Hãy
Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu!
I Dẫn Nhập: Thật
là một ngẫu nhiên kỳ lạ và cảm khích, do một "xếp đặt"
vô tình, trong một tờ báo nhỏ, giai phẩm Xuân của Cộng
Ðồng Người Việt nơi một chốn xa khuất, Twin Cities, Minnesota
- bỗng nhiên, ba người bạn, Nguyên Vũ, Vann S. Phan và Phan
Thanh Tâm, từ những xuất xứ, hoàn cảnh khác biệt, đồng
lần khởi động những tiếng lời khẩn thiết "Hãy cất dỡ
tự thân gánh nặng của quá khứ" Chuỗi quá khứ lềnh đặc
những hư hại giết người và chết người, đã từ lâu dính
chặt với thân phận, cố kết cùng cá tính, để tạo nên
một tâm thức, biễu tượng đặc trưng về Người Việt Nam
cụ thể với giai tầng nhân sự đã, đang giữ những vị
trí chủ yếu, trách nhiệm lãnh đạo, tồn vong đất nước
- Một tập thể hiện thực đủ vô vàn tính xấuọ trong tiến
trình thâu đoạt và hành xử quyền lực của họ. Những người
bạn không dựng nên chuyện tổng quát, mơ hồ, mà nói có
sách, mách có cớ, với những chứng liệu mà mỗi chúng ta
hẳn đã nhiều lần nhận ra từ đời sống cá nhân, tập
thể, suốt trong dòng lịch sử đầy biến động khổ nạn
dân tộc. Tính xấu không từ một ai, và kể đến bây giờ,
cũng không có cơ may giảm sút, từ bỏ, sửa sai với đám
hậu duệ cả trong lẫn ngoài nước, mà bi thảm hơn là khuyết
tật càng trầm trọng, lộ liễu, thô bạo và nguy hại hơn.
Nhưng không chỉ có như
trên với người, việc trong phạm vị chính trị, quân sự.
ễ một lãnh vực rộng lớn hơn về kích thước, sâu xa hơn
bởi tác động, mà có thể nói là đầu mối khai sáng, hạt
nhân làm bùng vỡ nên những biến động mặt nổi vừa kể
- Chúng ta bàn tiếp về mặt văn hoá, xã hội với những "kẻ
sĩ"- nhân tố chính tạo dựng nên phần phẩm tính của tất
cả chế độ. Nếu ở Tây Phương, Thượng Ðế đã bị thanh
toán qua Sấm ngôn của Zarathustra (Also sprach Zarathustra) để
con người có toàn quyền thực hiện mọi sự kiến tạo nên
một mẫu mực siêu nhân mới thay thế con người toàn thiện
- Adam Mới - ảnh hình sáng tạo bởi Thiên Chúa và chính là
Thiên Chúa; và cho dù Nietzche thật sự không tiên kiến về
trường hợp của những siêu nhân Ðệ Tam Ðức Quốc Xã,
nhưng chính danh ông ta chứ không ai khác là người đã khai
sinh ra phần hồn cho tổ chức, tập đoàn thủ phạm gây nên
cuộc tương tranh khốc liệt Thế Chiến Thứ Hai ở mặt trận
Châu Âu, với trị giá 12 triệu người chết do bị lưu đày
trong những trại tập trung lao động khổ sai của Ðức; và
đất nước nầy cũng trả giá lại với sáu triệu mạng vong.
Tương tự như thế, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và tổ chức
bạo lực cộng sản do ông ta xây dựng, giáo dục, huấn luyện
và chỉ đạo cũng sẽ chỉ là một tập doàn bạo động cướp
chính quyền và cũng cố quyền lực bằng những kế sách,
thủ đoạn, phương tiện bất chấp đạo lý, cạn kiệt nhân
tình, nếu không có một tập đoàn đông đảo những kẻ sĩ
chính thống trong một thời gian lâu dài gần trọn Thế Kỷ
20, đã cố công, nhiệt thành gây men sắc máu cho chủ nghiã,
bồi đắp, giữ vững chế độ, đầy ãi dân tộc xuống tận
vũng tối trầm luân, mất hẳn đà sống, triệt tiêu hy vọng
- Toàn thể Dân Tộc Việt Nam chứ không riêng cho Miền Nam
với chế độ Cộng Hoà bị đánh sụp từ năm 1975. Những
kẻ sĩ vô sỉ nầy đã hoàn thành xuất sắc sự nghiệp cách
mạng với "bước đầu có tiến bộ nhất định" (cách đánh
giá thưởng công của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội),
bằng chước độc tồi tệ - đánh tráo lịch sử - Các Vua
Hùng có công dựng nước. Bác, cháu ta có công giữ nước.
Vua Hùng bị cưỡng ép đổi diện mạo, để không phải
từ huyền thoại thuần hậu Lạc Long Quân - Âu Cơ mà khai
sinh ra Việt Tộc, nhưng là một thủ lãnh của giai cấp vô
sản giác ngộ cách mạng, lãnh đạo nhân dân chống lại tập
đoàn phong kiến phương Bắc, giải phóng chế độ chiếm hữu
nô lệ!! Hoặc, Lê Lợi sở dĩ tập trung được sức mạnh
quần chúng, vì nhân dân luôn có "truyền thống yêu nước",
nhưng sau mười năm trường kỳ kháng chiến, thắng lợi chống
ngoạI xâm, lại lên ngôi vua, kế tục vết xe đỗ của tập
đoàn phong kiến phản động Nhà Minh vừa bị ôsức mạnh
nhân dân taọ đánh bại. Nhà Nguyễn Gia Long sau thống nhất
đất nước 1802 thì tồi tệ hơn một bực, bởi đã là đầu
mối gây cớ cho việc người Pháp đem chiến thuyền đánh
phá Ðà Nẵng, năm 1858. Cuối cùng, bình minh lịch sử bắt
đầu từ, ... Năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước,
để sau đó có một sự kiện quan trọng diễn ra trong đời
sống chính trị, tư tưởng, văn hoá của Nhân Dân Việt Nam.
Một cuốn sách nhỏ viết bằng tiếng Pháp- Le Procès de la
colonisation francaise (Bản án chế độ thực dân Pháp) ký tên
Nguyễn Aí Quốc xuất hiện. Và tác động hiệu quả lớn
lao tiếp theo, ...lòng yêu nước thương nòi sục sôi, hình
ảnh Nguyễn Aí Quốc mà hầu như chưa ai đã từng thấy mặt
bao giờ, đi vào trái tim của họ (người Việt Nam) như một
vị quan toà, vừa như là một người thầy, người anh, người
bạn tâm phúc. Những đoạn trích dẫn trên lấy ra từ
hai tập Lịch Sử Việt Nam, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội,
Hà Nội, 1985 do một số viện sĩ, giáo sư danh tiếng- những
trí thức xã hội chủ nghiã - hợp soạn. Cần nói thêm một
chi tiết mà cuốn sử không nêu đến: Nguyễn Aí Quốc cũng
chính là cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành đã thất bại trong
bước đường mưu tìm công danh sau khi bị bác đơn xin theo
học Trường Thông Ngôn thuộc Bộ Thuộc Ðịa, cũng vào khoảng
năm 1911, năm cậu ta đi ôtìm đường cứu nướcọ. (Hồ chí
Minh, Con Người và Huyền ThoạI Tập I, Chính Ðạo, Văn Hoá
1993, Houston, USA.)
Từ lịch sử bị đánh
tráo, bước kế tiếp tất nhiên phảI thanh toán nguồn lực
nguyên thủy, vốn canh chừng, gìn giữ lòng người - Ông Trời
- Thượng Ðế bị miệt thị, vất bỏ không nương tay,
Trời không có thiên
thần
Ðất không có thánh
nhân
Chỉ có Nhân Dân
thần thánh
Và Ðảng ta làm nên
sức mạnh
Bay đến chân trời...
Nguyễn Ðình Thi
Trời bị đấu tố,
lịch sử bị nhúng vào máu, những thi sĩ, nhà văn, nghệ sĩ...
những văn công của tất cả chế độ cộng sản đông-tây,
quả thật đã hoàn thành nên quái tượng, người công nhân
tiên tiến của giai cấp vô sản với tâm chất vô đạo, ngược
ngạo thay mặt Thượng Ðế, chiếm dụng lịch sử, thủ đắtâquyền
giết người bởi yêu cầu chính trị, xây dựng, củng cố
chủ nghĩa, bảo vệ chế độ. Những Paven của Thép Ðã Tôi
Thế Ðấy ở Nga sô-viết; Bạch Mao Nữ của Trung cộng; Lý
Tự Trọng, chị Sứ, anh hùng Núp, Út Tịch, Kan Lịch, Nguyễn
Văn Trỗi... ở Việt Nam, được khai sinh hàng loạt như những
tế bào ung thư lây lan trong một cơ thể bị ung thối, nhiễm
độc. Bệnh nhập lý cộng sản từ những thập niên đầu
thế kỷ vừa qua đã tác hạI một phần ba nhân loạI, suốt
hai cõi á, Phi. Riêng nước ta, chỉ từ 2 tháng 9, 1945 mầm
ung độc kia mới thực sự xuất hiện và phát triển, nhưng
oan nghiệp thay, đến nay, mối quốc họa vẫn chưa có dấu
hiệu sút giảm, biện pháp thay thế, nếu không nói ngày càng
tồi tệ, hiễm ác thêm lên, do chung dòng sa đọa, tăm tối
hèn yếu của con người toàn thế giới - đám đông thời
hạ ngươn, mạt pháp - đã hằng a tòng với ác độc, kiêu
ngạo và tội lỗi.
Nhưng cộng sản không
đơn thân thực hiện tội ác- đồng thời với đám sát nhân
say máu kể trên, Miền Nam trước năm 1975 còn được tiếp
tay gây nên suy sụp nhanh chóng, (cũng có nghiã đánh vỡ luôn
hy vọng đối với Miền Bắc), bởi một tập đoàn quân phiệt
vô cùng kiêu bạc, bất nhân, dụng máu xương dân, lính người
Nam để xây dựng công danh, phẩm tước, tàI sản phù hoa.
Quả thật - Toàn thể
Dân tộc Việt đã bị đánh sụp vỡ không hy vọng phục hồi.
Cuối cùng, cũng nên
nói thêm điều dự phòng - Những người bạn chúng ta không
cất tiếng do từ thôi thúc, đòi hỏi muốn được cầu lợi
riêng tư ố cho dầu để thoả mãn một nhu cầu thuần túy
tình cảm, tinh thần. Bạn chỉ nói vì im lặng cũng là đồng
lõa với tính xấu và tội ác mà hình như mỗi chúng ta đã
lâu dài mắc thói quen đáng bị trách cứ nầy. Cửa thế kỷ
mới đang mở rộng - Mỗi Người Việt. Khối Ðoàn Thể. Toàn
Dân Tộc phải ôNhật Tân-Nhật Tân-Hựu Nhật Tânọ. Bằng
không- Chúng ta mãi mãi là kẻ đi sau. Luôn trì chậm theo sau...
Mời Qúy Bạn Ðọc theo
dõi phần I, Lời báo nguy của Saroyan Vann Phan
Giây phút nói thiệt...
Saroyan Vann Phan
Lời Người Viết:
Không gì bực mình hơn là phải nghe người ta nói thiệt! Vì
lời nói thiệt dễ làm mích lòng nhau. Nhứt là đối với
những người thường hay được nghe những lời ca tụng, tán
dương và kể cả nịnh bợ không có thiệt về mình, về gia
đình mình, về cộng đồng mình và luôn cả về dân tộc
mình!
Nói lên sự thực
với người mình —người Việt Nam— quả là một chuyện
hết sức khó làm. Bởi vì từ trước tới nay hầu hết những
lời nói hay bài viết của người này đề cập đến người
kia, nếu không là chửi bới quá đáng, thì cũng là tán dương
quá độ. Trong tiến trình tán dương quá độ, mọi ngôn từ
hoa mỹ đều được vận dụng để ca ngợi đối tượng,
mà không có phần nào nghiêm chỉnh phê phán để cho đối
tượng này thấy được những khuyết điểm cần phải sửa
chữa. "Mặc áo thụng vái nhau,"đó là lối mòn mà người
mình —đặc biệt là các văn nghệ sĩ— vẫn ưa dùng để
công kênh nhau trên mọi phương tiện truyền thông có được,
bất chấp lương tri và lẽ công bằng. Cứ hết ca ngợi lẫn
nhau đến ca ngợi dân tộc mình riết như vậy rồi thành thói
quen. Khi có người nào đó dám mon men vạch ra những khuyết
điểm hay thói hư, tật xấu của người Việt Nam thì nhiều
người sẽ lại nổi giận lên như thể là danh dự của họ
đã bị xúc phạm nặng nề rồi. Không, đó chỉ là cái tự
ái dân tộc hảo huyền mà thôi, thưa quý vị.
Sau khi đã nói vậy,
bài viết sau đây không nhằm chê bai hay chửi bới ai hết,
mà chỉ nhằm nói thiệt, tức nói lên sự thật, về những
nguyên do tại sao mà một dân tộc vốn ưa hãnh diện về truyền
thống lịch sử, văn hoá và đạo đức của mình như dân
tộc Việt Nam mà bây giờ lại trở nên một trong những dân
tộc trầm luân nhứt thế giới nếu xét về những mặt như
nghèo đói, không luật pháp, tàn ác với nhau, tự cho mình
là giỏi, hay tham lam, chuyên phản phúc, luôn chê bai và chửi
bới những ai không phải là chính mình, coi chuyện ăn hối
lộ là quyền đương nhiên của mình, lúc nào cũng chỉ coi
trọng đồng tiền và vật chất...
Còn một điều này
nữa. Người viết không muốn bị những người trừ trước
tới nay chỉ thích được nghe người khác tán dương hay nịnh
bợ (mà nay đành thất vọng vì không được tiếp tục nghe
những lời tán dương, nịnh bợ đó) chụp mũ là cộng sản
(như 90% những trường hợp cho thấy), là phản quốc, hoặc
là coi thường dân tộc mình... Vì vậy, người viết đành
ra tay trước để phòng thủ, tạm thời tự vỗ ngực nhận
mình là một trong những người chống Cộng kiên cường nhứt
thế giới, người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhứt,
và người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé cuả mình lúc
nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân
tộc lên trên hết.
Dân tộc Việt Nam, ngoài
những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế
giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch
tẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể
nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước
chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích
tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào
là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở
nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế
giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này. (1)
Những thói xấu của
người mình thiệt ra khá nhiều, nhiều hơn mức bình thường.
Người viết bài này chỉ gạn lọc và trình bày một số
tính tiêu biểu đã gián tiếp hay trực tiếp đóng góp vào
tình trạng đất nước Việt Nam ngày càng xơ xác, tiêu điều,
các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày càng tiếp tục
chia rẻ, phân hoá tưởng như không bao giờ hàn gắn được.
Các thói xấu đó là: không tôn trọng sự thực và lẽ phải,
khoe khoang và kiêu ngạo, cố chấp, độc tôn, kỳ thị, tàn
ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác, phe đảng, thiển cận,
ganh ghét, thích làm vua làm chúa, không công tâm, không tôn
trọng luật lệ, cướp công của người khác, ưa nịnh bợ,
tâng bốc, thích ăn hối lộ, tham lam, không tôn trọng nguyên
tắc và giờ giấc, không tuân giữ các cam kết... Những dẫn
chứng về xã hội và lịch sử Việt Nam —cả ở trong lẫn
ở ngoài nước— có thể giúp soi rọi vào cội nguồn và
những ngóc ngách của các thói xấu nêu trên.
Không tôn trọng
sự thực và lẽ phải: Lịch sử dân tộc Việt Nam
do người mình viết có nhiều điểm mơ hồ và không đi sát
sự thực, như những chi tiết liên hệ tới nguồn gốc dân
tộc, về các vị nữ anh hùng, về công cuộc mở mang bờ
cõi, về các lý do đằng sau việc cấm đạo Cơ Ðốc, về
các triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn, và gần
đây nhứt là về các chiến thắng của Vua Quang Trung trước
quân nhà Thanh xâm lược. (2) Những lời đồn đại về ôNgô
Triềuọ sau ngày 1-11-1963 cũng như những tập hồi ký của
các cựu Tướng Ðỗ Mậu, Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi,
Tôn Thất Ðính... (3) cũng là biểu hiện của tính không tôn
trọng sự thực của người mình. Còn lịch sử Việt Nam do
Ðảng Cộng Sản Việt Nam viết nên thì lại không hề có
lấy một phần mười của tính trung thực cần có trong phương
pháp sử học, mà chỉ nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền
và tự tôn vinh của người Cộng Sản Việt Nam. Gần như người
Việt nào ở hải ngoại cũng chửi bới Cộng sản, nhưng hễ
đã được về thăm quê hương thì một số lại khen lấy,
khen đễ Cộng sản, cốt sao cho được việc của mình và
gia đình mình chớ không hề muốn nói lên sự thực chút nào.
(4)
Khoe khoang và kiêu
ngạo: Ðào Duy Anh, khi viết về dân tộc Việt Nam, đặc
biệt chú ý tới tính hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa
hư danh của người mình. Trần Trọng Kim cũng cho rằng người
Việt Nam hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu
danh vọng. (5) ở nước ngoài, chúng ta vẫn thường nghe nói
tới sự thông minh và tài giỏi của người Việt Nam, tiêu
biểu là số lượng học sinh và sinh viên học giỏi, đậu
cao tại các học đường Âu, Mỹ, rồi tự lấy làm hí hửng
là dân tộc mình number one. Bình tĩnh mà xét, điều này cũng
không có gì lạ lắm, vì có cả trăm triệu người ở Châu
Âu, Châu Mỹ đậu những bằng cấp mà người mình đã, đang
và sẽ đậu, nhưng họ nào có xuýt xoa hay khua chiêng, gỏ
mõ gì đâu, mà chỉ im lặng làm việc và thành công sau khi
đã lấy được những bằngcấp kia. (6) Ðó là chưa kể tới
câu hỏi mà ai cũng nhắc tới là Một người Việt Nam thì
vậy, còn hai, ba hay nhiều người Việt Nam nữa đứng chung
với nhau thì sao? Còn về tính kiêu ngạo thì có lẽ không
ai kiêu ngạo hơn dân tộc mình, kể cả dân Thiên Hoàng Nhựt
Bản và dân Con Trời Trung Quốc. Theo lời Cộng Sản Việt
Nam (và ngay cả một số những người Quốc gia bị thua trận
trước đây), thì Việt Nam quả là cái thế anh hùng khi một
mình đánh thắng hết mọi đế quốc sừng sỏ từ Trung Hoa
và Mông Cổ tới Pháp, tới Nhựt rồi tới Mỹ. Người Cộng
sản còn phô trương rằng giới lãnh đạo của họ là những
bộ óc ưu việt, những đỉnh cao trí tuệ cuả loài người
tiến bộ trên thế giới đã xuất thần mà đề xướng ra
hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ
rồi lại sáng suốt "dắt giống nòi" vào con đường xã hội
chủ nghĩa. (7) Nên nhớ rằng kiêu ngạo là tính mà Ông Trời
ghét nhứt, và cũng chính vì tật xấu này mà loài người
hay bị Trời phạt nhiều nhứt. Các thành Sodom và Gomorrha (như
được kể lại trong Thánh Kinh Cơ Ðốc Giáo) đều đã bị
lửa Trời tiêu huỷ chỉ vì dân chúng ở đó quá kiêu ngạo
đến nỗi lo ăn chơi sa đoạ và dâm loạn, bất chấp những
điều răn của Thượng Ðế. Cứ xem dân tộc mình hiện đang
bị nghèo đói, trầm luân, rên siết đêm ngày dưới ách Cộng
sản thì biết ngay.
1. Cố chấp và
ngoan cố: Không ai cố chấp và ngoan cố như dân ta.
Cái gì của mình cũng là nhứt, còn người ta là hạng bét.
Hễ đã tin là mình đúng rồi thì cứ bắt người khác phải
theo cho bằng được; còn nếu sai thì vẫn cứ cố cãi cho
tới chết chớ không chịu nhận là mình sai. Vua Tự Ðức
không tin lời Nguyễn Trường Tộ nói là dân mình bị lạc
hậu so với Tây phương, tiếp tục nghe theo Tàu gọi các nước
Âu Mỹ là Tây di, rồi khư khư ôm lấy chính sách bế quan,
toả cảng, để rồi cuối cùng dân tộc ta phải làm nô lệ
cho thực dân Pháp. Hồi thập niên 1950-60, Hồ Chí Minh và phe
đảng ông, vì tin rằng muốn cho đất nước giàu mạnh thì
cả hai miền Nam, Bắc chỉ có cách là đi theo con đường xã
hội chủ nghĩa mà thôi nên đã nhứt quyết dùng võ lực buộc
chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam phải từ bỏ con
đường tự do dân chủ. Còn chính quyền Ngô Ðình Diệm hồi
đó thì vẫn khăng khăng cho rằng các chính đảng khác, kể
cả Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðại Việt, không có khả
năng chống Cộng như mình. Phe quân nhân sau đảo chánh 1-11-1963,
vì quá tự tin ở khả năng mình, đã không để cho các nhà
lãnh đạo dân sự có cơ hội cầm quyền tại Miền Nam Việt
Nam, cho dù họ có tài đức đến đâu. Cộng sản Việt Nam
thì cho giáo điều của họ là hay nhứt, không có lý thuyết
chính trị nào hay hơn, kể cả bọn xét lại Liên Sô và bọn
hiện đại hoá Trung Quốc. Ngay cả sau khi Liên Sô, vị thánh
tổ của Cộng sản thế giới và ôđại sư báọ của Cộng
sản Việt Nam, đã sụp đổ cùng với khối Cộng sản Ðông
Âu hồi 1991, Cộng sản Việt Nam, dù biết rằng mình đã hoàn
toàn sai trái, nhưng vẫn ngoan cố không chịu nhìn nhận điều
này để sửa đổi chế độ cho dân tộc được nhờ. Một
số đảng viên đã ly khai của họ -- như "hồi chánh viên"
Bùi Tín chẳng hạn -- vẫn cứ nhứt định cho rằng chỉ có
giới lãnh đạo tại Hà Nội, chớ không phải là chủ nghĩa
Cộng sản, đã sai lầm. Các cộng đồng Việt Nam tại hải
ngoại, tiêu biểu là tại Nam California, không ai nhịn ai, mạnh
ai nấy xưng hùng, xưng bá, làm cho cộng đồng nát bét, chẳng
qua cũng chỉ là vì tính cố chấp mà thôi.
2. Ðộc tôn:
Người mình, nhứt là các nhà lãnh đạo, thường có tính
ưa độc tôn, tức là chỉ muốn độc quyền làm lãnh tụ
hay chỉ muốn lịch sử ghi nhận rằng không có ai ngoài họ
có thể trị nước an dân. (8) Hồ Chí Minh vẫn thường nói
với đám con nít: "Xưa các Vua Hùng có công dựng nước, nay
Bác cháu ta có công giữ nước." (ý của họ Hồ là chính
ông ta, chớ không phải là ai khác, mới là kẻ có công giữ
nước.) (9) Chính vì cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ
muốn thế giới coi ông là người anh hùng duy nhứt có khả
năng giữ vững được Miền Nam Việt Nam khỏi bị Cộng sản
nuốt sống nên ông đã cố tình làm cho Quân Lực Việt Nam
Cộng Hoà phải tan rã (cho thiệt đúng với câu après moi le
déluge, nghĩa là nếu tao mà xuống ngôi rồi thì tụi bây chỉ
còn có nước đắm chìm trong bể khổ), (10) rồi lại ráng
canh cho tới giờ thứ 25 mới giao quyền lại cho cựu Tướng
Dương Văn Minh để cho ông này, vốn cũng không có tài kinh
bang tế thế gì mấy, chỉ còn kịp đầu hàng Cộng sản mà
thôi. (11) Trong các cộng đồng người Việt hải ngoại cũng
vậy, phàm người không làm được việc gì để phục vụ
đồng hương thì cũng chẳng thích kẻ khác làm được việc
cho cộng đồng để nổi bật hơn mình. Thái độ này đã
và đang là trở lực chính ngăn chặn Việt Nam tiến lên bắt
kịp với trào lưu tiến bộ hiện nay của thế giới. Người
Cộng Sản trong nước, dù biết chắc là họ thua tài, thấp
trí và bất lực, vẫn không chịu chấp nhận một thể chế
dân chủ đa nguyên để cho người Quốc gia có cơ hội đóng
góp tài năng xây dựng đất nước.
3. Kỳ thị:
Người Việt hải ngoại, nhứt là tại Mỹ, vẫn hay cười
chê người da trắng bản xứ là kỳ thị chủng tộc này nọ.
Nhưng hãy suy gẫm kỹ mà xem thử người mình có mắc bệnh
kỳ thị hay không, và bệnh đó so với người Mỹ thì nặng
hay nhẹ hơn. Người viết bài này nhớ hồi nhỏ, lúc còn
đi học, vẫn được mấy anh lớn trong xóm dạy cho một bài
hát châm chọc người Hoa kiều -thường được gọi là "các
chú" di cư sang buôn bán làm ăn tại Việt Nam. Bài hát có câu:
Si-noa là giống bên Tàu, đẻ ra thằng Chệt ăn toàn... trâu!
Ðối với dân tộc thiểu số miền núi (như Rhadé, Tày,
Mạ, Mán...), người mình không ngần ngại gọi họ là "mọi,"
với ý nghĩ rằng họ là những giống người kém văn minh
hơn ta đây. Dĩ nhiên là đối với hai ông bạn láng giềng
Lào và Căm-Bốt thì người Việt Nam lúc nào cũng vẫn tự
coi là mình hơn người ta một bậc, bất kể về phương diện
nào. Lại nhớ ngày xưa khi còn lính Mỹ tại Việt Nam, những
người đi làm sở Mỹ hay phụ nữ kết hôn với binh lính
và sĩ quan Mỹ vẫn còn bị coi là làm chuyện kém vinh dự
hay thiếu đạo đức (vì ham tiền mới làm), và con lai —dù
lai Pháp hay lai Mỹ— vẫn bị xã hội mình coi rẻ, nếu không
bảo là khinh khi, gọi là "đồ lấy Tây," "âđồ lấy Mỹ."
(Chả bù với thời nay, có chút dính dáng về máu huyết hay
hôn nhơn với người Mỹ da trắng, kế tới là Anh, Pháp, Ðức,
Hà Lan, Gia Nã Ðại, ý, Ðan Mạch, Na Uy, Thuỵ Ðiển, áo, Úc...
thì lại là một vinh dự lớn lao!)
4. Tàn ác, thiếu
cao thượng và ưa chơi gác: Thật ra, người Việt Nam
mình không phải là một chủng tộc có bản tính tàn ác. Trong
các vua đời Nhà Lý và Nhà Trần, nhờ ảnh hưởng tốt đẹp
của Phật Giáo, nhiều vị đã hết sức thương dân và còn
biết đem lòng từ bi, hỉ xả cuả nhà Phật ra để dạy dân
biết ăn ở cho có đạo đức, nhân từ. Về mặt tàn ác của
người mình, sử sách còn ghi lại cách đối xử tàn bạo
cuả binh lính Nhà Nguyễn dưới quyền Tướng Nguyễn Huỳnh
Ðức lúc đang chinh phạt Cao Miên (đời Vua Thiệu Trị). Cung
cách Cộng sản Việt Nam đối xử với tù binh Mỹ trong tay
họ phải nói là tàn ác và tồi tệ chẳng thua chi quân phiệt
Nhựt hồi Thế Chiến II nữa. (12) Người Mỹ, tuy bị coi là
ham mê tình dục mà ít chú trọng tới danh dự (kiểu Clinton)
và chỉ nghĩ đến cá nhân mình, nhưng lại giàu lòng thương
hại kẻ yếu kém hơn họ. Chẳng hạn, người Mỹ, lúc đã
trở nên giàu có, thường dùng tiền bạc dư thừa để làm
việc từ thiện, dù có khi chỉ để mua danh. Và họ ít khi
muốn đánh kẻ đã ngã ngựa, cho dù kẻ đó là Ðức hay Nhựt.
Việt Nam mình thì khác: Kẻ thắng sẽ đánh, giết người
thua cho tới cùng. Các ví dụ trong lịch sử gồm có chuyện
Trần Thủ Ðộ giết hại tôn thất nhà Lý, chuyện Vua Gia
Long cho đào mả Vua Quang Trung để lấy đầu lâu đái vào
và xử tử nữ Tướng Bùi Thị Xuân cuả Tây Sơn một cách
tàn nhẫn, chuyện các vua đời Hậu Lê và Nguyễn giết hại
công thần... Quân viễn chinh Việt Nam tại Lào và Căm-Bốt
luôn luôn chơi gác đồng minh của mình, dù ôphe taọ là Quốc
gia hay Cộng sản. Hiện đại nhứt vẫn là chuyện Cộng Sản
Bắc Việt chơi gác Mỹ tại bàn Hội nghị Ba-lê, với lá
bài tẫy là tù binh Mỹ trong tay họ. (Có điều trớ trêu là
người Mỹ chỉ ngu đoản kỳ, trong khi Cộng sản Bắc Việt
lại ngu trường kỳ!)
5. Phe đảng:
Không dân tộc nào lại có tính phe đảng hơn người mình.
Phe đảng đây có nghĩa là ngoài mình ra, mình chỉ lo cho vợ
con mình, bà con mình hay bè bạn mình là hết, còn đất nước
thì cứ kệ mẹ nó, muốn ra sao thì ra. Ðiều này đúng cho
cả phe Quốc gia lẫn phe Cộng sản, cho nên đất nước mình
mới mau chóng tàn mạt như thế này. (13) John Paul Vann, Cố
vấn Trưởng Vùng II Chiến thuật hồi thập niên 1970, đã
ngỏ ý xa gần rằng "người Việt Nam là những kẻ yêu thương
chan chứa nhứt (thế giới)" (the Vietnamese are the greatest lovers),
ý nói người mình chỉ biết yêu thương, lo lắng cho sự an
nguy của quyến thuộc, thân bằng mà quên đi vận mệnh chung
của đất nước. Ngay cả lúc cần phải lui quân (cỡ Dunkerque),
sĩ quan và binh lính ta vẫn đèo bòng vợ con làm cho cuộc triệt
thoái thêm phần vướng víu, chậm chạp và dĩ nhiên là nhiều
thương vong. Hồi còn Việt Nam Cộng Hoà, cái triết lý một
người làm quan, cả họ được nhờ là triết lý phổ biến
nhứt và được nhiều người theo nhứt. Ai cũng chê Tổng
Thống Diệm là gia đình trị, nhưng nếu chính quyền rơi vào
tay một gia đình khác thì cũng thế, có điều là gia đình
này có độc tài và tham nhũng hơn gia đình kia hay không mà
thôi. Thời quân nhân cầm quyền ở Miền Nam Việt Nam thì
chỉ có ai trong đảng ka-ki mới được trao quyền cai trị
đất nước. Quân đội thì lại bị một số tướng lãnh
coi như là tài sản riêng, để rồi họ cứ nhân danh tập
thể Quân đội mà ban phát cấp bậc hay chức vụ cho những
ai trung thành với họ. Thời Cộng sản thì khỏi nói rồi,
chỉ có "Ðảng ta" là xứng đáng được ăn trên, ngồi trốc,
làm giàu và cho con du học (Ðế quốc) Mỹ mà thôi! Thử hỏi
một khi đã mở cửa cho dân chủ đa nguyên thì làm sao mà
Cộng sản có thể thực thi chính sách phe đảng cho được?
6. Thiển cận:
Ai viết sách hay giảng thuyết nơi đâu cũng khen ông cha chúng
ta là nhìn xa, trông rộng. Sự thật chỉ đúng một phần nào
đó mà thôi như phần chịu nhịn nhục triều cống Trung Hoa
sau mỗi đợt chiến thắng quân xâm lược phương Bắcùcòn
phần nhiều là thiển cận. Vì vậy dân tộc ta mới bỏ mất
cơ hội canh tân đất nước (thời nhà Nguyễn), cơ hội hoà
giải dân tộc và tái thiết đất nước thời hậu chiến
(khi Cộng sản thắng năm 1975) và cơ hội lấy lại Quần đảo
Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của ta 100 phần trăm (khi Trung Cộng
đang bị đánh bại trên mặt trận sáu tỉnh biên giới phía
Bắc). Cứ nhìn các công trình kiến trúc nhỏ xíu của các
triều đại vua, chúa Việt Nam để lại cho hậu thế thì biết:
Không phải tại vua, chúa ta nghèo hay chẳng muốn vắt kiệt
sức dân để phục vụ quyền lợi riêng như vua Tàu, vua Miên,
vua Xiêm hay vua Lào đâu, nhưng chính là vì cái nhìn cuả người
mình không thoáng, không vượt quá luỹ tre xanh đầu làng nên
các công trình kiến trúc của mình thiếu vẻ bề thế, bao
la và hùng tráng. (14) Cũng chỉ vì tầm nhìn không xa, không
rộng nên dân chúng Miền Nam mới liên tục biểu tình đòi
hoà bình với bất cứ giá nào, đòi Mỹ cút ngay, cho dù Việt
Cộng đang đánh sát sàn sạt bên hông. Còn các tướng, tá
trong Quân Ðội Cộng Hoà thì chỉ thích lật đổ Tổng Thống
Diệm cho khuất mắt để được dịp tự lên lon cho lẹ! Và
cũng chính vì cái tính thiển cận này mà người Việt hải
ngoại ít quan tâm đến những cuộc đầu tư có tính cách
lâu dài, như đầu tư vào chính trị (đi bầu cho đông để
tạo áp lực, ra tranh các chức vụ dân cử...) hay đầu tư
vào văn hoá (cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam, làm công
tác bất vụ lợi...) mà chỉ thích làm sao hễ sáng bỏ tiền
ra là tối phải thu lợi vào ngay, chớ không thể để ngâm
vốn lâu được!
7. Ganh ghét và đố
kỵ: Tại sao người Việt hải ngoại sau hơn hai thập
niên sống lưu vong vẫn chỉ làm được có mỗi một việc
(coi không được) là đem nộp cho Cộng Sản Việt Nam hơn một
tỷ đô-la mỗi năm? Ðó lại người mình không đoàn kết
(trong tình đồng bào cũng như trong sách lược chung), mà cỗi
nguồn của tình trạng này vẫn là lòng ganh ghét, đố kỵ
nhau từng ly, từng tí. (15) Ðối với người mình, trâu buộc
ghét trâu ăn đã đành, nhưng trâu ăn này lại còn ghét cay,
ghét đắng trâu ăn kia nữa mới là đáng nói! Một ví dụ
điễn hình là vụ Còi hụ Long An thời Ðệ nhị Cộng Hoà
ở Miền Nam Việt Nam, tức là vụ phe của Bà Thiệu tranh đua
buôn lậu với phe của Bà Khiêm, đôi bên đều sử dụng các
lực lượng quân đội hùng hậu, kéo còi hụ hộ tống hàng
hoá um sùm trời đất. Người viết bài này trộm nghĩ phe
Cộng sản bên nhà cũng chẳng khá hơn phe hải ngoại trong
lãnh vực này. Cứ nhìn việc "Ðảng ta" hạ bệ ngay và không
tiếc xót "đệ nhất công thần" Võ Nguyên Giáp sau trận Ðiện
Biên Phủ hồi 1954, cứ nhìn những cuộc thanh trừng nội bộ
liên tiếp trong "Ðảng ta" —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam là nạn nhân "đáng thương" nhứt— từ hồi chiếm được
Miền Nam Việt Nam đến nay thì đủ biết.
8. Thích làm vua,
làm chúa: Cái này thì đã rõ từ thời còn mồ ma thực
dân Pháp kia, khi các quan cai trị Pháp nghiên cứu về dân tộc
tính của người "An-nam" ta. Một vị Tây mũi lõ —dường
như là Toàn Quyền Pierre Pasquier— đã "phán" thẳng thừng:
Trong bụng mỗi một người An-nam đều có một ông quan. Câu
nói này tuy hơi khắt khe nhưng cũng đã nói lên tính thích
làm vua, làm chuá của người mình. Chính vì cái tính này mà
người mình đâu có ai chịu phục ai. Bởi thế cho nên, nhìn
quanh, nhìn quất trong cộng đồng người gốc á châu-Thái
Bình Dương ở hải ngoại, chỉ có nhóm người Việt Nam mình
là phải thường xuyên khổ sở vì tranh chấp và kiện tụng
về quyền lãnh đạo, từ các trung tâm văn bút cho tới các
ban đại diện cộng đồng. Quý vị còn lạ gì khi thấy cảnh
bên Mỹ một tiểu bang hay nửa tiểu bang mà có tới hai, ba
ban đại diện cộng đồng Việt Nam, trong khi đó xuất hiện
hằng trăm hội đoàn, mà hầu hết các hội đoàn này chỉ
có chủ tịch đứng tên trong hội đồng quản trị mà thôi.
Thậm chí có người đã cả gan một mình đứng làm chủ tịch
cả chục hội đoàn, vừa Việt vừa Mỹ. Mà phải như các
hội đoàn này có hoạt động gì ích quốc, lợi dân cho cam!
Trái lại, nó chỉ hiện diện để người cầm đầu dễ bề
lợi dụng danh nghĩa cộng đồng vào những âm mưu làm kinh
tế hay chính trị riêng tư của họ.
9. Không công tâm:
Không công tâm tức là tư vị, mà chuyện này thì xảy
ra như cơm bữa tại Việt Nam dù dưới chế độ nào đi nữa.
Con ông, cháu cha (phải được ưu tiên) vẫn là phương châm
của mọi thời đại. Vì không công tâm nên mới sinh ra nạn
phe đảng và bè phái làm ung thối mọi cấp chính quyền trong
quá khứ cũng như hiện tại, bên này hay bên kia vĩ tuyến
17 cũng vậy. Chính nhờ nổi tiếng là có công tâm nên Cụ
Trần Văn Hương mới được mời làm đến Thủ Tướng và
sau đó là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng điều đáng
tiếc cho vận nước là số người như cụ không nhiều hơn
số ngón trên một bàn tay đã cụt hết bốn ngón rồi! Bệnh
không công tâm còn thể hiện qua cách viết lách, tường thuật,
phê phán vụ việc và ghi chép lịch sử nữa. Ðặc biệt về
cuộc Chiến Tranh Việt Nam, người Việt Nam, ở một mức độ
cao hơn người Mỹ, thường thiếu công bằng khi kể lại các
sự kiện xảy ra. Nếu là một cựu quân nhân Nhảy Dù, Thuỷ
Quân Lục Chiến hay bộ binh viết về một trận đánh nào
đó tại Nam Việt Nam, thành tích của đơn vị gốc cuả tác
giả thường được đề cao, trong khi thành tích cuả các đơn
vị bạn lại bị kín đáo dìm xuống hay có khi bị lờ đi,
không đề cập gì tới cả. (16) Lối tường thuật và viết
sử của Cộng sản dĩ nhiên là còn tồi tệ hơn nhiều, nghĩa
là không đếm xỉa gì tới sự thực mà hoàn toàn thiên vị
nhằm mục đích tuyên truyền và độc tôn phe Cộng sản. Dĩ
nhiên, một lý do khác của sự thể này là người cầm bút
của mình thường thiếu phương pháp sử học và không hề
để ý tới nguyên tắc vô tư trong tường thuật báo chí.
10. Không tôn trọng
luật lệ: Chính nhờ tinh thần thượng tôn luật
pháp mà Mỹ Quốc,tuy chỉ mới lập quốc có hơn 200 năm, nay
đã trở thành một siêu cường giàu mạnh nhứt thế giới.
Nhưng Việt Nam ta thì coi như không mấy ai bận tâm đến chuyện
phải tôn trọng luật pháp. Ðây là hậu quả tất yếu của
một quốc gia phải trải qua cả nghìn năm chinh chiến, hết
nội thù đến ngoại xâm, hầu như không có lúc nào được
an hưởng thái bình đủ lâu để củng cố hệ thống luật
pháp chung cho đất nước. Ðất nước Việt Nam tuy mang tiếng
là được trung ương tập quyền từ đời Lý (thế kỷ thứ
11-13) nhưng thiệt sự triều đình chỉ nắm được quyền
thu thuế và bắt lính qua trung gian một hệ thống làng xã
khá vững chắc. Phép vua thua lệ làng, câu này vừa nói lên
tính tự trị từ ngàn xưa cuả hệ thống làng xã Việt Nam
- vì triều đình quá bận bịu chinh chiến chống ngoại xâm
và nội thù — vừa nói lên sự lỏng lẻo cuả luật pháp
quốc gia. Hay nói khác đi, Việt Nam chỉ thiệt sự có luật
pháp quốc gia từ đầu thế kỷ 19 với Bộ Luật Gia Long,
mặc dù, trên nguyên tắc, đất nước đã có luật pháp chung
kể từ thời Lê Thánh Tôn (thế kỷ thứ 15) với Bộ Luật
Hồng Ðức. Nói chung, ý thức tôn trọng luật pháp của người
mình rất thấp. Một phần là vì khả năng truyền thông yếu
kém do tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phần khác do đầu óc
sứ quân và óc địa phương, làng xã còn nặng, phần khác
nữa do đời sống dân chúng hãy còn quá đơn giản, chưa có
những nhu cầu phức tạp của một dân tộc văn minh cao. Khi
Cộng Sản cởi đầu, cởi cổ được cả hai miền Nam Bắc
thì họ liền trở về với tình trạng phân hoá sứ quân cũ,
nghĩa là mỗi tỉnh đều có luật lệ riêng để áp dụng,
có khi luật tỉnh (do bí thư tỉnh ủy đảng Cộng Sản hành
xử) còn được đặt trên cả luật pháp quốc gia, với dụng
ý để cho cán bộ tỉnh dễ bề tham nhũng và có thể tuỳ
tiện ăn hối lộ mà không cần phải trình báo cho trung ương.
Và rồi tình trạng vô luật pháp chỉ là một hậu quả tất
nhiên của tệ nạn tham nhũng và hối lộ lan tràn, bởi vì
lúc nào cũng thấy diễn ra cảnh "nén bạc đâm toạc tờ giấy."
Ngày nay, những ai từng về Việt Nam du lịch đều nhìn nhận
rằng Việt Nam không hề có luật lệ giao thông. Hễ đã ra
đường rồi thì mạnh ai nấy chạy, mạnh xe nào nấy đi,
chừng nào tai nạn xảy ra thì cứ chửi nhau inh ỏi cả lên,
ai to tiếng hơn thì thắng, còn có bồi thường thì cũng chỉ
là vờ vịt, qua loa mà thôi, chủ yếu là xuýt xoa xin lỗi.
Cướp công của
người khác: Vì không có một hệ tư tưởng hay học
thuyết dân tộc cuả riêng mình, người Việt Nam rất
dễ dàng tiếp nhận những luồng tư tưởng từ bên ngoài.
Việt Nam đã du nhập nào Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo,
Cơ-Ðốc Giáo, chủ nghĩa tự do dân chủ Tây phương, chủ
nghĩa duy vật Mác-xít Lê-nin-nít, triết học hiện sinh cùng
với các trường phái nghệ thuật từ cổ điển và lãng mạn
tới ấn tượng và lập thể. Người mình còn ưa lấy các
học thuyết khác nhau của Trung Hoa và Ấn Ðộ ôxào nấuọlại
rồi cho đó là công trình sáng tạo của mình, gọi các công
trình đó là một hình thức Việt Nho hay Việt Học. (17) Các
sản phẩm kiến trúc hay âm nhạc cuả Việt Nam thiệt ra đều
là những bản sao có thêm thắt cuả lối xây cất hay cách
thế ca hát, nhảy múa của Trung Hoa và Chàm (Ấn Ðộ). (18)
Các nhà cai trị thực dân Pháp cũng từng ghi nhận rằng dân
tộc Việt Nam có tài bắt chước, mà hễ đã bắt chước
thì không phải là sáng tạo mà chỉ là lấy của người làm
của mình thôi. Một tỷ dụ điển hình khác cuả thói xấu
này là tật "cướp công cách mạng" khi Cộng Sản tự vỗ
ngực cho rằng chính họ là người duy nhứt đi tiên phong trong
phong trào đánh Pháp, đuổi Nhựt. Thiệt sự thì những đảng
phái quốc gia khác như Việt Nam Quốc Dân Ðảng hay Ðại Việt,
hoặc các giáo phái như Cao Ðài và Hoà Hảo cũng là những
thành phần có công chống Pháp, kháng Nhựt vậy. Chỉ có điều
là họ không giành được chính quyền vào tay để mà tha hồ
kể công với lịch sử như Cộng sản đang làm.
Ưa nịnh bợ, tâng
bốc: Vì có máu kiêu ngạo thêm tính ưa làm quan (như
đã kể trên), người Việt Nam thường chỉ thích được kẻ
khác nịnh bợ, tâng bốc. Những lời nói thiệt, nói thẳng
kiểu Nguyễn Trường Tộ hay Phan Châu Trinh dễ làm vua quan
ta phật ý. Sử chép rằng Vua Khải Ðịnh thích được các
quan quỳ lạy, xưng tụng đến nỗi nhà vua đã cho thiết lập
cả một triều đình ngay tại Marseilles trong thời gian có Hội
Chợ Kinh Tế (Ðấu Xảo) Ðông Dương thuộc Pháp năm 1925.
(19) Tổng Thống Diệm cuả Miền Nam Việt Nam chỉ thích được
nghe người ta ôsuy tôn Ngô Tổng Thống.ọ Nhưng họ Hồ và
Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì ở một mức độ cao hơn nhiều.
Ðám bồi bút và văn nô cuả Hồ Chí Minh, đứng đầu là
Tố Hữu (nhà thơ mà sau làm đến Phó Thủ Tướng Ðặc Trách
Ðổi Bạc) với các phụ tá như Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi,
Huỳnh Minh Siêng... lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, làm văn,
làm nhạc, hết mình ca tụng Bác và Ðảng. Và cho dù Bác và
Ðảng có thực sự xua đẩy đất nước mình xuống bờ vực
thẳm, họ cũng không hề dứt lời say sưa ca ngợi: Bác đến
từng nhà thăm các cụ già, cầm tay chúng con, Bác bắt nhịp
bài ca kết đoàn. —Tiếng Hát Thành Phố Mang Tên Người.
Thích ăn hối lộ:
Ðây là căn bệnh chung của phần lớn các quan lại và những
người mà trong bụng lúc nào cũng có một ông quan. Bệnh phát
triển quá mức bình thường một khi niềm tin vào kỷ cương
và giềng mối cuả đất nước tan rã. Tại Miền Nam Việt
Nam, sau khi chiếm được Dinh Gia Long, phe đảo chánh Tổng Thống
Diệm chỉ tìm thấy chiếc giường gỗ và một giá sách trong
phòng ngủ của ông. Nhưng sau khi Tổng Thống Thiệu ra đi,
người ta tin rằng ông đã mang theo ra nước ngoài nếu không
phải là cả tấn vàng thì cũng một số lớn tài sản tích
luỹ được ố-kể cả các chương mục ngân hàng tại Thuỵ
Sĩ— sau 10 năm cầm quyền. Các tướng lãnh dưới quyền ông
từ Trần Thiện Khiêm tới Cao Văn Viên và Ðặng Văn Quang
cũng đều được người đời nhắc nhở tới như là những
tay tham nhũng lớn của chế độ. Các vị này vẫn thường
coi chuyện ăn hối lộ và tham nhũng như là quyền đương nhiên
của giới lãnh đạo, nhứt là trong lúc đất nước đang có
chiến tranh, bản thân họ thì phải vào sanh ra tử. Tỷ dụ
như Tướng Ðỗ Cao Trí, một vị tướng rất tài giỏi (cỡ
Patton) nhưng không sạch của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà,
trong một phút cao hứng, từng nói với báo chí ngoại quốc
rằng ông vừa đánh giặc vừa làm giàu, (ý nói ông có quyền
tham nhũng và buôn lậu qua vùng tam biên). Nhưng than ôi! Tham
nhũng cỡ đó thì đâu có thấm béo gì nếu so với các quan
chức Cộng sản hiện đang toàn quyền cai trị 75 triệu dân
Việt Nam (và một số Việt kiều yêu nước ở hải ngoại)!
Trên thực tế, tình trạng tham nhũng và hối lộ ở Miền
Nam, phát sinh từ chiến tranh chống Cộng, đã gia tăng với
một nhịp độ khủng khiếp sau khi Sàigòn rơi vào tay Cộng
sản. Và tình trạng này đã lây lan mãnh liệt, làm ung thối
luôn cả chế độ Cộng sản Miền Bắc vốn bị kìm hãm trong
kỷ luật sắt của một nước độc tài, đảng trị (đang
dốc hết mọi tài nguyên vào cuộc chiến tranh xâm lược nước
khác) và quá nghèo nàn, không biết lấy gì để tham nhũng
cho ra trò. (20) Dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn cho rằng ngày
xưa vì chỉ có các ông lớn ăn —mà phần lớn là ăn tiền
của Mỹ cho— nên dân còn đỡ đỡ một chút. Nay dưới trào
Cộng sản thì mạnh lớn, lớn ăn, mạnh nhỏ, nhỏ ăn (mà
lại chỉ ăn vào tiền mồ hôi nước mắt cuả dân chúng chớ
làm gì có viện trợ của Liên Sô hay Trung Quốc đổ xuống
dồi dào như hồi Mỹ chưa phụ bạc Miền Nam Việt Nam) nên
đất nước ta mới xác xơ đến vậy. May mà có Việt kiều
hải ngoại thương tình mỗi năm chính thức bôm vào trong nước
khoảng 1 tỷ rưỡi đô-la chớ không thì dân nghèo sẽ chết
trước hết, rồi từ từ mới đến người giàu và cán bộ,
đảng viên khệnh khạng mua vé Air France hạng tối danh dự
bỏ nước ra đi sang định cư tại Thuỵ Sĩ!
Tham lam: Mặc
dù lòng tham là bản tính chung Trời ban cho loài người không
phân biệt chủng tộc, người Việt Nam đặc biệt tham hơn
người khác vì đau khổ và thiếu thốn nhiều quá. Lòng tham
này biểu hiện trong cách buôn bán lừa đảo, làm hàng giả
và chặt đầu lột da, không phân biệt phải trái và không
kể chi đến chuyện lưu nhân tình để ngày sau hảo tương
kiến. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, người Việt gốc Hoa,
tuy cũng tham lam chớ chẳng phải là không, trong buôn bán vẫn
tỏ ra thiệt thà và giữ gìn chữ tín hơn là người Việt
chính tông của mình. Cộng Sản, tuy tự xưng mình là vì giai
cấp vô sản mà chiến đấu, lại đặc biệt bóc lột đám
dân vô sản cô thế và xô đẩy con người vào chỗ tham lam
vô cùng, vô tận. Cứ đi về Việt Nam du lịch một vòng thì
biết liền: Bà con, họ hàng gì mà cho tiền ít thì hờn giận,
nói xỏ, nói xiêng; địa phương thanh lịch gì mà qua cầu
khỉ cũng phải trả tiền; khách sạn tối tân cỡ nào mà
giá lại đắt hơn cả bên Mỹ; "núm ruột ngàn dặm" gì mà
hễ đi thăm thú nơi đâu thì cũng bị đồng bào ruột thịt
chặt tiền gấp đôi... Ai cũng ngậm ngùi khi thấy cảnh hoàng
cung và các lăng tẫm tại cố đô Huế tiêu điều, hoang phế
mặc dầu đây là một trong các điểm du lịch hái ra tiền
nhiều nhứt nước. Ai có ngờ đâu rằng Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cấp cho nhà
cầm quyền Cộng sản Việt Nam hằng triệu Mỹ kim để trùng
tu di tích này, nhưng họ cứ để vậy, một phần vì tiền
đó đã bị họ chia chác nhau ăn cả rồi, phần khác vì họ
có thâm ý tạo cảnh tang thương đặng gợi lòng xúc cảm
của du khách, mà chung quy cũng chỉ là để moi tiền thêm mà
thôi!
Không tôn trọng
nguyên tắc và giờ giấc: Người Việt Nam tỏ ra rất
thích nghi thức và kiểu cách, nhưng lại không chịu tuân thủ
một nguyên tắc nhứt định nào làm chuẩn cả. Từ lễ cúng
ông bà ngày Tết cho tới lễ cúng thần hoàng hay lễ hỏi,
lễ cưới... mỗi miền đều theo một nghi thức riêng, không
ai chịu ai là chuẩn mực. Rồi cứ thế tam sao thất bổn,
đến đời nay mỗi khi có lễ lạc gì thì mạnh ai nấy làm,
mới nhìn thì cũng na ná như nhau, lại gần mới biết là không
nơi nào hành lễ giống như nơi nào cả. Theo một bài viết
của cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, hồi tháng Ba năm 1975, các
đơn vị thuộc Vùng I Chiến Thuật đã phải rút bỏ Huế
chỉ vì phải tuân thủ nguyên tắc ôthi hành trước, khiếu
nại sauọ của Quân Ðội, trong khi đó vị tổng tư lệnh
là Tổng Thống Thiệu thì lại không tuân giữ nguyên tắc
trước sau như một khi ban lệnh: chiều thì lệnh phải giữ
Huế, sáng thì lệnh phải bỏ Huế, làm cho lòng quân rối
loạn dẫn tới chuyện mất Vùng I rồi mất nước luôn. (21)
Cộng Sản cũng vậy, đã có lệnh của trung ương rồi, nhưng
các tỉnh ủy vẫn tuỳ tiện ra phản lệnh hoặc ra thêm lệnh
khác, nhứt là lúc cần đánh thêm một đợt thuế nữa vào
những nhà đầu tư ngoại quốc lớ ngớ tới làm ăn tại
Việt Nam. Còn chuyện không tuân thủ giờ giấc thì ai cũng
biết là người mình chẳng hề có khái niệm nào đứng đắn
về thì giờ, vì thế mới có thứ giờ cao su. Cứ chịu khó
đi dự một phiên họp cộng đồng hay đi ăn một đám cưới
nào thì quý vị đủ biết. Giờ hành lễ trên giấy tờ là
9 giờ sáng hay 5 giờ chiều thì cứ y như rằng là phải đợi
mãi đến 11 giờ trưa hay 7 giờ tối mới nói tới chuyện
khai mạc được, rồi rề rà, ê a mãi tới quá ngọ hay tuất
gì đó (9 giờ tối ) mới thực sự đi vào trọng tâm buổi
lễ. Ðiều có vẻ khó hiểu là hầu hết các quan khách Việt
Nam này bình thường, khi đi làm sở Mỹ để lãnh lương, thì
lại rất hiếm khi thấy có ai dám thử mạo hiểm dỡn mặt
supervisor đi làm trễ giờ!
Không tuân giữ
các cam kết: Thất hứa hay không tuân giữ các cam kết
cũng là một trong các thói xấu mà người Việt mình mắc
phải. Các chính trị gia thời chế độ Cộng Hoà ở Miền
Nam ưa thất hứa vì tình trạng bầu bán lúc đó, tuy có dân
chủ nhưng chưa dân chủ đúng mức, cho nên cử tri khó có
dịp để trừng phạt họ bằng lá phiếu. Chính quyền Cộng
sản bây giờ tại Việt Nam thì hoàn toàn không hề bận tâm
đến chuyện phải giũ lời hứa với ai, vì có cử tri nào
có thực quyền hạ bệ họ đâu mà họ phải ngán? Chuyện
nuốt lời hứa của Cộng Sản đã nổi bật ngay sau khi họ
"giải phóng" được Miền Nam và đưa hằng trăm ngàn quân
nhân, viên chức, thành viên các đảng phái đối nghịch với
họ đi "học tập cải tạo" từ 1 tháng tới 10 ngày. Các con
số 1 tháng hay 10 ngày này sau cùng đã biến thành 5 năm, 10
năm, 15 năm hay lâu hơn nữa, bởi vì toàn thể Miền Nam Việt
Nam đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trắng trợn lường gạt
ngay trong "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" (22) của cuộc
"hoà hợp, hoà giải dân tộc" mà họ đã không ngừng cổ
võ và cam kết để phía bên kia nhẹ dạ nghe theo mà buông
súng đầu hàng cho lẹ.
Trên đây mới chỉ là
18 trong vô số những thói xấu mà người Việt ở trong cũng
như ngoài nước hiện đang mắc phải. Có thể một số quý
vị sẽ cảm thấy bàng hoàng vì không tin là cái dân tộc
của chính mình mà lại mang nhiều khuyết điểm trong đạo
đức làm người đến như vậy. Ðể quý vị có thêm cơ sở,
người viết xin đưa ra một số nguyên do đã đưa đẩy con
người Việt Nam, bằng máu và thịt, ở trong cũng như ngoài
nước, đến cuộc khủng hoảng đạo đức và xã hội như
hiện nay:
Vì nội chiến và ngoại
xâm liên miên trong suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc
Việt Nam luôn luôn phải đặt mình trong tình trạng nghi ngờ,
giận dữ và thù hằn. Cái đạo đức của một dân tộc hiếu
hoà như bất cứ dân tộc nhỏ bé nào đó trên một hải đảo
Thái Bình Dương nào đó thiệt khó có cơ hội phát triển
trong dân tộc mình. Ðiều này cũng tương tự như hoàn cảnh
cuả một đứa bé phải sống trong bối cảnh một gia đình
đầy những sự lạm dụng (abuse) và bạo lực (violence). Do
lâm trận hoài trong chiến tranh, người Việt Nam có thể là
những chiến sĩ tài giỏi nhứt thế giới, nhưng đồng thời
cũng có thể là những con người ít thuần tánh nhứt và dữ
dằn nhứt. Cứ xem cung cách quân ta hành xử với người Chàm
trước đây hay người Miên sau này (mà sử sách còn ghi lại)
thì đủ biết. Ðiều này cũng có thể giải thích phần nào
sự tàn ác mà Cộng sản vẫn thường dành cho các tù binh
trong tay họ, cho dẫu đó là người (Miền Nam) đồng chủng
tộc với họ hay người Mỹ dị chủng, mũi lỏ, mắt xanh.
a. Chiến tranh triền
miên và tiêu hao, cộng thêm với những năm tháng bị xích
xiềng nô lệ vừa làm cho người Việt Nam bị phân hoá (dân
Bắc kỳ, dân Trung kỳ, dân Nam kỳ; Quảng Nam hay cãi, Quảng
Ngãi hay lo, Bình Ðịnh so đo, Thừa Thiên đớp hết...) vừa
làm cho quyền lực của chính quyền trung ương khó tới được
các địa phương và tạo ra tình trạng phép vua thua lệ làng
như đã nói, một tình trạng thiệt chẳng hay ho gì nếu ta
xét về mặt quyền lợi quốc gia, vì nó đẻ ra tệ nạn sứ
quân (thời tiền Ðinh) và tỉnh uỷ (thời Cộng Sản). Ðiều
này cũng giải thích tại sao dân tộc Việt Nam là một trong
các dân tộc ít được chính quyền (do họ bầu lên hoặc
không) chăm lo, phục vụ nhứt trong lịch sử nhân loại. Mối
quan hệ dễ thấy nhứt giữa ônhà nướcọ và ônhân dânọ
ở Việt Nam là bên này chỉ chăm chú bắt bên kia phải đóng
thuế và đi lính cho mình, chớ bên này chẳng hề phải lo
lắng, phục vụ cho bên kia như quan hệ giữa chính quyền và
dân chúng tại các nước khác trên thế giới mà người Việt
hải ngoại đã may mắn có dịp nhìn thấy và học hỏi.
b. Chiến tranh và "đổi
đời" liên tiếp cũng tạo nên trong tâm lý người Việt Nam
những điều thái quá không hay khác như không cha không chúa,
hoài nghi, lo lắng, tích luỹ, dễ bạo động, không khoan nhượng
và tha thứ, nhẫn tâm, chai đá, sống cuồng sống vội, vá
víu, cục bộ, tuỳ tiện, bội bạc, tham lam, hỗn quân hỗn
quan, vô luật pháp, vô đạo đức... Ðọc lại lịch sử đất
nước, các vua, chuá ta một khi đã chiến thắng kẻ khác thường
không mấy khi hành xử cho cao thượng mà chỉ lo trả thù,
đôi khi khá hèn hạ. Họ cứ làm như là không hề biết tới
cái đạo lý của các hiệp sĩ từ Ðông sang Tây là ôkhông
đánh kẻ ngã ngựa.ọ Ðiều này giải thích tại sao Cộng
Sản Việt Nam đã công khai hành hạ và ngấm ngầm giết hại
hằng trăm ngàn tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà qua chính
sách giả nhân giả nghĩa "học tập cải tạo" mà họ luôn
mồm huênh hoang là "khoan hồng nhân đạo" (nhứt thế giới!)
Quý vị hẳn cũng thừa biết, về phiá dân tộc Mỹ, với
chỉ có 200 năm văn hiến, kẻ thắng (phe Miền Bắc) đã đối
xử ra sao với người bại (phe Miền Nam) sau cuộc Nội Chiến
1861-1865.
c. Xét riêng về Miền
Nam Việt Nam, nền đạo lý dân tộc cũng đã suy sụp theo thời
gian và tuỳ vận nước nổi trôi. Thời Ðệ Nhứt Cộng Hoà,
chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tuy bị người
đời (và nhứt là người Mỹ) gán cho là gia đình trị và
đàn áp tôn giáo, vẫn có cái thanh bình, an lạc và kỷ cương
của nó mà suốt quãng đời còn lại sau này dân chúng Miền
Nam Việt Nam không còn tìm thấy đâu nữa. Thời Ðảo Chánh
và Tướng Lãnh cầm quyền, đạo đức bắt đầu đi xuống
và hỗn loạn đã thấy ló mầm với hơn nưả triệu binh lính
Mỹ tràn vào các thành thị và thôn làng Việt Nam, (cho dẫu
với sứ mạng cứu viện đồng minh). Thời Ðệ Nhị Cộng
Hoà, khi mãnh lực cuả đồng đô-la Mỹ bắt đầu lấn áp
nền luân lý khắc kỷ á Ðông —vẫn còn đâu đó ở Nam
Việt Nam sau cơn hỗn quân, hỗn quan— các tệ nạn như tham
tài bội nghĩa, giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ, vật giá leo thang,
bợ đít quan thầy, đĩ điếm, ăn cắp (đồ Mỹ trước, đồ
bạn sau rồi tới đồ nhà), ăn chơi đua đòi, sống thác loạn...
bắt đầu hoành hành, gây đổ vỡ cho gia đình và làm rạn
nứt giềng mối quốc gia. Với cường độ tham nhũng gia tăng
theo đà chiến tranh tàn khốc cộng với nạn khủng hoảng
kinh tế triền miên vì tiền viện trợ Mỹ, khi trồi, khi sụt
(thời Tổng Ngọc, thời Tiến sĩ Hảo, thời thuế trị giá
gia tăng, thời thuế kiệm ước...), luật pháp quốc gia và
đạo đức dân tộc coi như tụt giốc kinh hoàng. Nhưng cũng
chưa đến nỗi, vì vẫn còn có những gương sáng xa xa và
lẻ loi như một Thủ Tướng Trần Văn Hương liêm khiết, một
nhà văn hoá Mai Thọ Truyền tâm huyết cộng với nhứt Thắng,
nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng là bốn tướng sạch (và giỏi
nữa) trong Quân Ðội. Cho đến đời Cộng Sản thống trị
thì vũ trụ mới thiệt sự sụp đổ hoàn toàn trên đầu
dân chúng Miền Nam Việt Nam.
Ðể giải thích cho sự
băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã hội Việt Nam hiện
nay dưới ách thống trị mê muội và điên cuồng của Cộng
sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:
Người bình dân Việt
Nam, vốn không phải là những triết gia có chiều sâu và những
tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có khuynh hướng tin rằng
Ông Trời không có thiệt hoặc không có mắt, vì làm lành
như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới Tự Do và người
bạn Ðồng mInh Mỹ rủa sả và bỏ rơi, trong khi làm ác như
Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà lại còn được
vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có bốn biển,
năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng,
tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng hét ra lửa,
tay chân nắm quyền, Việt kiều [vừa yêu nước vừa] sợ
sệt, tiền gởi Thụy Sĩ, con học Huê Kỳ... Hễ Thượng Ðế
(Ông Trời) đã chết thì con người được phép làm mọi sự
mà không sợ bị ai xét đoán, trừng phạt. (23) Người Việt
Nam ngày nay được tự do làm mọi điều thất đức và đoản
hậu vì, qua cuộc đổi đời vừa qua, lúc ôngười trung mắc
nạnọ chẳng hề ôcó tiên xuống phòọ gì cả. (24) Hơn nữa,
chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại tôn giáo,
nhưng, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào (mà các tôn
giáo vẫn cho là linh thiêng lắm) đủ quyền năng để ra tay
trừng phạt (bẻ cổ...) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự
thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ
luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người
đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả
một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân
loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối
cùng. (25) Cứ xem cái gương của nước Mỹ: May mà tôn giáo
(mà đại diện là các nhà thờ) bên này vẫn còn mạnh chớ
nếu không thì luân thường đạo lý của dân Mỹ ngày nay
đã đi đong rồi (mặc dù hiện nay tiền bạc và tình dục
đang ở thế thượng phong, trên chưn đạo đức).
Tâm lý tuyệt vọng đã
xô đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ ngày càng xa rời đạo
lý và tiến gần đến tội ác. Thông thường, nếu một người
có chút hy vọng vào cuộc sống thì người đó, dẫu sao, vẫn
e dè hay miễn cưỡng khi phải phạm tội, vì họ vẫn còn
hy vọng vào sự thưởng phạt trong đời. Ngược lại, người
tuyệt vọng có mọi lý do để biện minh cho những hành động
vô luân, ác đức của mình, bởi vì, theo họ, trách nhiệm
về mọi tội ác thuộc về kẻ khác, nhứt là những kẻ đã
làm cho đời hợ trở nên tuyệt vọng, mà trong trường hợp
này là những lãnh tụ Cộng sản bất tài và vô đạo đức
đang thống trị đất nước. Phần lớn dân chúng Việt Nam
hiện nay đều mang tâm lý tuyệt vọng, không hề tin tưởng
gì vào tương lai đất nước hay vào những mỹ từ như tổ
quốc, dân tộc, danh dự, trách nhiệm... mà mạnh ai nấy tìm
cách đưa gia đình, con cái mau mau chạy ra nước ngoài (nhứt
là sang Mỹ, dĩ nhiên rồi!) qua ngả chữa bệnh, du học, hay
theo các diện hôn phu, hôn thê, hôn phối... Và phần lớn số
người còn ở lại Việt Nam đều là những kẻ, hoặc không
có phương tiện hay cơ hội nào để bỏ nước ra đi, hoặc
là vì họ đang có thừa thế lực và tiền bạc để có thể
lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của người khác mà củng
cố quyền hành và làm giàu thêm.
Nền giáo dục cuả Cộng
Sản Việt Nam coi như sụp đổ hoàn toàn vì tiền bạc cũng
không để xây dựng trường, lớp và nâng đỡ học sinh nghèo
(vốn chiếm đại đa số trong tình trạng kinh tế suy sụp
hiện nay) mà tình nghĩa thầy trò cũng mất rồi. Thiệt tình
mà nói, hiện nay một số các tổ chức tư nhân từ hải ngoại
đang phải về Việt Nam lo xây dựng trường, lớp cho con em
đi học, bởi vì chính quyền Cộng sản trong nước, có lẽ
vì tham nhũng nhiều nên mập quá, tối ngày chỉ biết nằm
mà ăn thôi, chớ không sao đứng dậy nổi mà lo cho dân nghèo
(theo đúng đường lối mà Ðảng đã huênh hoang từ năm 1932),
cho dù dân nghèo đó lại chính là các em nhi đồng cục cưng
của "Bác Hồ kính yêu" thuở nào. Trong khi đó, một số không
nhỏ các giáo viên trong nước, nhân danh nghèo đói, lại đang
triển khai lề thói bắt học trò của mình phải đóng tiền
để học riêng tại nhà mình (viện cớ phải kèm cặp thêm
cho mau giỏi), nếu trò nào, nghèo quá, không đến học nổi
thì thường bị trù dập. Vả lại, các trường học Cộng
Sản không hề dạy cho trẻ em về đức dục, tức là luân
lý (như kiểu "luân lý giáo khoa thư" mà các cụ lưu vong bên
này vẫn ngày đêm nhớ thương, tiếc nuối) mà chỉ dạy về
chính trị, về lòng hận thù (giai cấp) và về lý thuyết
cộng sản, tức là một hình thức công dân giáo dục (civics)
nào đó. Ngay sau "giải phóng," một giáo viên Miền Bắc thuộc
loại con ông cháu cha vào dạy học ở các trường Miền Nam
Việt Nam đã phải thốt lên: Ôi! Sao mà học trò trong Nam này
lại lễ phép và học giỏi đến thế! Chả bù với học sinh
Miền Bắc (xã hội chủ nghĩa), vừa vô lễ lại vừa dốt
như bò! (26)
d. Chủ nghĩa vật chất,
mãnh lực kim tiền và nếp sống thụ hưởng kiểu Mỹ (mà
Cộng Sản đã hoan hỉ rước vào như một cứu tinh cho nền
kinh tế thối rửa của họ) đang hoành hành dữ dội tại
Việt Nam nhờ có những đợt thăm viếng (điạ đạo Củ Chi)
của du khách ngoại quốc cùng với các chuyến về thăm quê
hương liên tiếp và gởi tiền về Việt Nam ồ ạt của Việt
kiều hải ngoại (mà số dách là Việt kiều từ Mỹ, kế
đến theo thứ tự là Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Úc,
ý, Ðức (bắt đầu hơi kẹo), Nhựt Bản (cũng hơi kẹo),
Nam Hàn (kẹo hơn chút nữa), rồi mới tới các lân bang, các
hải đảo Thái Bình Dương và Phi Châu). (27) Từ chỗ tranh
sống, những thành phần giàu có không mấy hợp pháp nhờ
thời thế hỗn mang hiện nay (như thành phần đảng viên, cán
bộ cộng sản, dân đầu cơ tích trữ, mánh mung...) lại đang
tranh sướng, tức là làm sao cho cuộc sống của cá nhân mình,
gia đình mình và phe đảng của mình ngày một tràn đầy khoái
lạc hơn, bất kể quốc gia hưng vong. Trong khi nội lực (đạo
đức làm người) thì không có, mà ngoại chưởng (đô-la và
nếp sống hưởng thụ) thì lại quá mạnh, hỏi làm sao dân
tộc Việt Nam chống nổi để khỏi bị trầm luân, băng hoại
và từ từ tiến đến chỗ diệt vong?
e. Sống gian lận, lừa
đảo lâu thành quen, và thói xấu này dần dần đi vào cõi
vô thức của dân tộc, hay nói cách khác là nhập tâm, tức
là hội nhập vào tâm tình dân tộc. Tội nghiệp cho dân Việt
Nam thuộc thế hệ hiện nay ở chỗ là họ không hề biết
là mình đang ngày càng xa rời cỗi nguồn đạo đức mà mới
đời ông, đời cha của họ vẫn còn có đó. Hễ vào làm
việc nơi đâu thì phải lo ăn cắp thì giờ, nguyên vật liệu
và cả tiền bạc (khi có cơ hội thụt két) để được no
đủ, vì nhà nước hay xí nghiệp chỉ có thể cung cấp cho
họ đồng lương chết đói. Là dân buôn bán, cho dù là bán
thuốc Tây —trên nguyên tắc là để cứu nhân độ thế—
nhưng người ta vẫn phải áp dụng mọi thủ đoạn lường
gạt khách hàng mới mong giàu có. Câu chuyện ngụ ngôn về
đạo đức nhan đề Cái Cân Thuỷ Ngân mà ngày xưa vẫn thấy
đem giảng dạy tại các học đường để cảnh giác con người
phải làm ăn và sống cho lương thiện thì ngày nay không hề
được nhắc nhở đến. Ngày xưa thì chỉ có Hoa kiều Chợ
Lớn chuyên làm đồ giả mạo để tranh thương, ngày nay người
Việt mình dường như đã trở thành sư phụ trong những ngón
nghề làm đồ giả để lường gạt đồng bào mình. (Chớ
đem bán ra nước ngoài, ai mà thèm mua?)
Trong nước, vì có nạn
Cộng sản, mới đành phải ra nông nỗi. Nhưng tại sao bản
chất của người Việt định cư tại các nước văn minh ở
hải ngoại lại cũng vẫn không khá hơn "khúc ruột quê nhà"của
mình về mặt đạo đức? Xin thưa:
Một học giả người
Pháp mà người viết bài này không nhớ rõ tên, khi viết về
dân tộc Việt Nam, có ngỏ ý khen rằng người Việt Nam có
biệt tài hấp thụ và đồng hoá những cái hay, cái đẹp
của các nền văn minh thế giới do tình cờ lịch sử được
mang đến Việt Nam. Thiệt ra thì ông đã quá khen. Người mình
quả có tài đó, nhưng lại chỉ hấp thụ những cái dở,
cái xấu của nước người để làm thành sản phẩm của
mình, vì cái dở, cái xấu lúc nào cũng dễ nuốt hơn là cái
hay, cái đẹp vốn đòi hỏi nhiều hy sinh, khắc kỷ mà con
người nói chung khó có thể có được. (28) Ngoại trừ thế
hệ trẻ của người Việt hải ngoại được sinh ra, lớn
lên và được giáo dục y hệt như người bản xứ, các thế
hệ phụ huynh đi trước dễ có khuynh hướng hấp thụ những
cái xấu của nước người, mà trước hết là thói hưởng
thụ. Khi cái chủ trương hưởng thụ nơi người Việt từng
bỏ nước ra đi vì lý tưởng Tự do mà gia tăng thì phải
biết rằng họ đang ngày càng xa rời lý tưởng Tự do và
cội nguồn đạo đức cuả dân tộc, vì họ không còn tâm
trí và thì giờ đâu mà tranh đấu cho Tự do nữa! Rồi từ
đó sinh ra bệnh trục lợi (hay nhân danh một lý tưởng nào
đó đặng lạc quyên mà làm giàu cho mình), tranh giành, lường
gạt và khoe khoang thành tích là những tai họa đang liên tục
giáng vào tình đoàn kết trong các cộng đồng người Việt
hải ngoại.
Mang nặng nhiều mặc
cảm cuả kẻ chiến bại khi đặt chân đến xứ người để
tiếp tục cuộc sống lưu vong, những người Việt Nam từng
gắn bó với Việt Nam Cộng Hoà thuở xưa, nhứt là những
người có ít nhiều trách nhiệm trong Chiến Tranh Việt Nam,
dễ có khuynh hướng chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau,
rõ nét nhất là qua hằng loạt hồi ký do các cựu tướng
lãnh viết về cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm, về cuộc
chiến đấu chống Cộng không thành sau đó, về vai trò và
trách nhiệm của họ, vân vân và vân vân. Rất ít người
có can đảm và đủ khẳng khái tự nhìn nhận là "tôi làm
tôi mất nước," (29) trong khi đó một số nhà lãnh đạo trước
đây của Miền Nam Việt Nam lại còn mơ hồ nghĩ tới chuyện
Cộng sản có thể triệu vời họ về cho một giải pháp ôhậu
hoà hợp hoà giải dân tộcọ nào đó! Những vị này thường
lợi dụng những cuộc họp mặt với bạn bè và thuộc hạ
xưa để nay thả ra một quả bóng, mai gióng lên một tiếng
chuông thăm dò đặng chào mời sự ủng hộ của đồng hương,
nhưng thường thì chỉ nhận được những lời phản đối,
chỉ trích, châm biếm chua cay, có khi còn có tính cách xúc
phạm nữa. (30) Ngược lại, một số không nhỏ khác lại
trở nên tiêu cực vì không còn được hưởng những đặc
quyền, đặc lợi, ôlên voi xuống chóọ như ngày xưa. Có
khi, vì quá tiêu cực, họ đâm ra phân biệt kẻ chạy trước
với người chạy sau, kẻ ở tù Cộng sản với người bỏ
nhiệm sở chạy ra nước ngoài sớm. Ðó cũng chính là mầm
mống gây chia rẽ, bất an âm ỉ khôn nguôi trong cộng đồng
nguòi Việt tỵ nạn ở hải ngoại hiện nay.
Nhờ được hưởng các
quyền tự do rộng rãi nơi những đất nước thiệt sự dân
chủ, nhiều người Việt lưu vong đâm ra quá trớn trong những
lời chỉ trích và luận tội những người không cùng ý kiến
với mình mà, oái oăm thay, phần lớn lại là các chiến hữu
cũ của mình. Thông qua tự do báo chí và nhờ vào chi phí in
ấn khá rẻ tại hải ngoại, có tới hằng ngàn tờ báo Việt
ngữ đang lưu hành trên khắp thế giới tự do. (ở đây không
nói tới sách vở với hàng ngàn hồi ký, truyện ngắn, truyện
dài, khảo luận, diễn từ... mà phần nhiều là được viết
tuỳ hứng chớ không dựa theo một phương pháp hẳn hoi.) Ðiều
đáng buồn là chỉ có một số rất ít trong các tờ báo này
làm đúng thiên chức thông tin, nghị luận hay văn hoá, còn
phần nhiều chỉ chuyên chửi bới nhau, có khi còn lôi cả
tông chi, họ hàng đối thủ ra mà chửi. (31) Bởi vì, như
người ta thường nói, ôxem văn, biết người,ọ chúng ta chỉ
cần xem cung cách người Việt Nam mình (dĩ nhiên là người
ở hải ngoại, chớ trong nước hiện nay thì làm gì có tự
do ngôn luận mà đòi cầm bút) viết lách ra làm sao thì cũng
có thể thấy được không những là trình độ học vấn mà
còn cả đạo đức làm người của họ nữa. Kiến thức và
đạo đức vẫn là hai điều kiện không thể thiếu của một
người cầm bút trong ý nghĩa là làm văn hoá, dù ở bất cứ
nơi đâu và trong bất cứ thời đại nào.
f. Một số đáng kể
những người Việt lưu vong, do bất đắc dĩ phải tiếp xúc
lâu dài với môi trường mới đầy những luận điệu tuyên
truyền xảo trá tại quê nhà trước khi ra hải ngoại, đã
bị nhiễm những tánh xấu của Cộng sản hồi nào không hay.
Một trong các tánh đó là óc tự hào dân tộc thái quá đến
độ cuồng tín, bất chấp sự thực là khả năng của mình
không có là bao nhiêu. Chẳng hạn, khi có ai nêu lên một sự
thực (đau lòng) rằng ôtrong cuộc chiến tranh vừa qua, Miền
Nam Việt Nam không có tài nguyên nào đáng kể để đánh Cộng
sản mà chỉ dựa vào viện trợ Mỹ cấp cho mình do nhu cầu
Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ là kẻ chủ chốtọ thì lập tức
thế nào cũng có một vài người giận dữ phản đối, cho
nhận xét đó là không ôyêu nướcọ và sai sự thực. Họ
lý luận rằng ta có nhân sự, và nhân sự đó chính là vốn
quý của ôta.ọ Nghe như âm hưởng đâu đây của một bài
học chính trị căn bản mà Cộng sản đã đem ra dạy cho dân
chúng Miền Nam Việt Nam sau ngày ôgiảI phóngọ: ôÐất nước
ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng...ọ(32) Họ quên rằng nếu
ta thiệt sự có khả năng (vật chất) thì cho dù Mỹ có bỏ
rơi ta bằng cách cúp viện trợ thì cũng mặc xác họ, mắc
mớ gì mà ta phải thua chạy vất vả đến như vậy? Chỉ
vì quá tự hào với tiềm năng vu vơ của mình đến độ kiêu
căng chưa từng thấy mà Cộng sản đã xô đẩy dân tộc Việt
Nam đến chỗ nghèo hèn cùng cực như hiện nay.
g. Người ở hải ngoại,
nhứt là những người đã lớn tuổi, dẫu sao khi rời bỏ
đất nước ra đi cũng đã mang theo một số tánh xấu căn
bản cuả dân tộc, để rồi khi sang đây cứ thế mà phát
huy: chia rẻ, khích bác lẫn nhau, thích làm lãnh tụ, không
lo viết lách cho ra hồn mà chỉ lo chửi bới, loè bịp bạn
bè nơi xứ lạ (bằng nhà lầu, xe hơi trả góp), loè bịp
người trong nước đang nghèo túng (bằng những chuyến ôáo
gấm về làngọ vung tiền qua cửa sổ)... Một số, nhờ vào
lệnh cấm vận kinh tế trước đây của Mỹ chống Cộng sản
Việt Nam, đã dùng những chuyến du lịch về thăm quê nhà
của mình để buôn bán hay chuyển tiền lậu, không ít thì
nhiều cũng làm giàu cho cán bộ, viên chức Cộng sản trong
nước.
Có người, vì quá tha
thiết với chuyện về Việt Nam, đã không dám tỏ thái độ
nào với những vi phạm nhân quyền hay bách hại tôn giáo của
Cộng sản trong nước, lơ là trong các sinh hoạt chống Cộng
ở hải ngoại, miễn sao khỏi bị Cộng sản nằm vùng ghi
sổ đen rồi trả thù khi họ lơn tơn xách gói về Việt Nam
mà thôi. Lại có kẻ ráng sức bình sanh làm ra các sản phẩm
văn nghệ sao cho thiệt hợp gu với Cộng sản bên nhà, với
hy vọng nới rộng thị trường làm ăn, buôn bán với Cộng
sản sau này, cho dù, để làm chuyện đó, họ đã phải nhẫn
tâm phản bội tình chiến hữu năm xưa và chà đạp lên sự
thực, trong đó có sự thực về cuộc Chiến Tranh Việt Nam
vừa qua. (33)
Sự hoành hành của
các thói xấu kinh niên này tưởng cũng đủ để giải thích
tại sao Việt Nam ta ngày nay đang rơi vào hố sâu của sự
nghèo nàn lạc hậu, chia rẻ và nghi kỵ lẫn nhau đời đời
không nhạt phai, cho dù chúng ta có trốn chạy đến góc biển,
chân trời nào đi nữa. Và nếu đà nầy cứ thế tiếp diễn,
dân tộc Việt Nam sẽ tự mình đi vào chỗ diệt vong bên cạnh
ông láng giềng Trung Hoa khổng lồ đang ngày càng bành trướng
thế lực sang các lân bang nhỏ bé hơn như Hàn Quốc, Việt
Nam, Lào, Căm-Bốt, Thái Lan, Miến Ðiện và Nê-pan.
Khi cảnh giác mọi người
về những thói hư, tật xấu này của người Việt Nam, người
viết không hề có ý định bôi lọ dân tộc mình —như những
thiên tài chụp mũ trong cộng đồng mình vẫn nghĩ— mà chỉ
muốn gióng lên một tiếng chuông cảnh tĩnh cho tất cả những
ai đang ngủ mê trong giấc mộng vàng son rằng người Việt
chúng ta quá tài hoa, quá đức độ, để rồi lại uất ức,
tức tưởi sao vận nước —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam Việt Nam trước đây thường ca cẩm là "đã đến rồi"
—(34) vẫn cứ còn lao đao ghê gớm, dân tộc mình vẫn còn
trầm luân, khổ ải như vậy. Sự thật thì người mình cũng
chẳng có tài cán là bao so với các dân tộc bạn như Trung
Hoa, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, và nhứt là Nhựt Bản. Vài ba cái
thành công lẻ tẻ trên đường học vấn hay trong kinh doanh
nhỏ mà mình luôn hãnh diện kia không nói lên được cái gì
đáng chú ý. (35) Ðó là chưa nói tới sự kiện là hầu hết
những kẻ thành công này —hiện không còn mang quốc tịch
Việt Nam nữa cho dẫu khi về thăm quê hương họ có thiệt
sự được Cộng sản ban cho quy chế song tịch (Việt-Mỹ đề
huề)— sau cùng cũng chỉ dốc tâm phục vụ cho xứ sở mới
của họ chớ không mấy khi cho đất nước Việt Nam. Chỉ
có những thói hư, tật xấu có tính cách tổ tông truyền
đó là còn ở mãi trong ta như là một di sản dân tộc không
thể tách rời, và chính vì thế mà nó đã tác hại tới tương
lai dân tộc Việt Nam rất nhiều. (36)
Dám xin các bậc thức
giả và quý vị có chút công tâm hãy giúp soi sáng đồng hương
về những gì tốt đẹp mình đáng nên hãnh diện và những
gì chẳng hay ho mình nên biết tự lấy làm xấu hổ mà sớm
từ bỏ. Thiết tưởng, bên cạnh lòng tự hào về dân tộc,
chúng ta cần phải nhìn ra những nhược điểm, những thói
hư, tật xấu của mình. Thái độ vô tư, khách quan trong việc
phê phán, đánh giá là cần thiết để nhận diện lại mình
ngỏ hầu đưa đến một phản tỉnh chân thành. Bởi vì có
nhìn rõ được mình và có tự biết mình chúng ta mới tự
sửa đổi được để tiến lên Chân, Thiện, Mỹ. Trên thực
tế, phải tu thân trước đã rồi mới mong tính tới chuyện
tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. (37)
Ðức Khổng Tử có nói:Người
quân tử hễ biết điều lỗi thì sửa đổi nhanh như gió.
Thiệt là xót xa khi toàn bộ vận mệnh đất nước Việt Nam
ngày nay lại tuỳ thuộc vào ý thức về câu nói trên, tức
là vào thành tâm, thiện chí sửa đổi bước đường sai trái
mà, vì bệnh ngoan cố kéo dài từ hơn nửa thế kỷ qua, những
người Cộng sản đã dùng bạo lực cưỡng ép dân tộc phải
đi theo. Người viết bài này ước mong rằng người Việt
chúng ta khắp nơi sẽ sớm tìm dịp thuận tiện để nhìn
lại mình trong gương, sửa đổi bớt những điều sai trái
kia, bớt tự hào xằng bậy đi, bớt kiêu căng đi, bớt nghi
kỵ đi, bớt chấp nhứt đi, bớt chửi bới nhau đi, để rồi
cùng nhau bắt tay tìm một lối ra hợp lý cho đất nước,
ngỏ hầu đem lại hạnh phúc, ấm no cho hằng triệu đồng
bào giờ đây còn "điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm."
(38) Chỉ có lúc đó Việt Nam mình mới có hy vọng tiến lên
theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại trong thiên niên
kỷ tới.
Ghi chú:
Nếu quả dân tộc
Việt Nam ta có đầy đủ những đức tính quí báu hơn hẳn
người gấp bội như yêu nước, yêu người, anh hùng bất
khuất, trung hậu đảm đang, cần cù chịu khó vượt bực,
thông minh, tài trí, lanh lợi, kiên trì... thì sao lịch sử
lại lắm tang thương và đến nay tình trạng sa đọa, phân
hoá hầu như không thể nào chữa trị được? Và đối chiếu
với thế giới, thực trạng đất nước càng bi đát, thua
sút hẳn một đôi dân tộc mà lịch sử không lắm oai hùng
như Việt Nam. Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Tinh Thần Việt
Nam, Mekong-Tỵnạn, 1991.
Nguyễn Gia Kiểng,
một thành viên cuả Nhóm Thông Luận tại Paris, Pháp Quốc,
trong một bài báo nhan đề ôPhải chăng nhân vật Nguyễn Huệ
qua lịch sử đã được tôn vinh quá lố?ọ đăng trên Ngày
Nay Minnesota ngày 31 tháng Mười, 1997, đã đặt lại vấn đề
công lao và thành tích của Vua Quang Trung trong lịch sử, tỏ
dấu hoài nghi rằng sử sách Việt Nam, nhứt là Việt Nam Sử
Lược của Trần Trọng Kim, đã thổi phồng quá lố uy danh
và đảm lược cuả Quang Trung Ðại Ðế, một trong những
vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhứt và được tôn thờ nhứt
qua bao triều đại và chế độ chính trị tại Việt Nam.
Cựu Thiếu Tướng
Ðỗ Mậu cuả Việt Nam Cộng Hoà, người giúp phe quân nhân
lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, viết quyển
Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, một hồi ký cho hay tại
sao ông phản bội vị đỡ đầu tinh thần trước đây của
mình là Tổng Thống Diệm để đứng về phe đảo chánh do
Tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Phe đảo chánh đã giết
vị tổng thống và bào đệ của ông rồi lên cầm quyền
tại Miền Nam Việt Nam. Các Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn
Chánh Thi và, gần đây nhứt, Tôn Thất Ðính cũng viết hồi
ký về cuộc đời binh nghiệp và những đóng góp của mình
vào đất nước mà các vị đó đã giúp cho bại trận.
Nhiều người, sau
khi từ Việt Nam trở về, đã giúp quảng cáo cho du lịch Việt
Nam. Có người đã viết cả những bài báo dài khen ngợi những
đổi mới tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, với ngụ ý rằng
Việt kiều hải ngoại nên thử về thăm đất nước một
phen. Tất cả những việc làm này đều nhân danh tổ quốc
và dân tộc.
Xin xem Việt Nam Văn
Hoá Sử Cương của Ðào Duy Anh và Việt Nam Sử Lược của
Trần Trọng Kim.
Ðối với người
Mỹ, các công trình sau khi tốt nghiệp đại học thiệt đáng
kể, vì họ không dừng lại ở mảnh bằng kiếm được mà
đánh giá cao những phát minh, nghiên cứu hoặc sáng tác cuả
người mang bằng cấp đó. Sinh viên các nước khác đến du
học tại xứ này lấy được bằng cấp xong thường về xứ
làm quan to, và coi như thoả mãn với thành tựu khoa bảng của
mình.
Tổng Giám Mục Phanxicô
Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong một bài giảng nhan đề Thập
Ðại Bịnh đăng trên Tập san Dấn Thân, tháng 5 & 6, 1999,
gọi đó là bệnh phô trương chiến thắng. Thập Ðại Bịnh
là 10 thói hư tật xấu của người Việt Nam mà theo tác giả
thì nay đã biến thành những căn bệnh hầu như hết thuốc
chữa.
Tổng Giám Mục Nguyễn
Văn Thuận gọi đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa. (bđd).
Theo Nguyễn Thuỳ &
Trần Minh Xuân, Cộng Sản Việt Nam chủ trương toàn dân phải
kế thừa có phát triển nền văn minh rực rỡ của Việt Nam
mà tiền nhân đã để lại. Phê phán chủ trương này, tác
giả viết: Chủ trương rất đẹp, nhưng họ [Cộng sản] lại
tự hào chỉ có Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản, chỉ có nền
văn học, văn nghệ ôhiện thực xã hội chủ nghĩaọ mới
phát triển được truyền thống dân tộc một cách trung thực
và tốt đẹp, ngoài ra không một ai khác. (sđd).
Cựu tư lệnh Sư đoàn
Nhảy Dù cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Tướng Lê Quang
Lưỡng, trong một bài viết đăng trên Ðặc san Hoa Dù Denver,
30 tháng Tư năm 1998, đặt nghi vấn về ý đồ của vị tổng
tư lệnh quân đội, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, khi ông
ra lệnh xé lẻ đại đơn vị vũ bão hàng đầu này của quân
lực ra từng lữ đoàn riêng rẻ trong những ngày cuối cùng
của cuộc chiến tại Việt Nam. Trước đó, Ông Thiệu cũng
đã ra lệnh buộc một đại đơn vị vũ bão hàng đầu khác,
Sư Ðoàn Thuỷ Quân Lục Chiến, phải cấp tốc cùng với Biệt
Ðộng Quân và bộ binh rút lui khỏi Vùng I Chiến Thuật, làm
cho sư đoàn này bị thiệt hại rất nặng vì phải hứng chịu
toàn bộ gánh nặng của một cuộc rút quân không có chuẩn
bị. Nhiều cấp chỉ huy TQLC từng vào sinh, ra tử để tái
chiếm và giữ vững từng tấc đất của vùng giới tuyến
khỏi tay Cộng sản trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, 1972, đã uất ức
tự sát khi bị địch bao vây và phục kích.
[Ðiều cần ghi nhận
là Miền Nam Việt Nam đã không sụp đổ chỉ vì những hành
động có tính cách không ăn được thì đạp đổ đó của
cựu Tổng Thống Thiệu, mà vì chúng ta đã bị đồng minh
Mỹ bỏ rơi. Một khi Mỹ đã bỏ rơi rồi, không ai —kể
cả người anh hùng ôtận trung báo quốcọ Nguyễn Khoa Nam—
có thể giữ vững Miền Nam hay xoay chuyển tình thế trong giờ
phút đó, vì chúng ta đã quá tuỳ thuộc vào viện trợ Mỹ.
Vận nước đã đến hồi như vậy, cho nên mình cũng khó trách
cứ riêng ai được.]
Nhiều người vẫn
nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chơi khăm Tướng Minh Lớn
cho bỏ ghét, vì giữa khi cuộc chiến đang khốc liệt và tinh
thần quân dân Việt Nam Cộng Hoà có lúc đang lên cao, vị
cựu lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm
và cũng là lãnh tụ của cái gọi là thành phần thứ ba tại
Miền Nam Việt Nam (mà Cộng Sản ưa thích) lại hô hào một
giải pháp hoà bình, với chủ trương rằng Việt Nam Cộng
Hoà nên đơn phương ngưng chiến đấu mà tiếp tục thương
thuyết với Việt Cộng là phía luôn luôn áp dụng chiến thuật
vừa đánh vừa đàm trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam.
Dĩ nhiên là Tướng Minh đã quá tin vào phe Cộng Sản nên mới
chịu nhận trách nhiệm lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà sau khi
một trong những phòng tuyến cuối cùng của phe chính phủ
là Xuân Lộc, cách Sàigòn 70 cây số về hướng Ðông Bắc,
đã mất — hay nói cho đúng hơn là sau khi quân Cộng Sản,
mệt quá, đã bỏ không đánh Xuân Lộc nữa mà đi vòng về
phía Sàigòn.
Xin xem When Hell Was
In Session (Rớt Xuống Âm Ty) cuả Jeremiah A. Denton, một Ðại
tá Hải Quân Mỹ từng bị Cộng Sản Bắc Việt bắt giam tại
Nhà tù Hoả Lò Hà Nội sau khi phi cơ cuả ông bị bắn rơi
trên vùng trời Bắc Việt trong Chiến Tranh Việt Nam. Nhà xuất
bản Traditional Press, Alabama.
Tổng Giám Mục Nguyễn
Văn Thuận gọi đây là bệnh bè phái chia rẽ. (bđd).
Thành tựu lớn nhứt
về kiến trúc của Việt Nam cổ xưa là Thành Cổ Loa thời
An Dương Vương Thục Phán mà nay đã bị thời gian với bao
lớp sóng phế hưng và binh lửa tàn phá. Các tài liệu của
Cộng Sản Việt Nam mô tả thành xây trên một khu đất cao
và rộng, diện tích 92 hec-ta, nằm trên tả ngạn sông Hoàng
Giang, gồm ba vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Chu vi vòng
ngoài 8km, vòng giữa 6,8km, vòng ba là 1,6km... Bề rộng chân
luỹ 20m, rộng 4m, cao 12m. Giữa hai vòng thành, nơi xa nhất
400m, giữa các vòng thành có hào sâu có thể lưu thông bằng
thuyền. Mỗi luỹ có nhiều lối, nhiều ngõ thông nhau...
Theo Trần Trọng Kim,
người Việt Nam cũng có khi quỉ quyệt và hay bài bác nhạo
chế. (sđd).
Trong Những Trận Ðánh
Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975 (Nhà xuất bản
Ðại Nam, Hoa Kỳ), tác giả Nguyễn Ðức Phương, khi đề cập
đến Trận An Lộc, đã không hề nhắc nhở tới vai trò của
Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù là một đơn vị vừa vô
cùng thiện chiến vừa đầy tinh thần cảm tử của Quân Lực
Việt Nam Cộng Hoà. Nếu Biệt Cách Dù không nhảy vào giải
cứu An Lộc thì làm sao có được hai câu thơ bất hủ vinh
danh: An Lộc địa sử ghi chiến tích; Biệt Cách Dù vị quốc
vong thân? Nên nhớ là để soạn nên chương này, tác giả
đã tham khảo tất cả tới 32 quyển sách, báo được liệt
kê trong một thư mục dà ở cuối chương. Các hồi ký hay
tường thuật của phe ta về những trận đánh lớn khác —như
trận Quảng Trị chẳng hạn— cũng vấp phải lỗi lầm tương
tự tuỳ theo người viết thuộc màu áo, màu mũ nào.
(1) Thiệt ra, từ lâu
đã có Thuyết Việt Nho, một công trình nghiên cứu hết sức
khoa học và nghiêm túc do Giáo sư Kim Ðịnh khởi xướng và
thuyết minh qua 14 tác phẩm mà ông đã viết. Ðại khái, tác
giả cho rằng văn minh và văn hoá Việt Nam có trước hay ít
ra cũng đồng thời với văn minh và văn hoá Trung Hoa, bởi
vì giòng giống Việt (Bách Việt) từ phương Bắc đã tiến
vào Trung Hoa trước để lập nên các triều đại cuả Vua
Phục Hi, Thần Nông và Huỳnh Ðế. Sau đó Hoa tộc (tức Hán
tộc) tràn đến. Và sau trận đánh tại Trác Lộc giữa Hoàng
Ðế (lãnh đạo Hoa tộc) và Si Vưu (lãnh đạo Viêm Việt tộc),
Si Vưu chết nên giống Viêm Việt lùi bước dần về phương
Nam để trở thành người Việt Nam ngày nay. Trong quyển Nguồn
Gốc Văn Hoá Việt Nam, Giáo sư Kim Ðịnh vạch rõ rằng Việt
Nho chủ trương nhân chủ, dân quyền, bình quyền, bình quyền
nam nữ, quân bình tình lý hay là văn võ song hành.
(18) Sử chép rằng
đời Nhà Trần, sau những trận đánh Chiêm Thành, quan quân
Ðại Việt thường bắt đem về nước các cung nga, vũ nữ
cuả Chiêm Thành. Các đặc sứ văn hoá này đã truyền bá
nghệ thuật Chiêm Thành tại Việt Nam qua các vũ điệu cung
đình mà họ trình diễn, làm say mê ngây ngất triều đình
ta và làm cho ta phải lật đật bắt chước.
Vào đúng lúc có Cuộc
Ðấu Xảo Ba-lê, Phan Châu Trinh đã gởi cho Vua Khải Ðịnh
một bức thơ dài, đại khái ông hài tội nhà vua là chỉ
lo sống xa hoa, ưa xiểm nịnh và chuộng sự quỳ lạy cho rõ
mình là một đấng quân vương mà không hề để ý đến phúc
lợi của dân tộc Việt Nam lúc đó đang nằm dưới ách đô
hộ cuả thực dân Pháp. Bức thơ có tác dụng như một gáo
nước lạnh tạt vào mặt một vị hoàng đế, mà vào thời
đó nếu không phải là một nhà Tây học được Hội Nhân
Quyền Pháp hậu thuẫn triệt để như Phan Châu Trinh thì không
một sĩ phu Việt Nam đương thời nào dám dỡn mặt.
Nhiều người vẫn
tin rằng dân tộc Việt Nam mình đặc biệt có khả năng xâm
thực và làm hư hỏng bất cứ học thuyết đạo đức hay
ý thức hệ chính trị nào được du nhập vào Việt Nam, cho
dù đó là đạo lý Khổng Mạnh, học thuyết dân chủ Tây
phương hay ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít!
Xin xem Vì sao tôi bỏ
Quân Ðoàn I cuả cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, đăng trong
Tạp chí Sóng Thần 1999, Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Thuỷ Quân
Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà.
Cái thuở ban đầu
lưu luyến ấy, nghìn năm chưa dễ đã ai quên. Thơ Thế Lữ.
Hai triết gia vô thần
Ðức của thế kỷ 19 là Feuerbach vả Nietzsche lần lượt rao
giảng tin dữ Thượng Ðế đã chết, và mọi giá trị truyền
thống của con người theo đó cũng chết luôn. Hễ đã không
có Thượng Ðế thì cuộc đời chẳng hề có mục đích và
ý nghĩa gì, và con người được phép làm mọi sự mà y muốn.
Ai cũng phải nhìn
nhận rằng, qua cuộc xung đột tại Việt Nam, Cộng Sản Việt
Nam đã chứng tỏ họ thuộc loại tàn ác nhứt, nhì thế giới,
với thành tích thủ tiêu thiệt lẹ đối thủ theo phương
châm thà giết lầm hơn bỏ sót, pháo kích bừa bãi vào các
khu dân cư (chỉ vì các khu này tình cờ nằm gần các căn
cứ quân sự Mỹ hay Việt Nam Cộng Hoà), bắn giết dân lành
vô tội ngay trong lúc họ đang chạy trốn Thần Chiến Tranh
do chính họ thả ra, tạo nên những Ðại Lộ Kinh Hoàng và
Quốc Lộ Máu vang danh trong lịch sử. Nhưng vì sao Ông Trời
lại để cho họ chiến thắng? Tại sao Ông Trời lại bắt
những người cầm súng bảo vệ dân lành và tự do cho dân
tộc như các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải thua,
phải chết thảm? Nếu còn phải đợi tới "ngày phán xét
cuối cùng" lúc đó Ông Tròi mới chịu ra tay trừ bạo thì
ai còn biết Ông Trời ở đâu?
(25) Thiên võng khôi
khôi, sơ nhi bất lậu, nghĩa là Lưới Trời lồng lộng, tuy
thưa nhưng không ai có thể thoát ra được. ý nói con người
dù có thể thoát được luật pháp trần gian (nhờ cướp được
chính quyền nên khỏi bị thế gian trừng trị) nhưng không
thể thoát khỏi lưới Trời, bởi vì Thượng Ðế chí công
và đầy quyền năng sẽ trừng phạt những kẻ gian ác, cho
dù kẻ đó hiện đang cầm quyền sinh sát trong tay.
(26) Một giáo sư trường
Cao Ðẳng Sư Phạm Sàigòn đã tâm sự như vậy với các giáo
sinh của mình về tình hình trường trại và trình độ học
vấn của học sinh Miền Bắc Việt Nam từng là học sinh của
bà trước đây.
(27) Người Việt Nam
tại quê nhà hiện nay, có lẽ vì quá thiếu thốn nhưng lại
ham hưởng thụ vì cuộc đời tuyệt vọng, luôn luôn đánh
giá Việt kiều hải ngoại về thăm quê hương qua cách chi
tiền rộng hay hẹp của mấy người này. Thương thay cho những
Việt kiều nào tiền thì không có là bao mà tình yêu quê hương
đất nước thì dạt dào như biển rộng, sông dài và đại
dương bát ngát, chi tiền nhỏ giọt như xê-rum phòng mổ nên
mới bị người thương xỉa xói là đồ Việt kiều kẹo kéo!
(28) Nguyễn Thuỳ &
Trần Minh Xuân viết về khả năng hội nhập các nền văn
hoá nước ngoài của dân tộc Việt Nam như sau: "Cái cốt tuỷ,
tinh hoa cuả các thứ du nhập hầu như không có đất tốt
để thị hiện mà chỉ có cái phần đuôi cặn bã của những
thứ đó mới tung hoành ngang dọc trên mảnh đất này [Việt
Nam]. Tóm lại, chúng ta chạy theo cái đuôi cuả mọi nền văn
hoá bên ngoài mà không thực sự nắm bắt được cái tinh
lý ảo diệu của các luồng tư tưởng ngoại lai." (sđd).
(29) Tôi làm tôi mất
nước, bút ký cuả Lê Văn Phúc. Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa
Kỳ.
(30) Cựu Phó Tổng
Thống Nguyễn Cao Kỳ, trong một bài nói chuyện trước các
chiến hữu Không Quân của ông cách nay vài năm tại Texas,
đã hô hào một cuộc hợp tác chính trị với Cộng Sản Việt
Nam như là một cách thế để người Việt trong và ngoài nước
cùng nhau bắt tay kiến tạo quê hương. Lời hô hào của vị
cựu tướng Không Quân đã lập tức bị những người Việt
chống Cộng tại khắp nơi trên thế giới phản đối kịch
liệt, cho là đón gió trở cờ. Dường như thời gian gần
đây cựu Tướng Kỳ đã có những tiếp xúc không chính thức
với Hà Nội để mưu cầu một chỗ đứng chính trị nào
đó nơi quê nhà, vì vị cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam
Cộng Hoà, người từng đem máy bay ra oanh tạc Bắc Việt hồi
1965, coi như không làm nên được chuyện gì kể từ khi qua
sống lưu vong bên Mỹ. Có tin là một cựu tướng lãnh khác
cuả Miền Nam Việt Nam, Nguyễn Khánh, cũng đang thực hiện
những cuộc phiêu lưu chính trị tương tự. Cũng như ông Kỳ,
vị cựu tướng lãnh này vẫn tin rằng một ngày nào đó Cộng
Sản sẽ phải cần tới ông. Riêng cựu Tổng Thống Dương
Văn Minh thì đã công bố kế hoạch về sinh sống tại Việt
Nam với Cộng Sản. Vị cựu tướng bốn sao từng có công
sát hại một trong những địch thủ lợi hại nhứt của Cộng
sản là Tổng Thống Diệm của Miền Nam Việt Nam trong một
cuộc đảo chánh hồi năm 1963, nghĩ rằng mình đã lại có
công đưa Việt Nam Cộng Hoà vào chỗ đầu hàng không điều
kiện quân Cộng Sản Bắc Việt hồi tháng Tư năm 1975, tiết
kiệm được nhiều xương máu cho cả đôi bên trong cuộc chiến.
Bà Hạnh Phước, Hoa
Hậu Phu Nhơn Liệt Quốc Trong Vũ Trụ, 1995 (Mrs. All Nations Universal,
1995), Giám Ðốc Thẩm Mỹ Viện Hạnh Phước tại Houston, Texas,
vì lý do cạnh tranh nghề nghiệp, đã bị một tờ báo Việt
ngữ điạ phương chửi bới liên tục. Vị chủ nhiệm kiêm
chủ bút tờ báo trịnh trọng tuyên bố: "Chừng nào Bà Hạnh
Phước còn thì tờ báo chúng tôi vẫn còn," ý nói tờ báo
này được sinh ra với sứ mạng chửi Bà Hạnh Phước! Thiệt
là: "Truyện Kiều còn thì tiếng Việt hãy còn" (Phạm Quỳnh),
và "Tôi chửi bới, vậy tôi hiện hữu" (kiểu Descartes).
(32) Tất cả những
trại "học tập cải tạo" tại Miền Nam Việt Nam đều có
một giáo trình 10 bài học chính trị cơ bản cho sĩ quan, viên
chức "ngụy" (tức chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũ), bắt đầu
bằng Bài Số 1 "Ðất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng".
Các bài còn lại là về cuộc chiến đấu chống Thực dân
Pháp và Ðế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội, chính sách "khoan hồng nhân đạo" của Chính phủ Cách
mạng (Cộng sản) dành cho "nguỵ quân, nguỵ quyền"... Trên
lý thuyết, "cải tạo viên" học xong 10 bài này thì coi như
mãn khoá và được trả về nguyên quán. Nhưng vì 10 bài này
có xào tới, nấu lui cũng chỉ lâu khoảng hai tháng cho nên
không có ai được về, mà tất cả đều phải ở lại tiếp
tục "cải tạo lao động" cho đến khi "thật sự tiến bộ".
"âCải tạo lao động" tức là đi lao động khổ sai tại đồng
ruộng hay núi rừng. Muốn được coi là thật sự tiến bộ,
cải tạo viên phải ở lại trại tập trung từ ba đến năm
hay mười năm hay lâu hơn nữa, thường là tuỳ ở sức nặng
của món "nợ máu" đối với nhân dân (tức là Cộng sản)
mà "cải tạo viên" đã vay trong cuộc chiến.
Xin xem Paris By Night
40, chủ đề Mẹ, cuả Nhà Thuý Nga Paris. Giám đốc sản xuất
là Tô Văn Lai; biên tập & giới thiệu chương trình là
Nguyễn Ngọc Ngạn.
(34) Ðoạn cuối bản
quốc thiều nước Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam [Cộng Sản
Nam Việt Nam] trước ngày bị chính đàn anh Cộng Sản Bắc
Việt yêu dấu của họ thủ tiêu: Vận nước đã đến rồi,
nguyện hy sinh đến cùng. Dựng xây non nước sáng tươi muôn
đời... Giải Phóng Miền Nam Hành Khúc.
(35) Nguyễn Thuỳ &
Trần Minh Xuân: Chúng ta có thể có một đôi cá nhân thông
minh,xuất sắc, nhưng để tạo nên một ôcái tiếngọ chứ
trên thực tế không có một đóng góp nào đáng giá. (sđd).
(36) Nguyễn Thuỳ &
Trần Minh Xuân: "Kể không hết những thói hư tật xấu của
người Việt Nam. Ðến nay, những thói xấu đó càng trở nên
lộ liễu khiến cả thế giới phát sợ." (sđd). Trên thực
tế, tại hải ngoại đang có hiện tượng chối phăng nguồn
gốc Việt Nam khi nào có thể được, điễn hình là một số
người trong giới ca sĩ chuộng sĩ diện. Ca sĩ hát tiếng Việt
Nam gì mà hễ được hỏi tới nguồn gốc thì cứ khai mình
là người Tàu! Vì sao được sinh ra và lớn lên tại Việt
Nam, nói tiếng Việt Nam từ thuở mới lọt lòng mẹ, và nhờ
có người Việt Nam đổ máu ra trong chiến tranh mới được
quốc tế cho đi tỵ nạn mà lại không dám nhận mình là người
Việt Nam? Té ra là vì sợ. Mà điều gì làm cho mấy người
này phải sợ? Hỏi tức là trả lời.
(37) Khổng Tử: Tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nghĩa là: Trước
hết phải tu dưỡng tánh tình để trở thành người có đạo
đức. Sau đó mới tính tới chuyện quản lý gia đình. Kế
đó mới đem tài năng ra mà trị nước. Và sau cùng, khi đất
nước đã thịnh vượng, ta mới tính đến chuyên mang lại
an lạc, thanh bình cho tất cả mọi người trên thế gìan.
(38) Lời nhạc trong
Chuyến Ðò Vĩ Tuyến của Lam Phương.
Xem
tiêp bài 2
|