện hiếm
hoi trên thế giới.
Tháng 5/1999, nhà văn
Dương Thu Hương, từ trong nước đã gửi lén ra hải ngoại
một đoản văn. Theo cô: sau chiến tranh ngót một phần tư
thế kỷ, trên dãi đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh
của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào
nam, từ nam ra bắc. và Chiến tranh không làm cho các công dân
chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, xử dụng quyền công dân mạnh
bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn,
dễ thỏa hiệp hơn với sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước
tội ác. Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông
Luận trong bài Vết Thương 30/4/1999 cho rằng: Ðó là vì dân
tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có
muốn cũng chẳng làm được gì. Ðó cũng là vì đã quá chán
đất nước, đã mệt mõi, đã mất ý chí và lòng tự hào.
Ðảng Cọng Sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay
miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng
ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.
Còn hải ngoại, được
coi như là một VNCH nối dài thì thế nào?.Tờ báo Hợp Lưu
số 49 viết: "có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng
lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng
dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa
thu. Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù
bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc
xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút, cứ là chủ tịch,
làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài tổng thống
(dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc
thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói),
và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không
phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái,
nhanh, nhiều như nấm dại mùa đông". Sang đây, mất tất cả,
thiên hạ mơ có quyền lực. Ông nào cũng tự cho mình có sứ
mệnh, như "ai bao năm từng lê gót nơi quê người" của thuở
nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là
giả.
Năm 1958 hai tác giả
William J.Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American
(Người Mỹ Xãu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt,
tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách
gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn
sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower
phải cho thành lập một ủy ban gồm chín nhân vật có uy tín
để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự.
Thựơng viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn
sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông
Bá Dương viết, họ có năng lực sưả sai, tự điều chỉnh
mình. Thay ví lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người
biết "tôi có bệnh trĩ đây". Họ có được cái trí tuệ
và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách
thỏa đáng những lỗi lầm.
Nước VIệt Nam cứ lẫn
quẫn trong vòng chậm tiến, cũng ỏhoang mang lúng túng chẳng
kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷõ là vì ta không
biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xãu
Xí để "nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột",
rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có
thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hảo, giấy rách
giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắng
nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải
tiến. Trước thềm năm mới cũng là trước thềm thế kỷ
và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh
trong cuộc cách mạng thông tin, chúng ta phải lẹ lẹ lên.
Chậm thì chết. Trong khi chờ đợi có cuốn sách như vậy,
chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu
không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu
điên mất. Phải không quí vị?
PHAN THANH TÂM
|