Hãy
phá vỡ khối nặng im lặng
Nhân Ðọc Hỏa Lò,
Nguyễn Chí
Thiện. Cành Nam, Tháng 6, 2001.
Những giòng viết sau không có mục
đích, ý nghĩa giao tế, lịch sự trong một sinh hoạt văn chương
chữ nghĩa, cũng không phải là "lời giới thiệu" về một
cuốn sách vừa hoàn tất. Chúng ta không tập họp nhau nơi
đây để làm công việc hình thức dễ dãi kia, Người Bạn
chúng ta cũng không cần những lễ nghi bề mặt để mở đầu
câu chuyện kể về toàn cảnh đời quá đỗi đắng cay, khắc
nghiệt, với độ bi thảm vượt khỏi mọi ý niệm, mà chắc
rằng không chữ nghĩa nào chuyên chất nổi - câu chuyện miên
man, bất tận, cùng khắp dài theo khổ nạn quê hương - mà
hiện tại, cơn phá hoại, nỗi thống khổ vẫn còn nguyên
cường độ, nét, sắc đau thương, uất hận đối với mỗi
đơn vị người Việt. Lẽ tất nhiên không tính tới những
người chủ trương xóa bỏ, cố ý quên khuất.
Nhưng, nội dung được trình bày
tiếp theo đây là tiếng lời hàm ân và bày tỏ lòng thống
hối- Hàm ân một Con Người đã tự nguyện gánh khối nặng
khốc liệt kinh hoàng mà chế độ cộng sản Việt Nam, bộ
máy cầm quyền Miền Bắc đã đổ chụp, siết chặt lên nửa
phần đất nước kể từ ngày họ chính thức vào Hà Nội
10 tháng 10, 1954, và toàn thể quốc gia sau 30 tháng tư, 1975.
Cũng là lời thống hối chung bởi sự im lặng khiếp nhược
đối với Tính Aùc mà số rất đông người Việt đã vô
tình, hay cố ý đồng thuận để mặc người cộng sản phóng
tay tàn nhẫn hành động, và hung hản đoạt thắng.
Thế nên, dẫu quá muộn sau những
thời điểm rất cần thiết phải được ghi nhớ, kết tập
kinh nhiệm (của những lần thất bại đối với lực lượng
dân tộc, tự do, dân chủ).. 1945, 1954, 1960, 1968, 1972, và lần
thất bại toàn diện cuối cuộc 1975... Tiếng lời nay phải
được chuyển giao bởi - IM LẶNG CÓ NGHĨA ÐỒNG LÕA CÙNG
SỰ ÁC - CHÚNG TA PHẢI PHÁ VỠ KHỐI IM LẶNG TRÌ TRỢM ÐÁNG
NGUYỀN RŨA, PHẢI BỊ LÊN ÁN NẦY.
1 - Ðể Sống qua cảnh Chết:
25 tháng 4, năm 1983. Trại 5 Lam Sơn Thanh Hóa. Anh nhận ra cơn
lạnh dâng lên từng chập trong thân thể. Lạnh của khiếp
sợ. Lạnh của sự chết. Lạnh do con người biết mình đang
dần chết với cơ thể còn hiện sống. Anh đưa tay cào cào
lên mặt cửa gỗ phòng giam... Thật sự anh cố lung lay tấm
cửa, nhưng bởi đã quá kiệt sức nên đầu ngón tay chỉ
sờ sẫm loay hoay trên mặt gỗ sần sùi...
Có ai nghe tôi
không.. Có ai nghe tôi không?!! Anh muốn hét lớn, nhưng chỉ
phát ra những tiếng phì phì rên rỉ ư ư trong cuống họng
qua hàm răng dẫu cố nghiến chặt vẫn tự động đập vào
nhau do cơn lạnh tê buốt mỗi lúc một mãnh liệt dâng ngập
trong thân. Ðầu anh lại nóng hầm hầm như đang trong cơn sốt
cao độ.. Có ai nghe tôi không.. Có ai nghe tôi không?!!
Anh lập lại lời van xin, mắt trừng trừng vào vũng tối hình
như dày đặt, và sắc lạnh hơn. Tiếng ư ư dần tắt nghẹn
bởi cổ họng khô rốc, đóng cứng... Bên ngoài hai bức tường
đá trước cửa khu kiên giam có tiếng lao xao của những người
bạn Miền Nam...
Ði nghe, "cà phê phượng"... Ði hết nghe,
"cà phê phượng". Giọng Quảng Nam nặng âm sắc của Phan
Văn Giỏi (mà anh hiểu, cố ý để anh nghe ra được với cách
lập lại biệt danh "cà phê phượng" các bạn trước
kia gọi anh). Và âm động rầm rập của toán đông người
leo lên xe... Ðoàn xe mở máy. động cơ nhỏ dần... nhỏ dần.
Nhiều người đồng loạt la lớn.. Chào, chào nghe... Tụi
tôi đi anh ơi.. Anh ngã sập người lên tấm cửa, chiếc
chân bị cùm kéo căng từ bệ nằm không gây nên đau đớn.
Anh cũng không biết mình đã bật khóc sau khi gào lên được
tiếng ngắn thương tâm... Trời ơi!!
Không biết bây giờ là mấy giờ,
và anh đã quì, nằm theo vị thế một chân kéo dài, một chân
quì trên đất đã bao lâu.. Có tiếng kẹt cửa từ căn phòng
đối diện, và ngón tay gỏ gỏ lên tấm gổ làm dấu hiệu...
"Chú, chú gì đấy... Chú "zét"(1) gì đấy.. Chú có nghe
gì không?" Anh lắng nghe, nhưng không thể trả lời. Người
ở phòng đối diện lại đập mạnh cửa... "Nầy, chú,
chú gì đấy... chú "zét" gì đấy.. người ta đi rồi đấy,
có nghe ra không..." Anh gắng gượng phều phào hỏi nhỏ...
Họ
đi thật rồi à!!
-Chứ còn gì nữa, ban nãy cháu ra
làm việc, có đi ngang các chú ấy, họ biết cháu ở trong
nầy, có người nhắn cháu gởi lời chào chú,
- Anh biết họ đi đâu không?
- Thì vào Nam chứ còn gì nữa!
- Biết đâu họ chuyển trại đi
vòng vòng đâu đây? Anh cố gắng, gượng tự cứu, bám vào
một hy vọng đã tắt hẳn.
... Xì, làm gì có chuyện ấy, người
nào cũng lãnh lương khô để đi hai ngày tàu hỏa, mỗi người
một gói thuốc lào An Thái, mười điếu Tam Ðảo. Chuyển
trại vào Nam mới có tiêu chuẩn ấy chứ.
- Như thế chỉ còn một mình tôi
ở đấy sao? Anh phân bua tội nghiệp, cùng đường.
- Thì hẳn thế chứ còn gì nữa,
hỏi thối vừa vừa chứ. Nhưng nầy, chú bị vụ việc gì
mà khó thế? Giọng nói bỡn cợt, bất cần.
Không để ý lời của kẻ bên kia
khung cửa, anh chuyển câu chuyện qua tình huống khác: Anh có
thấy ai bị kiên giam tương tự như tôi không?
... Ối, ngoài Hỏa Lò, trên mấy
trại phía Bắc khối người ấy, cứ hết hạn nầy đến
hạn khác, ba bốn cái "tập trung" suốt!!
Anh bám vào mối an ủi khốn cùng:
Nhưng đó chỉ là diện hình sự như của anh chứ gì?
- Hình sự chúng cháu thì nói làm
gì, cứ xong "trường"(2) là lên trại, hết trại 1, Phố Lu,
đến trại 3, Nghệ Tĩnh, rồi trại Ngọc, trại Phong Quang,
nay "quân ta" lại về trại 5 Lam Sơn nầy.. Hết ở trại, ra
ngoài được vài tháng gây vụ việc xong lại vào nằm, thì...
đời ta vẫn đẹp sao... tình yêu vẫn đẹp sao... dù cùm
đeo có nặng thế nào..!!(3)
Người nầy đổi giọng nghiêm
trọng: "Ý là cháu nói các ông chính trị đấy chứ, có
ông ở Hỏa Lò chuyển trại lên Phong Quang mấy năm trước,
khi cháu còn ở đấy- cái ông gì chỉ vì "tội làm thơ"
mà bị tập trung mấy mươi năm, còn cả gan ném thơ vào Ðại
Sứ Quán nước ngoài nữa đấy!!"
Xoay vòng chân cùm ở vị thế chữ
U úp xuống, anh quì hai gối lên bệ nằm, đầu gục xuống
ngực, nói ra lời... Lạy Chúa Thánh Thần xin gìn giữ, giúp
sức qua khổ nạn. Xin cầu cho người anh em không quen biết.
Xin cầu cho người làm Thơ không biết tên, cho tất cả những
ai cùng khốn, đau thương. Lòng anh dần dâng ngập mối
an ủi ấm áp... Có người khổ hơn mình, những đồng bào
Miền Bắc đã chịu rất lâu tai họa cộng sản, những người
vượt sống giữa vũng tối, sự chết, chịu đựng bền bĩ
kiên trì mối sĩ nhục vô lường của chế độ mất nhân
tính gớm ghê nầy - Những người viết Thơ - biện pháp
chiến đấu, quyết liệt để tồn tại với Chữ.
(1) Gọi tắt chữ "Việt gian-Z",
để chỉ tập thể tù người Nam bị đưa ra bắc sau 1975.
(2) Trường: "Trường Vừa Học-Vừa
Làm", trại tập trung thanh thiếu niên do công an quản lý "giáo
dục".
(3) Nhại theo một bài hát tuyên
truyền của Miền Bắc trước 1975.
2- Sau lần thanh toán Thượng Ðế:
Trong thời gian dài lâu, từ thập niên 60, lúc tuổi đời
chưa tới ba mươi, khi bắt đầu xử dụng chữ viết, anh đã
nhiều lần, thường trực lập lại với riêng bản thân: "Sau
khi đã ngang ngược thanh toán Thượng Ðế không thương tiếc
thì con người có còn không lương năng, tri giác đích thực;
có còn không tính trung trực của người trí thức; có còn
không bản lĩnh Kẻ Sĩ- Người Dụng Văn- giới sáng tạo chữ
nghĩa?".. mỗi khi chứng kiến, nghe, đọc lại về những
điều ác độc mặc nhiên được thực hiện, xem trọng, đề
cao; bọn bạo ngược trân tráo đoạt thắng, và người hiền
lương vô tội, kẻ trung chính bị ngược đãi, bức bách,
mà trong rất nhiều trường hợp phải chịu nạn thảm sát
thương tâm.. C.V. Gheorghiu, Arthur Koestler, Elie Wiesel trước Thế
Chiến 2 ở Châu Âu.
Sau năm 1945, chiến tranh chấm dứt,
nhưng bi kịch về thân phận kẻ sĩ, người trí thức, quần
chúng vô tội (bị lôi kéo vào vòng tranh chấp, củng cố quyền
lực, của những kẻ cầm quyền tham tàn, bạo ngược, nên
mặc nhiên biến thành đối tượng bị bức hại chính trị),
vẫn không dấu hiệu thay đổi, cải tiến, nếu không nói
còn bị đày đọa tàn tệ hơn. Bởi lần nầy, hệ thống
quyền lực (các chế độ cộng sản đông, tây) thay đổi
sách lược đàn áp người đối lập chính kiến (hoặc bị
vu cáo, áp buộc một cách ngang ngược), với kỹ thuật độc
hiễm, tàn nhẫn hơn hẵn so với cách giết người thô thiển
trắng trợn của nhà nước Ðức Quốc Xã đối với người
Do Thái, các chủng tộc thiểu số người Gypsies, Slaves, nhóm
đồng tính luyến ái.
Nơi Trung Hoa cộng sản, Mao Trạch
Ðông sau chiến thắng lớn 1949, gồm thâu lục địa, đặt
mình cao hơn hẳn Hán Lưu Bang, Tần Thủy Hoàng (gọi những
tiền nhân của y kia chỉ là bọn võ biền thô tục, nông cạn
chỉ biết "giương cung bắn ó diều" - Thơ Tuyết); năm
1958, Mao thực hiện sáng tạo "Ðại Nhẩy Vọt" với
sách lược:"Người người làm gang, thép. Nhà nhà làm gang,
thép", để cuối cùng có được "thành quả" 20 chục triệu
người chết đói từ 1959 đến 1962. Nhưng, Mao bình tĩnh nhận
định:"Karl Marx, Lenine, Khổng Tử còn có khi sai lầm. Ta
cũng vậy." Lời nói không phải bâng quơ, nên năm 1966,
rất tự tin, Mao phóng tiếp chiến dịch "Cách Mạng Văn
Hóa" với lực lượng 10 triệu HồngVệ Binh (đếm đủ
số trong cuộc duyệt binh tháng 10 cùng năm tại Bắc Kinh),
thanh toán các lãnh tụ đối lập, Lưu Thiếu Kỳ, Ðặng Tiểu
Bình, Bành Ðức Hoài.. cùng lần với Khổng Tử, Thích Ca,
mà thây xác người dân vô tội ở thành phố Nam Kinh phải
dọn bằng xe ủi đất.
Và ở Liên Sô, ngọn cờ đầu của
phong trào vô sản thế giới ắt không để chịu thua sút,
mà riêng với Staline sau khi nằm xuống (1953), bản báo mật
của Khruschev đọc tại đại hội đảng lần thứ 20, năm
1956 đã nêu ra con số: 20 triệu người chết trong 29 năm cầm
quyền của một cá nhân được gọi là "người cha không
những chỉ riêng của các dân tộc thuộc liên bang Sô-Viết,
mà còn là ánh sáng soi đường chung cho toàn phong trào vô sản
thế giới.. Hoan hô Staline, vững vàng cây đại thọï. Rợp
bóng mát hòa bình. Ngọn hải đăng vô sản- Tố Hữu, 1950".
Nhưng triều đại Khruschev cũng không hẳn là buổi "băng tan"
đối với giới sinh hoạt văn học sô-viết, nên Boris Pasternak,
trái tim lớn của giòng văn chương hiện thực Nga dẫu chỉ
ao ước, "Ðược viết đôi điều sâu xa, và trung thực.."
(Ðoạn mở đầu của bài viết "từ chối" nhận giải
Nobel văn chương 1960), và đã khiêm nhường bày tỏ: "Tôi
bắt buộc phải từ chối giải thưởng trao tặng giành riêng
cho cá nhân mình. Vậy, xin quý vị chớ phiền hà vì sự chối
từ nầy.", kết cuộc, nhà văn trung chính cũng phải chịu
sự lưu đày nơi quê nhà, bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn,
mà phải đến năm 1987 (hai năm trước lần Liên sô sụp đổ
toàn diện), ông mới được phục hồi lại danh dự. Năm 1970,
A. I Solzhenitsyn cứng cỏi hơn, kiêu hãnh nhận giải thưởng
Nobel văn học, nên cho dù Staline đã chết từ hai mươi năm
trước, kẻ cầm đầu đảng cộng sản Liên-Sô hiện tại
(1974), Brezhnev vẫn không có biện pháp nào khác hơn đối với
nhà văn can đảm nầy bằng biện pháp lưu đày, và hạ nhục.
Nhưng với Việt Nam, tình thế không
phải hoàn toàn như trên. Hơn cả Sắc Luật ngày 15 tháng Tư,
năm 1919 của đảng cộng sản Liên Sô cho phép cơ quan mật
vụ OGPU (tiền thân của MKVD, KGB) có quyền bắt giam những
người bị đánh giá là "nguy hại đối với chế độ". Ðảng
cộng sản Việt Nam với tập đoàn lãnh đạo gồm những ủy
viên bộ chính trị, những đảng viên cộng sản thuần thành,
chính thống, cũng là những người cộng sản tập trung đầy
đủ những tính chất xấu nhất của loại lãnh chúa, quan
lại phong kiến (ty tiện, tham tàn, ích kỷ, tự ty, lẫn tự
mãn), cộng với kỹ thuật cao nhất về tổ chức, tuyên truyền,
vận động quần chúng của cán bộ đệ tam quốc tế - hiện
thực nên một tổng hợp nhất quán gọi "đỉnh cao trí
tuệ" - tính theo chiều ngược của tri thức nhân loại-
cho dù là tri thức về lý thuyết cộng sản. Từ tổng hợp
"độc địa và tàn hại" nầy, do huấn luyện, chỉ đạo,
điều hành của Hồ Chí Minh, cơ quan đầu não nầy thực hiện
được một điều mà các cá nhân, tập đoàn cầm quyền cổ,
kim, đông, tây (cho dù thuộc chế độ độc tài chuyên chế
khắc nghiệt nhất) cũng không thể xây dựng nên- Ðặt
toàn bộ dân tộc ra ngoài vòng pháp luật- Có nghĩa- ÐẢNG
TOÀN QUYỀN BẮT GIỮ, GIAM CỨU, XÉT XỬ, QUYẾT ÐỊNH ÁP DỤNG
MỌI BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT ÐỐI VỚI TẤT CẢ THÀNH PHẦN
DÂN CHÚNG, ÐẢNG VIÊN CƯ NGỤ TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM DÂN
CHỦ CỘNG HOÀ (nghĩa là bao gồm vùng đất và dân cư dưới
vĩ tuyến 17, thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa) mà không
phải tuân theo một quy chế hành chánh, sắc luật pháp chế
nào - Sắc Lệnh 1961 về "Chính Sách Tập Trung Cải Tạo" kiểm
soát chặt chẽ toàn thể các tầng lớp dân chúng, đảng viên
để hiện thực bước ổn định chính trị sau Nghị Quyết
thành lập "Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam" (19 tháng
12 năm 1960), và Nghị Quyết "Tập Trung Cải Tạo" của Ðại
Hội III Trung Ương Ðảng. Nội dung chính trị và pháp chế
của sắc lệnh nầy về mặt văn hóa được chuyển thành
những khẩu hiệu tuyên truyền chiến lược qua những ngôn
ngữ đáng kinh sợ do tính sa đọa bất nhân:
Trời không có thiên thần
Ðất không có thánh nhân
Chỉ có Nhân Dân thần thánh
Và Ðảng ta làm nên sức mạnh
Bay đến chân trời...
Nguyễn
Ðình Thi
Từ vị thế tối thượng bao gồm
"chủ thể chỉ huy lẫn mục tiêu thụ hưởng - Ðảng và
Nhân Dân"- tập đoàn cầm quyền Hà Nội dựng nên hệ
thống tiêu chuẩn giá trị đạo đức mới - Tiêu chuẩn nầy
cho phép họ thủ đắc toàn diện một quyền hạn tuyệt đối
- Quyền quyết định đời sống của người khác - Quyền
giết người cho mục tiêu chính trị yêu cầu, với mạo
danh nhân dân - Quyền "cách(cái) mạng sống con người",
nói theo cách ví von của Hồ Chí Minh.
Người mẹ chỉ có quyền thương
con, và bạn của con mình nếu họ có chung "công tác" do đảng
chỉ đạo,
Bầm yêu con nên bầm yêu
đồng chí
Bầm quí con nên bầm mến anh
em.. Tố Hữu
Tương tự như thế, con giành quyền
(và phải) kết tội, xĩ nhục, tiêu diệt cha mẹ từ một
định nghĩa, phân loại giai cấp của đảng chủ trương,
Ai về làng Bái Hạ
Nhắn "vợ chồng thằng thu"
(danh từ riêng "thu" viết
thường theo như nguyên bản)
Rằng chúng bây là lũ quốc thù...
Xuân Diệu
"Vợ chồng thằng thu" là ông bà Ngô
Xuân Thu bị kết án là "lũ quốc thù", do đã tần tảo khuya
sớm làm ruộng nên trở thành địa chủ, do có phần lúa gạo
dư dã cho Xuân Diệu ăn học để nên thành "thi sĩ tình yêu"
trước 1945, và sau nầy,"thi sĩ nhân dân" của đảng, và nhà
nước.
Thế nên, kể từ 1961 ở Miền Bắc
Việt Nam, để hiện thực quyết nghị trên, những đối tượng
bị truy lùng, bắt giữ, thủ tiêu không phải chỉ là những
người "khác chính kiến, chống đối chế độ về mặt tư
tưởng" như những Khái Hưng, Nhượng Tống, Lý Ðông A, Phan
Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trương Tử Anh.. vào thời điểm đảng
cộng sản vừa cướp chính quyền, và quyết tâm củng cố
quyền lực trước 1945. Sự trừng phạt khắc nghiệt cũng
không giới hạn đối với lực lượng những người viết
văn, làm thơ phản kháng có ý thức thuộc nhóm Nhân Văn, Giai
Phẩm, 1956 với những kiện tướng Trần Dần, Phùng Cung, Phùng
Quán.. do con người lẫm liệt Phan Khôi thủ xướng. Hoàn toàn
không phải như thế, "Nghị quyết tập trung cải tạo 1961"
đưa toàn bộ Miền Bắc vào trại tù, xuống tận sâu địa
ngục, chung quanh vây kín tầng tầøng vũng lửa - những nơi
chốn kinh hoàng mà chữ nghĩa nhân loại khó có thể mô tả,
viết nên; trí não con người không hề nghĩ đến dẫu trí
tưởng tượng dồi dào, phong phú nhất. Ðịa ngục ấy có
thật dưới mặt trời, nơi một chốn được gọi nên là
"thủ đô của phẩm giá con người". Chúng ta hãy cùng
Nguyễn Chí Thiện phá vỡ khối nặng im lặng gớm ghê đáng
sợï, ác độc, đê tiện nầy- Cảnh sống-chết nơi nhà
giam Hỏa Lò ở Hà Nội.
3- Buổi con người bị khinh miệt
tận diệt: Khu nhà tù Hỏa Lò do người Pháp dựng nên
sau khi bình định được nước Việt, là trại giam trung ương
của Miền Bắc. Sau năm 1954, công an cộng sản Hà Nội xử
dụng làm nơi tạm giam các phạm nhân chờ chấp cung, chưa
có án, đợi đưa đi các trại. Nhà tù nằm trên phố Hỏa
Lò nên nhận danh xưng nầy, và phần hông dài theo góc phố
chính Hai Bà Trưng, phía sau là phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Nhà
tù gần trung ương, Bộ Nội Vụ, Cục Trại Giam, thuộc quyền
Sở Công An Hà Nội để tiện việc bắt giữ, điều hành,
quản lý, xét xử. Nhà tù nhận nhiều đợt tù ngay sau khi
bộ đội cộng sản vào Hà Nội 10 tháng 10, 1954, từ đây
chuyển đi các trại trung ương từ biên giới Việt-Trung đến
Nghệï An, Hà tĩnh, các trại tập trung dọc vùng thung lũng
sông Mã Thanh Hóa, Hòa Bình, hậu thân của hệ thống trại
Lý Bá Sơ, đã thành danh hiệu một Tây Bá Lợi Á của cộng
sản Việt Nam từ khi nhà nước vô sản đầu tiên được
dựng nên ở Ðông Nam Á, ngày 2 tháng 9, 1945 - cũng là ngày
thành hình hệ thống nhà tù cộng sản thay thế ngay lập tức,
và có hiệu quả nhà tù thực dân trong những vùng vừa được
"giải phóng" với chính sách giam giữ khắc nghiệt, tận khinh
miệt con người. Chúng tôi không nói điều mĩa mai, cố ý
đặt đễ. Những nhà tù Sơn La, Nghĩa Lộ, Yên Bái với những
cùm bằng sắt đã có thời cùm giữ các ủy viên trung ương,
cán bộ cộng sản nay được tăng cường số lượng với
vòng siết thắt chặt hơn; chén cơm, thức ăn, rau tươi, hoàn
toàn bị cắt bỏ thay thế vào đấy những thứ lương thực,
thực phẩm như sắn tươi nung khô, bo bo, khoai ủng, rau khô
úa mà loài chó, lợn cũng từ chối. Chiếc cùm chân Trường
Chinh ở phòng giam nay được giữ lại ở Hỏa Lò như một
chứng tích lịch sử của "thời thực dân tàn ác, bóc lột",
thật không thấm vào đâu so với khối cùm hộp kẹp vỡ xương
ống chân của những con người trong câu chuyện sắp kể ra.
Cũng tại nhà tù Hỏa Lò nầy. Thế nên, phải nói thật một
điều tưởng chừng như vô lý - Nhà tù Hỏa Lò thời thực
dân đã là một thiên đường so với thời "tập trung cải
tạo xã hội chủ nghĩa theo lời dạy của Bác Hồ vô vàn
kính yêu!!" Chúng ta cần nêu một so sánh để khỏi bị cáo
buộc vô bằng cớ. Khi xây khám, người Pháp dự trù chỉ
để giam cứu cho vài ba trăm người với những dãy nhà dài
rộng. Công an cộng sản chia thành bốn khu chính với những
phòng giam ngăn cách bởi những dãy tường đá, trên thả kẻm
gai, và mãnh chai vỡ. Một nhân vật của câu chuyện kể (vốn
là đại úy Quân Ðội Quốc Gia trước năm 1954) tháng 8, 1961
bị đưa vào tù theo nghị quyết tập trung kể trên, có số
tù 4257. Ðiều nầy giúp cho biết, chỉ mới đến tháng 8 lượng
tù đã quá số 4000, cuối năm, theo nhịp tập trung bắt giữ
như đã xẩy ra ắt hẳn khoản 6000 lượt người, vào và chuyển
dần đi. Hỏa Lò nhận một số tù gấp mười lần số lượng
dự trù, và diện tích phòng bị co rút lại, thế nên, các
phòng giam dẫu treo khẩu hiệu, "Ăn sạch. Ở sạch. Nội
vụ sạch", sinh hoạt "điễn hình tiên tiến" ở phòng
số 14 đã diễn ra như sau: "Ba chục tên mới vào chen chúc
đứng ở chỗ cửa ra vào, rộng khoảng ba thước vuông, đám
tù sẵn có chen nhau nằm trên hai sàn, trên lối đi giữa phòng,
không một kẻ hở nhỏ. Tất cả phải nằm úp thìa (bụng
người nầy sát vào lưng người kia, chân co lại), trong nhà
mét (nhà vệ sinh có bề ngang "một mét") hơn một chục tên
nằm ngồi ngổn ngang. Tên trực phòng bàn với tù trưởng
phòng:
- Bây giờ ba chục tên mới vào
nhét vào đâu?
- Ðành phải lèn chúng nó bằng
được!
Trực phòng gọi từng tên một
đến chêm vào đống người nằm chật trên sàn.. Dồn lại!
Dồn lại! Miệng hô, gót chân nện vào bụng, ngực những
thằng đương nằm, cố có được một khoảng trống độ
mười lăm phân để chêm thêm một tên. Vất vả khoảng mười
lăm phút cũng chỉ chêm được bảy tên, nên cuối cùng trưởng
phòng có sáng kiến:
- Tao có biện pháp, cho chúng nó
"tạc tượng", nghĩa là đứng dựa vào tường đêm nay. Ðêm
mai sẽ thay lớp khác. Lập tức hai chục "pho tượng" được
đặt dọc theo bức tường".
Nhưng 250 con người trong căn phòng
dự trù chỉ hai mươi người ở kia có những nhu cầu sinh
tử, trong đêm họ phải đi tiểu, đại tiện (do buổi chiều
vừa được thăm nuôi, và chỉ trong vài phút ngắn đã phải
ăn cho hết những thức ăn nhiều chất bột, mỡ, đường).
Kẻ đi vào phòng vệ sinh phải trở thành một diễn viên xiếc
thượng thặng... Trước khi bước phải tìm một kẻ hở giữa
đám người nằm để đặt năm đầu ngón chân xuống, có
những chỗ quá xa nên phải nhảy tới, rồi bước lò cò;
lỡ chân, đạp lên mặt, lên ngực kẻ nằm, hoặc ngã đè
lên họ... Vào được phòng vệ sinh, lại phải thêm một phen
chen chúc. Một tên ngồi gục đầu trên hố xí, úp mặt xuống
lỗ hố xí thối thủm, một tên khác ngồi ở bệ bước lên,
nhưng dù sao đấy cũng là "hai chỗ ngủ tốt". Có tên nằm
co quắp trong bệ tiểu tiện, phải đánh thức tên nầy dậy
mới đi tiểu được, vừa tiểu tiện xong, bệ tiểu đã có
một tên nhảy vào ngồi trám chỗ. Từ cửa phòng vệ sinh,
lão (người tù có số hiệu 4257) nhìn ra... Căn phòng im lặng
lềnh đặc mùi tanh tưởi của máu, mủ, mồ hôi, mùi phân
người bốc lên ngầy ngật... Mấy trăm bộ xương da khẳng
khiu, lỡ loét ngập tràn, nằm ôm cứng la liệt như đống
xác chết như một nấm mồ tập thể, lộ thiên chưa lấp
đất.
Chắc hẳn, bạn đọc đã có ý
nghĩ: Ðám tù của phòng số 14 nầy phải là những tay anh
chị, dân dao búa, vào tù do phạm những tội hình gia trọng?!
Cũng có thể đúng như vậy, nhưng trong đám không thiếu những
bi kịch thương tâm. Chúng ta hãy nghe người tù già thở than
với gã tù trưởng phòng (để gã nầy gia ân cho khỏi ngủ
"nhà mét- chuồng xí"... Vâng, thưa bác, cháu chỉ vì đạp
xe trái luật, bị cảnh sát phạt hai chục đồng (khoảng một,
hai đồng tiền Mỹ). Cháu không đủ tiền nộp, họ giữ ở
đồn mấy hôm. Vợ con cháu đói, cháu van lạy công an trả
xe, cháu đi làm sẽ nộp phạt sau. Mấy ngày liền cháu lên
đồn cầu xin, công an không trả còn mắng chưởi, xua đuổi.
Nhà cháu ức quá kêu trời, đất, tên các ông Lê Duẩn, Trường
Chinh để kể ra nỗi khổ... Thế là bị giải vào đây, đã
mười bốn tháng vì tội "lăng mạ,ï xúc phạm lãnh tụ".
Cháu không biết chữ, xin bác làm ơn, làm phúc, viết cái đơn,
xin nhà nước tha cho cháu."
Ông lão đạp xích lô không phải
là trường hợp riêng biệt, có gã tù trẻ hơn, đói quá đang
ngồi bỗng nhiên ngất xĩu, được lão tù (vốn là đại úy
quân đội quốc gia vừa kể ra trên) cho uống một ca nước
pha chút đường, gã tỉnh lại, rơm rớm nước mắt, kể lễ...
"Cháu có tội gì đâu, cháu làm nghề sửa đồng hồ, đạp
xe đạp quanh các phố rao mời: "Ðồng hồ nhanh, chậm, hỏng
vỡ...Ai cần chữa...". Một hôm quá mệt, cháu rao ngắn hơn...
"Hồ hỏng, hồ vỡ, sửa chữa.." Rao được vài phố thì bị
công an bắt vào đồn. Ông chấp pháp hỏi cung, bắt cháu phải
nhận có ý đồ phản động, xỏ xiên lãnh tụ, xúc phạm
bác Hồ!! Cháu giải thích, hôm ấy cháu bị ho, lại quá mệt
chứ nào dám xúc phạm Hồ Chủ Tịch, cháu còn hai con nhỏ
phải nuôi, làm sao có gan bằng giời như thế! Ông chấp pháp
bảo nếu có cố ý thì cứ nhận, đảng sẽ khoan hồng, cho
về với vợ con. Cháu tin theo, ký vào biên bản, nhưng không
hiểu tại sao cứ bị giam ở đây, đã mười tám tháng...
Gã thợ sửa đồng hồ khóc nấc".
Những trường hợp thương tâm,
bi hài như trên không phải là hiếm hoi, và hậu quả của
khốc hại của chế độ giam giữ không chỉ gây nên đói
khổ, ngủ nhà xí, trong bồn đi tiểu. Chúng ta qua khu nữ tù,
khu thứ ba của Hỏa Lò để biết ra thêm một khía cạnh bi
phẫn: Phận người, phận người tù nữ cũng không kém cường
độ khốn khổ, trái lại trong những tình cảnh khốn cùng
kia, họ đã là những đơn vị thụ động, bị đánh vỡ trước
tiên. Chúng ta hãy nghe câu chuyện:
Phòng nữ không quá đông
như phòng nam, nhưng cũng chật ních, thêm mùi cầu tiêu, mồ
hôi, mùi máu mủ, ghẻ lỡ, lậu, giang mai, kinh nguyệt quyện
vào lan tỏa... Ðám nữ tù khi vào buồng, đồng cởi áo quần,
nằm ngồi ngỗn ngang, lấy những mảnh giẻ con thấm máu mủ
cho nhau. Có tiếng khóc của trẻ con, mụ trưởng phòng đã
ngoài bốn mươi, bế đứa nhỏ trong tay, nựng nịu... Khổ
thân cho cháu quá, bé tí thế nầy mà đã vào tù, mới mười
tháng mà đã trở thành tù nhân, mà cái nầy cũng chỉ tại
mẹ mầy, trẻ người non dạ... Mẹ nó còn đường không đấy?
Cô giáo đừng ăn đường của con đấy nhé.
Mẹ đứa bé, vốn là cô giáo
sùi sụt: Cám ơn các chị thương cháu, cho cháu đường để
pha nước cháo, em đâu nỡ ăn đường của con,
Mụ trưởng phòng an ủi: Thôi
đừng khóc nữa, trên thế nào cũng chiếu cố cho mẹ con em
về,mà em cũng thật dại, bao nhiêu người chồng chết, con
chết mà ai dám chưởi như em đâu?
- Em nào dám chưởi đảng bao
giờ, nghe tin anh ấy chết, em chỉ gào mỗi câu "nghĩa vụ
quốc tế giết chết chồng tôi rồi...". Không biết kiếp
trước mẹ con em phạm tội gì mà giời đày đoạ đến thế
nầy, chồng thì bỏ mạng ở xứ người, xác không biết chôn
đâu, mẹ con em lại phải vào tù đã năm tháng nay.
Với môi trường tù ngục như trên,
đứa bé lại thiếu dinh dưỡng, dẫu cô "nữ quái" của phòng
đã dùng đến chiến thuật của nghề cũ- Dùng thân xác mình
o ép, lập kế dụ các gã bộ đội võ trang (đi tuần hằng
đêm) cung cấp hộp sữa để được sờ mó người cô, và
dùng sữa nầy nuôi đứa bé - Nhưng bé không chịu đựng nỗi
sức nóng của căn phòng, vào những ngày tháng Tám, nóng lên
đến quá 40 độ, bé bị sốt cao, rôm sẩy đầy người, la
khóc đến nghẹt thở, xong chỉ còn những tiếng rò rè thiêm
thiếp. Cô giáo chỉ còn da, xương, mắt quầng thâm, ôm con
lo lắng. Một buổi sớm, cô thiếp mê, khi tỉnh dậy thấy
thằng bé há hốc chiếc miệng nhỏ xíu, mắt trợn lên, bất
động. Cô hoảng loạn kêu ầm... Con tôi chết rồi!! Con tôi
chết rồi!
...Gã tự giác vào phòng, giật đứa
bé khỏi tay cô giáo, đẩy cô ngã xuống. Cô vùng lên chạy
theo, gào thét... Trả con cho tôi! Trả con cho tôi! Tôi tự tử
chết! Cô đập đầu vào song sắt. Máu từ đầu chảy xuống
hòa nước mắt.
... Nhờ các bạn tù theo dõi, trông
chừng, cô giáo không tự tử chết được, chỉ trở nên người
mất trí. Trong cơn điên, cô hát lại những câu hát thời
thơ ấu, lúc con còn sống, cô thường hát để thay lời ru...
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng. Bác chúng em
dáng cao cao, người thanh thanh... Mong Bác sống muôn đời để
dìu dắt nhi đồng thành người... Và cô chêm nhữnglời
thơ vào bài hát với, lẽ tất nhiên cũng là thơ về Bác Hồ
do Tố Hữu viết xưng tụng Bác... Ðàn cá kia còn vui với
ai. Thơm cho ai nữa hỡ hoa nhài... Cô vừa hát, vừa ngâm
thơ, vừa múa đẹp, thường kết thúc trò vui với lời gào
khản.. ới con ơi ... ới con ơi!!
Một sáng đầu tháng mười, ông
y sĩ trại vào dẫn cô đi. Cô giáo được đưa tới một trại
giam người điên bên Châu Quỳ, Gia Lâm. Các bạn tù thì thầm...
Nó được Bác Hồ phù hộ đấy. Bác thiêng lắm, hôm Bác
mất, giời mưa khóc bác...Thì con điên ấy chẳng thường
ngâm, "Người tuôn nước mắt, Trời tuôn mưa" đấy con ơi
là con!!
Ðến đây, hẳn bạn đọc có thể
nại đến một thắc mắc để có được cớ an ủi: Những
người tù vừa kể trên thuộc về những thành phần đại
chúng, thấp cổ, bé miệng, không ai biết đến, và hệ thống
nhà tù đẩy họ vào chung một hoàn cảnh khốn cùng, hơn nữa,
Miền Bắc thời chiến tranh, người dân ngoài xã hội cũng
không được phần dư dã, thường xuyên chịu kiểm soát, coi
chừng. Không phải như vậy, người bạn của chúng ta sau một
hành trình từ bốn giờ sáng, suốt 18 tiếng đồng hồ bằng
tất cả những phương tiện, ca nô, xe tải, xe lửa... Chen
chúc nhau trong một toa đen bịt kín, nhầy nhụa phân lợn,
mười một giờ đêm đến trại Phong Quang, sát biên giới
Việt- Hoa, cách nơi khởi hành chỉ hơn 100 cây số, khoảng
60 dặêm anh. Sáng hôm sau, Nguyễn Chí Thiện đến bệnh xá
tìm gặp một người... Một người trung niên, mặc áo bông,
đứng trước cây ớt chỉ thiên, đầu ngẫn lên nhìn trời,
nét mặt xám nhợt, bất động. Phùng Cung, cây bút trẻ tuổi
mạnh mẽ nhất của nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm, từ thập niên
50 đã nhận chân ra được phần "tài năng" của đám bồi
bút đảng, những Xuân Diệu , Huy Cận, Chế Lan Viên... như
"Con ngựa già của Chúa Trịnh" nhìn cuộc sống ngoài cung điện:..
"Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đồng nhỏ lại
và thẳng tắp. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến màu xanh của
trời chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai
chiếc lá đa che hai bên mắt chỉ cho thấy được một chiều...".
Từ, bởi những giòng chữ nầy, người viết văn đã phải
nhận ngay trừng phạt với mười năm tù không tuyên án tính
đến năm 1970 (và tiếp theo sau một thập niên nữa), nghĩa
là ngay sau khi nghị quyết tập trung kể trên kia được thi
hành. Khác với tình trạng của Rubashov trong Darkness At Noon
vào những giờ phút cuối cùng trước khi bị hành quyết,
không còn đến cả người bạn tù bên phòng 406 đáp lại
tiếng gõ làm hiệu. Ông ta nhớ lại quảng đời dài 40 năm
phục vụ đảng, và cách mạng - phục vụ dâng hiến- không
hề đặt nên vấn đề: Phục vụ cho ai từ lúc khởi cuộc?
Và khi chạm sát vào cái chết, người tử tù tự hỏi mình
ngây thơ như đứa trẻ: Hoá ra đảng đã lấy hết tất
cả những gì của mình dâng hiến, và không cho lại được
tiếng trả lời sao? Phùng Cung không được chết, dù phải
bị bệnh lao, chuyển về đội đan lát, (một đơn vị của
trại tù có biệt danh "mầm non nghĩa địa"- gồm những người
sắp chết), anh phải sống sót, ra tù để chịu đựng sự
đe dọa thường trực "suốt chục năm, sau ngày ra tù,
(kể cả sau khi Liên sô sụp đổ 1990), công an thường xuyên
tới nhà, lục soát, gọïi lên đồn, đe dọa, khủng bố tinh
thần. Có lần không biết ai tố cáo, anh phải nộp 50 bài
thơ chép tay; may chỉ là thơ tả cảnh, không đụng gì tới
chế độ." Bên cạnh sự khủng bố của công an, còn có
tiếp sức của cái đói, "cái đói bám vào thắt lưng mà
đánh". Phùng Cung tôn kính hạt gạo vô cùng, ông nói thành
lời: Tôi rạp đầu. Bạc tóc rạp đầu. Lạy hạt gạo
thiêng!
Vợ chồng ông phải sống trong cảnh:
Trệu trạo trái sung. Ruột tím cơ hàn... Và trong lòng
là nỗi sợ hãi nơm nớp:
Mắt trước, mắt sau. Kinh hoàng
di lụy. Quỳ gối, chống tay, vẫn còn sợ ngã!
Có điều nào lầm lỗi trong những
chữ nghĩa xót xa nầy, một đời người toàn diện hiến dâng
cho độc lập, tự do dân tộc, ngợi ca, gìn giữ phẩm giá
con người, từ những năm còn độ tuổi thiếu niên...
Vùng châu thổ Lưỡng
Hà vang tiếng gáy
Lớp lớp thương vong bằng an
ngồi dậy
Dưới sao Mai ưu ái trong lành
....
Khắp nẻo Nam, Bắc bán cầu
Chim hót Thánh Thi
Cuối cùng, chế độ quyết định
kết thúc đời người tại những tình huống
tận sống
trong cảnh chết qua bi kịch khốc liệt như sau: "Người
thanh niên 31 tuổi, vốn là bộ đội giải ngũ vì thương trận,
anh can tội đánh cắp kho thuốc tây phố Ðinh Liệt, quận
Hoàn Kiếm. Chẳng phải số lượng thuốc bị mất cắp quá
lớn để có thể gây thiệt hại đến nền y tế quốc gia,
nhưng bởi đấy là kho thuốc của trung ương đảng nên anh
bị kêu án tử hình. Aùn xử đã được định sẵn với công
tố Ðỗ Xuân Sảng vì trung ương đảng muốn cảnh cáo cho
dân chúng biết- Ðánh cắp của ai cũng có thể châm chước
(bằng chứng những vụ tham nhũng, làm hư hại, gây lỗ các
xí nghiệp, nhân hàng lên đến hàng chục tỷ đồng cũng chỉ
bị "cảnh cáo nội bộ"), nhưng đánh cắp của đảng (của
đảng viên tung ương đảng) thì chỉ có tội chết mới xứng
đáng- bởi đấy là biễu hiệu nhất quán về phản động
chính trị- Coi nhẹ pháp chế của đảng. Xúc phạm lãnh tụ...".
Cô gái cũng có trường hợp tương tự, vì uất ức tên trưởng
khu phố đã lợi dụng chức vụ( dù chỉ là chức "trưởng
khu phố") để đòi cô cho hắn ta thỏa mãn (như cách tổng,
lý, xã trưởng của đầu thế kỷ khi còn chế độ quân chủ,
phong kiến), còn bứt bách mẹ cô vốn là một cô giáo. Quá
phẫn uất, cô gái dùng xăng đốt nhà gã nầy cho đến chết.
Cô bị kết án tử hình lúc 19 tuổi. Hai người đối diện
nhau qua dãy hành lang của khu khám tử hình và sống cùng nhau
trong những giờ phút cận kề, chạm mặt cái chết:
... Hai đứa bị tử hình mà không
thương nhau thời thương ai? Thấy mặt anh ngây ra, em buồn
cười quá. Chắc chúng mình có duyên nợ nhau từ kiếp trước.
Năm nay em mười chín tuổi, ở ngoài , em chưa yêu ai đâu!
- Em mười chín tuổi, chỉ mới
trăng tròn lẻ bốn tuổi, chưa mảnh tình vắt vai, tuổi mới
bước vào đời mà phải bước ra. Tiếc thật, giá anh có
thể chết thay cho em thì tốt biết bao... Mấy đêm trước,
anh mơ thấy thầy mẹ anh. Hai "cụ via" vui lắm, nói là sắp
được đón anh. Kiếp sau hai đứa mình sẽ chung sống nhé!
- Ðợi kiếp sau lâu lắm, em không
đợi được đâu, sau khi chết hai linh hồn chúng mình phải
gặp nhau cơ. Chúng mình nên chọn nơi thật thơ mộng như bên
Hồ Tây, trên đường Thanh Niên ấy,
- Ý kiến hay quá, nhưng theo anh,
chúng mình hẹn gặp nhau trên đê sông Hồng, chỗ Ðồn Thủy
đi thẳng ra...
- Này, nếu ở thế giới bên kia
mà anh phụ em, em sẽ "hỏa thiêu" luôn cả linh hồn anh
- Trời đã thương anh, ban em cho
anh, anh mà phụ em, trời cho set nổ trên đầu, đánh chết
tươi anh ngay. Em ơi, anh muốn sang bên buồng em quá. Nghĩ tới
được ôm ấp em, vuốt ve em, anh run cả người lên đây nầy...
- Em cũng muốn lắm, mồ hôi em cũng
lấm tấm trên trán đây,
Gã tù hạ thấp giọng, nói nhỏ:
Em đã thông cảm thì anh mạnh dạn nói. Ðêm qua, anh nghĩ sẽ
đề nghị với em là chúng mình sẽ thành vợ chồng, nhưng
chuyện động phòng là không thể được rồi. anh chỉ muốn
chúng mình ngắm thân thể của nhau!! Ðến giờ vệ sinh, anh
sẽ đứng lên cùm nhìn sang buồng em. Ðến lượt em cũng thế,
nhớ cởi hết ra đấy!!
- Nếu có cơ hội, anh mở lỗ cửa
gió buồng em như hôm nọ, em sẽ để môi ra cho anh hôn..
- Sáng kiến hay quá, ờ... mà không
phải hôn. Anh sẽ uống linh hồn em!
... Nhiều tiếng giầy thình thịch
đi vào sân. Rồi tiếng mở khóa loảng xoảng. Gã tử tù ngưng
nói, xong hốt hoảng: Có lẽ anh "đi" đấy. Giọng cô gái hồi
hộp: Có thể là em!
Tên quản giáo mở cửa buồng gã
tử tù. Hai vũ trang xông vào quát: Ngồi im không được cử
động. Chúng bẻ tay gã tử tù ra sau lưng, dùng còng số 8
khóa lại. Gã tử tù nói to: Anh đi trước anh đợi em ở bờ
sông Hồng! Cô gái đập cửa buồng gào lên: Xin các ông đưa
tôi đi bắn cùng anh ấy! Xin các ông!
Gã tử tù bị đẩy ra hành lang,
hướng về buồng cô gái: Tạm biệt em, đừng cầu xin gì
chúng nó cả. Chắc chắn chúng mình sẽ gặp nhau. Cô gái nức
nở: Anh ơi, Em thương anh quá. Em muốn đi với anh, chúng mình
gặp nhau ở bờ sông Hồng... Em sẽ tới đó.
Ra tới sân, gã ngoái cổ lại kêu
lớn... Ðừng buồn, chúng mình gặp nhau trên bờ sông Hồng...
ở bờ sông Hồng nghe em.... Sông Hồng... sông Hồng em ơi...
4- Lời Kết: Thưa anh, Người
Bạn Nguyễn Chí Thiện, chữ, nghĩa tự thân không phải là
điều to lớn. Chúng chỉ là những ký hiệu, nhưng qua bàn
tay, từ chiếc đầu nung lửa khổ đau, anh chúng biến thành
sức mạnh. Chữ của anh là Phán Xét Chung Cuộc chính xác.
Chữ của anh Tiếng Lời Tiên Tri. Bởi, giữa vũng lầy
lừa dối của Miền Bắc, siết chặt cùm xiềng, anh đã hằng
khẳng quyết: Ta vững tin đất trời kia chẳng phụ. Công
đức vun bồi nuôi dưỡng thân ta. Trong đêm cùng vùng nhiệt
đới bao la. Trái lửa của ta sẽ bùng lên vạn ánh. Và
có ai chia cùng chúng tôi, những người ở Miền Nam nơi buổi
mai sáng đất nước vỡ toang để chìm dần xuống đáy huyệt
của sự chết toàn diện nếu không muốn nói một mình anh.
Chỉ mỗi mình anh với tiếng gào thống hận khôn nguôi...
Khi Mỹ chạy bỏ Miền Nam cho cộng sản... Vâng, chung thủy
chỉ mỗi mình anh - Người dụng Thơ Nguyễn Chí Thiện.
Ngày trình diện đi tù 26 năm trước
22 tháng 6, 1975 - 22 tháng 6, 2001
phan nhật nam
|