Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT

 Những Bài Viết Của
 Phan Nhật Nam

Gởi Người Bạn Lính - Viết Văn

Ông Th Trg thân,

(Lời cẩn chú của người viết: Những danh xưng trong ngoặc kép nếu không phải viết hoa vì do quan điểm, đó không là danh từ riêng để nói về một con người”, nhưng là danh tự chỉ một tai họa chung”, không riêng cho mỗi cá nhân, một tập thể, nhưng toàn Dân Tộc Khổ Nạn gọi là Người Việt Nam, người sống lẫn người chết, cũng không loại trừ những đối tượng gọi là đảng viên Ðảng Cộng Sản”.

I-Dẫn Nhập. Sau đây là câu chuyện có xuất phát từ những tiểu phẩm phê bình, thơ, tạp bút văn học và một cuốn sách nhận định về người và việc chính trị, quân sự, (thật rối rắm nếu như ông và tôi phải viết cho nhau lên báo về những điều gọi là thơ, phú, chữ nghĩa luận lý nầy), nhưng vì tôi phải dọn nhà thêm một lần nữa (không biết là mấy lần rồi) sau năm năm ở Mỹ, địa chỉ ông lại bị lạc đâu mất... Nên tôi mượn báo các bác dưới Cali, cùng bạn bè bốn phương gởi bài viết nầy đến ông (nếu may ra không bị bỏ đâu đó), để nói rõ ra câu chuyện sắp kể ra dưới đây. Cũng bởi, hôm tháng 7, 1997, ở Orange County, CA ông đã bênh vực tôi vì điều:"Viết như thế nào để được xứng đáng là "nhà văn chân thật?". Xưa nay, hơn ba mươi năm qua, ông và tôi cũng khá đậm ân tình, dù có giai đoạn cách xa mất bặt lâu dài, nhưng có những lúc nguy nan, cận kề hơn thân thích ruột thịt... Ông chia cho tôi điếu thuốc chống rét dưới chân đèo "tắt thở", xã Việt Hồng, Hoàng Liên Sơn, mùa đông năm 1976; tôi khiêng ông qua cầu sinh tử, trại Z 30D, cuối năm 1988, đoạn đường ông "thật chết" hơn là còn sống với bộ não vỡ hồng cầu máu đến lượng cuối cùng. Thế nên, câu chuyện sau đây chắc hẳn không còn "tính thật" nào khác hơn cảnh đời của ông và tôi đã đi qua và cũng đang sắp hết.

II- Ai “ác” hơn Ai. Nội dung câu chuyện có điểm cụ thể như thế nầy: Chưa hề ai trong đám viết lách ở Sài Gòn, Miền Nam trước kia, hoặc hải ngoại như bây giờ đòi "phanh thây, uống máu quân thù...", cũng không ai trong chúng ta có lời trì siết, mắng mỏ người cầm bút ngoài Bắc, trong khu là "bọn rắn độc, thằng nguỵ kia, tên phản động, tay sai nọ", như cách chưởi “xách mé” đặc trưng của những tay danh sĩ Bắc Hà, THoài, CLViên, TTÐÐàn, NKhải, DThHương... hoặc "ví von dạy dỗ” kiểu Huế của HpnTường, đối với đám người khốn khổ sau 30 tháng Tư, 1975 khi tập trung ở "Trung tâm bồi dưỡng chính trị" đường Nguyễn Du Sài Gòn, hoặc ở các kỳ "lên lớp học tập" nơi trại tập trung như ông và tôi đã phải chịu đựng. Cũng không ai trong chúng ta, những người mặt áo lính, một lần đặt vấn đề "Ai hơn Ai" với đám cán bộ, bộ đội nón cối dép râu ở ngoài Bắc vào, hoặc quấn khăn rằn, mũ tai bèo trong bưng ra. "Ai hơn Ai", thì người, việc và sự thật lịch sử đã nói đủ, hà tất phải bàn thêm. Hôm nay, Tháng Tư hai mươi bốn năm sau ngày mất Miền Nam, bảy thế hệ người Việt, những người sinh từ những thập niên 20, 30... đến 70, 80, ắt hẳn đã tự xác chứng đủ và đúng "thế nào, cái gì là đảng và người cộng sản Việt Nam?", kể cả những người đã và đang là đảng viên của tổ chức khốc hại ấy. Ðây không là nhận định từ những cá nhân đơn lẻ về một đối tượng, phong trào theo cảm tính riêng tư, nhưng là kết luận chung nhất của tập thể dân tộc, trong đó mỗi người tự khổ đau, sự chết đã nhận định, chọn lựa để nên thành. Cũng không phải chỉ riêng hai triệu người Việt đã hiện thực quyết định chọn lựa bi tráng cao thượng nầy với trị giá 600.000 mạng vong trên đường di tản kể từ thời điểm kia, nhưng hôm nay là những người đã một lần "kéo pháo lên đồi Hồng Cúm, Him Lam trong chiến dịch Ðiện Biên 1954", hay "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" ở những năm 60, 70. Lực lượng nầy càng ngày càng đông, không riêng nơi miền Nam mà khắp cả nước với những người thuần thành là cán bộ cộng sản- Cán bộ cấp lãnh đạo - Tập đoàn đã dựng nên kỳ tích “đánh thắng hai đế quốc sừng sõ của nhân loại" để đưa Việt Nam nên thành một nước thuộc hạng nghèo đứng thứ tư thế giới nếu kể từ dưới trở lên. Ðến nay, chính những người nầy đặt vấn đề với nhau do tranh đoạt và xử dụng hậu quả về “thành tích” của họ.

Sỡ dĩ tôi phải nại đến nhiều người với dẫn chứng nhiều việc như trên để xác nhận lại một điều tưởng như bình thường mà ông và tôi luôn gìn giữ, thực hiện qua đời dài tận sống và thực viết với khốn nhục trăm bề (hoá ra ông với tôi là hai sĩ quan cấp nhỏ nhất, cho dù cấp bậc ông là thiếu tá, và cũng ở tù lâu nhất) - Ðiều ấy là, (tôi mượn tiếng lời Võ Phiến) - Chúng ta là những Người Lính can trường. Chúng ta là những người Viết Văn chân thật. Và chúng ta cũng không hề có chữ nghiã khinh thị, thái độ bất công với những người "phía bên kia", mà quả tình, giờ nầy, không còn ở "phía" nào khác ngoài hai phía: Một bên, những kẻ cầm quyền và tập đoàn gây tai họa vô lường và bên kia khối dân bảy mươi bảy triệu người chịu đựng cơn quẫn bách suy kiệt trầm kha không cơ may giải cứu. Và hôm nay, sắp bắt đầu thiên niên kỷ thứ ba, khối đông khổ nạn hơn bảy mươi triệu người nầy cũng chỉ có những “trang bị tinh thần" đại loại như những khẩu hiệu, "Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta" hoặc "Sống-Chiến đấu-Học tập theo gương bác Hồ vĩ đại"- Cái "sự nghiệp" mà thiểu số lãnh đạo nhất định bắt tuyệt đại đa số phải”làm chủ” bằng cách thực hiệu theo nhịp trống "xuống đồng tiến công" dẫn đầu bởi một lá cờ đỏ. Tập đoàn cầm quyền kia thật ra biết rõ hơn ai sự khắc nghiệt ác độc vô lường nầy, nhưng do cách sa đọa của những kẻ lậm quyền kinh niên không cho phép họ có được chút nhỏ liêm sĩ để nói, làm khác đi. Ðám "văn công, văn lại", những "kẻ dụng văn" theo lệnh ban Tuyên huấn trung ương Hà Nội cũng không có tiếng lời nào khác ngoài việc trưng lên một điều quái gở gọi là “tư tưởng hồ chí minh". Xin được nói lại thêm một lần, tôi không viết hoa cụm từ nầy vì đây “không là tên thật về một con người”, nhưng là chỉ danh về một tai họa, và cũng do quan điểm, đấy là điều quái đản vô nghiã, bởi chính kẻ kia cũng xác nhận cái gọi là "tư tưởng" ấy cũng chỉ là những điều nhặt nhạnh tầm phào đâu đó mà thôi.

III- Bạn? Thù? Nhưng, vấn đề tôi viết cho ông không những chỉ cốt nói đến đám người trên. Câu chuyện tôi đang đề cập trước tiên liên quan đến những kẻ khác, những người đang "thủ đắc tự do xử dụng, sáng tạo chữ nghiã" tại Mỹ, ở hải ngoại và những cáo buộc của những người nầy đối với chúng ta - Những Người Lính Viết Văn. Họ đã cáo buộc chúng ta với những lý luận không công bằng, thiếu tính trung trực, cũng thiếu bao dung đối với những người dù sao cũng đã hiến đến máu để bảo vệ cho đời sống của chính họ trước 1975 ở Miền Nam, và khi đi tù, chúng ta cũng không làm gì sai phạm để gây nên tiếng bất xứng đối với vùng đất mà họ đã được nuôi dưỡng, lớn lên, tồn tại. Cuối cùng - họ phải đi ra khỏi nước chỉ do khi chúng ta bị tước mất vũ khí, tan rã đội ngũ - Cũng có nghĩa, chúng ta không còn khả năng bảo vệ Miền Nam trong đó có bản thân "những kẻ phê phán hôm nay", trước đại họa cộng sản. Hai mươi bốn năm qua, một số đông người Việt ở hải ngoại hầu như vô ý quên khuất (hoặc cố tình không nhớ lại) điều khắc nghiệt cay đắng nầy- Chúng tôi hằng bị cáo buộc từ những người chúng tôi luôn cố tâm bảo vệ.

Năm 1997, tôi nhận được bài thơ sau đây do một bạn trẻ gởi đến,

"Ðộc lập,
Hoà bình,
Công bằng,
Nhân đạo
Mắt em thơ hớn hở nụ cười tròn
.....
Nòi giống Việt thương yêu đời sống Việt
Triệu con người vươn lên từ cõi chết
Yêu anh em yêu xã hội công bằng
Người yêu người xây dựng đến muôn năm".
Bài thơ dài nhưng tôi giảng lược, chỉ lấy ý cần thiết, đăng từ một tờ báo trong nước với lời ghi chú về tác giả và xuất xứ bài thơ: Phan Duy Nhân, TIẾNG HÁT CỦA NGƯỜI ÐI TỚI, Hội Sinh Viên sáng tác, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, 1967.

"Tên thật là Phan Chánh Dinh, sinh năm 1941 tại Quảng Trị. Trước khi thoát ly lên chiến khu năm 1966, anh thường đăng thơ trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Văn Học, Sinh Viên Huế. Anh là thành viên nòng cốt của nhóm Việt Nam Việt Nam.

Trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân, anh bị thương và bị bắt tại Ðà Nẵng, sau đó bị giam ở nhà tù Côn Ðảo, đến năm 1974 mới được trao trả.

Thơ Phan Duy Nhân đã góp phần quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại và phát triển của dòng văn học yêu nước, cách mạng ở Miền Nam trước 1975.

Hiện nay, Phan Duy Nhân (Nguyễn Chính) đang công tác ở Ban Tôn Giáo chính phủ."
Trích báo trong nước, 1997.

Tôi không lạ với Dinh, PDN, phải nói quá thân thiết, vì đấy là một trong những người bạn chí cốt, đã sống cùng tôi qua một thời tuổi trẻ. Cuốn Aûi Trần Gian, Ðại Ngã Sài Gòn 1970 lấy PDN và biến cố Miền Trung, Ðà Nẵng 1966 làm nhân vật trung tâm cho toàn cảnh. Thơ PDN vẫn gây xúc động cho tôi từ thuở thiếu thời mãi đến hôm nay, nhưng bài thơ trên cho đăng lại ở thời điểm nầy (1997) với lời ghi chú kia và cố ý gởi đến tôi (do biết rõ xuất xứ, mục đích) là một khinh miệt đối với nỗi đau vô vàn của một tập thể to lớn - Những nạn nhân từ cuộc "cách mạng" mà Dinh đã tận hiến với toàn bộ tuổi trẻ, sinh mạng của mình, không phải chỉ bản thân cá nhân anh mà cả tập thể gia đình, vợ con, cha mẹ. Nhưng dẫu kính trọng phần hy sinh cao thượng ấy bao nhiêu đi nữa, tôi vẫn không thể nào không xót đau cùng tập thể bị khinh miệt, đày ải nầy, cũng bởi lẽ, ông và tôi, những người sống không nên dạng, chết không yên mồ, đối tượng chính bị bức hại của cuộc cách mạng đáng nguyền rủa, rất mực vô ích và đắt giá khổ đau nầy. Bài thơ cũng xuất hiện cùng lần với những sự kiện Xuân Lộc, Long Khánh; Trà Cổ, Thái Bình, với những vị cao tăng Thích Quảng Ðộ, Thích Huyền Quang... bị sĩ nhục, vu cáo như những kẻ tội đồ tồi tệ. Dinh bây giờ lại là Nguyễn Chính, phó ban tôn giáo trung ương đảng, nên không thể khách quan tô vẽ anh vẫn luôn là một "chiến sĩ cách mạng thuần thành trong sáng" với "bàn tay sạch sẽ hào hiệp" trên đấy lưu giữ những hạt kim cương bất hoại, "độc lập, hoà bình, công bằng, nhân đạo". Giới thiệu như lời dẫn nhập kia là cách hạ nhục vô lường đối với khối người Việt đã, đang gánh chịu một tai họa gọi là "chủ nghiã xã hội". Phổ biến nội dung bài thơ cũng tương tự như cách phỉ nhổ tàn nhẫn trên thây xác người vượt biên trôi vào bờ biển Vũng Tàu, bộ đội biên phòng vất lên tấm bảng "bọn phản quốc, bỏ nước đi trốn bị trừng trị". Người chết là một thiếu phụ trẻ với xác đứa con cùng lần tấp vào.

Thế nên, trong tình thế chẳng đặng đừng của "nỗi đau luôn là nỗi đau chung" tôi có tiếng lời đáp lại như sau:

"Bạn ơi,
nào...
"Ðộc lập,
Hoà Bình,
Công bằng,
Nhân Ðạo..."
Hãy nhớ lại cùng tôi câu chuyện cũ,
750.000 con người bặt tăm dấu mặt
Bởi "tội lỗi từ danh xưng địa chủ".
Buổi đất Nga,
Nhơm nhớp máu tanh
Cuộc chiến ngụy danh "nhân dân vệ quốc"
Stalin cầm quyền vừa đủ bốn năm.
Gieo kiệt cùng cõi Âu-Á mênh mông
Khô thảo dã,
Cháy bình nguyên,
Hai mươi lăm triệu nông dân cắn răng vỡ tuyết.
Hợp tác hoá
Hơn nửa gia súc bị giết
Người giết trâu bò
Tự thân cắt đứt tay chân.
Săm sắp lớp lớp tù nhân
Chật chỗ hai trăm năm mươi ngàn nông xã.
Lúa gặt hai mươi lăm thùng
Thuế đóng hầu như tất cả
Thoi thóp nhà nhà
Góp nhặt thóc rơi qua từng ngày khốn khổ mùa đông.
Mỗi người,
Từng mỗi con người
Co quắp rét chết
Mắt chống ngược nhìn trời
Cầu hơi ấm chuyển vào xuân.
Nông dân: Bọn phản động,
Khẩn kíp giết đi!!
Chúng ta kiên trì vững bước tiến lên cách mạng.(*)
Cũng “cách mạng” bạn quyết tâm thực hiện.

Chuyện cũ kỷ trời xa
Ðây, thêm lần lập lại
1953,
Chuẩn bị Ðông- Xuân kịp tổng tấn công.
Bé đói lã run khấp đắp tàu chuối rũ
Cắn đất bùn,
Củ khoai ủng quắp queo
Tay nhỏ thả lơi tàn hơi kiệt sức.
Con địa chủ không cho quyền sở hữu
Ổ rơm, đôi đũa
Trả nợ cha ông từ thuở lên ba.

Cải cách ruộng đất
Miền Bắc sau "Một-chín năm-tư", 1954
Không có gì đổi khác...
Giết người cần chi súng đạn,
đào đất,
chôn sống,
hoàn tất công tác.
Sẵn - Bần nông.

Quả mìn đầu tiên nỗ đoạn ga Dầu Giây
Trãng Bom, Biên Hoà
không đem qua từ Mỹ.
Người ấp thượng Daksong mỗ toang phần bụng
chưa hề đi lính "ngụy quân".
Những máu, những xương
Rơi rớt lây lất oan khốc thôn xóm Miền Nam
Không dấu vết bất kỳ tập đoàn đế quốc
thực dân xâm lược.
Bạn ơi,
"Cách mạng" cần chi nhiều trận máu xương?!

Làm Thơ,
Vâng,
...Chân Thật - Công Bằng - Nhân Ðạo
Tuổi chúng ta không hề đi lính cho Tây.
Vẻ vang Ðiện Biên, thấm nhục đầu hàng trên
đồi Him Lam,
hoàn toàn không dự phần, góp mặt.
Và,
Cách mạng?
Hẳn thật mặt sau ba mươi năm chẳn.
"cách mạng",
Bạn lâu dài trưng dụng máu Nhân Dân.
Chúng ta,
Ðầu trần, chân đất
Ðường đi học thơm ngây lá khô, cỏ sắc
Trường lớp tạm ngưng
Trưng dụng chứa quan tài
nạn nhân chết nhầy đèo Hải Vân
tàu lửa oan khiên du kích giật mìn lật sấp.
Lệnh động viên,
Người thầy bỏ ngang phấn bảng
Bạn ơi,
Chiến công nào vinh quang
Ðồi Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Mã tấu, dao găm vằm chặt liên hồi
Thầy ta gào đau rẫy chết.
Thơ không đồng lõa lệnh sát nhân
Thi Sĩ bền lòng thiện tâm phủ nhận.

Tiếng hát "Xuống Ðường" Sài Gòn vỡ tung lồng ngực
Ðốt xe jeep Mỹ chạy qua Kỳ Ðồng
Man rợ chung phần lửa cháy đỏ Mậu Thân.
Ở Huế,
Tổng kết
Ðào lên
Những nấm mồ tập thể...
Người già, giáo dân nhiều hơn xác lính
Nơi chân Cầu Bạch Hổ
Thuở bạn làm Thơ.

Thơ phải lên tiếng hai lần Sự Thật.
Bạn ơi,
Không giấy bút
Ta khắc sâu vào óc
Ngôn ngữ không là lời lu loa còi cọc
"độc lập, hạnh phúc..."

Sứ Mệnh rộn rã TIM ta
THƠ sắc son hiện thực
Hơn ba mươi năm
Ðâu "công bằng?
Nào nhân đạo"?
Bạn ơi,
Thích Quảng Ðộ,
Tỉnh Thái Bình,
Thăm thẳm gào tiếng xé ngất...
TỰ DO.

(*) Lệnh tấn công tàn sát giai cấp nông dân Nga của Stalin
để thực hiện "Kế hoạch năm Năm 1930-1935".
(**) Chúng ta sống bằng máu người đã chết.
Người nối người dĩ vãng nối tương lai.
Nên khi chết tim nầy xin để lại
Anh mang đi khoảng trống lấp không đầy.
Thơ PDN, 1960.

IV- Tính Thật ở đâu? Sau khi tôi có phản ứng như trên đối với bài thơ cuả PDN và gởi bài viết đến tạp chí Hợp Lưu của Khánh Trường. Sỡ dĩ tôi chọn HL làm địa chỉ trao đổi vì hơn ai hết, Khánh Trường là người biết rõ mối giao tình giữa tôi và PDN; ông ấy và tôi lại có phần thân thiết của người một đơn vị, Tiểu Ðoàn 9 Dù, cũng là người đầu tiên đón tôi tại Cali, đưa về nhà trú ngụ, cùng dự những sinh hoạt, chung sở thích. Phải nói rõ ra những chi tiết kia để hiểu rằng khi đưa chuyện tôi lên mặt báo để nói về một điều uẩn khúc, hơn nữa, hôm viết bài báo về tôi, KT đang ở trong giai đoạn sức khoẻ suy yếu, thế nên, người bạn nầy quả đang phải làm một việc"không nói không được". Khánh Trường và tôi lại cùng có cách phóng khoáng của người lính, thì tình hình "nguy biến" từ bài viết của bản thân tôi phải là một sự việc không thể khỏa lấp, dung hòa. Qua bài viết chí tình, thành thật (như bản chất vốn sôi nổi, nồng nhiệt) KT muốn nhắn nhủ cùng tôi rằng:"Tôi phải công bằng với bạn (PDN) - Có nghĩa, trong cuộc phân định đúng, sai, tiếng lời, thái độ (chính trị) của PDN nằm về phía chân lý, sự thật". Ðến đây vấn đề không còn là câu chuyện riêng tư của hai người bạn văn với một thể tài văn học, nhưng đã là một chọn lựa, kết luận cuối cùng giữa hai bên biên giới bất khả khoan nhượng Quốc-Cộng; Dân Chủ- Ðộc Tài. Nếu tôi Sai- Toàn thể tai họa đảng cộng sản gây nên từ tháng 9, 1945 đồng được biện minh và hợp lý hóa với thắng lợi nơi ngày 30 tháng Tư, 1975. Nếu tôi Sai, những cái chết từ Nhượng Tống, Khái Hưng, Phạm Quỳnh... đến Từ Chung, Chu Tử, Trần Văn Tuyên, Hiếu Chân, Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường... (hạn chế với đối tượng người làm văn hóa, văn nghệ)... sau 1975 phải là "những trừng phạt xứng đáng đối với những kẻ tội đồ phản bội dân tộc". Nếu tôi Sai, những người hôm nay, Nguyễn Ðan Quế, Ðoàn Viết Hoạt, Trí Siêu, Tuệ Sĩ, những cao tăng, tu sĩ Thích Quảng Ðộ, Thích Huyền Quang, Linh Mục Trần Ðình Thủ... đồng phải lên hai lần giá chém mới xứng đáng những tội phạm "âm mưu lật đổ chính quyền, tay sai đế quốc, thành phần chống đối điên cuồng phản cách mạng". Nếu tôi Sai, 600.000 người chết trên đường di tản, những kẻ vừa nằm xuống mới đây nơi Xuân Lộc, Long Khánh, Trà Cổ, Thái Bình... Và cuối cùng, hai triệu người Việt Nam nơi hải ngoại, kể cả mấy chục ngàn người ra đi từ miền Bắc trước, sau 1975 theo kế hoạch "hợp tác lao động" sang các nước Ðông Aâu, nay trở thành một loại "tiện dân bất hợp pháp" nơi các nước sở tại... Tất cả phải xuống tàu về nước, đến xếp hàng trước lăng hồ chí minh để đập đầu, đấm ngực tự kết án về một tội nghiêm trọng, "bất xứng đối với tổ quốc, bởi bỏ trốn ra khỏi nước". Lẽ tất nhiên, cũng phải có mặt những người hiện nay đang phê phán chúng ta về một "mối tội" vì đã có "những tiếng lời nội dung thiếu sáng tạo văn học, không công bằng chính trị". Vâng - Nếu tôi ÐÚNG- Tất cả tội ác, tội phạm trên phải viết lại với một danh xưng, một thủ phạm duy nhất - Ðảng và Người Cộng Sản Việt Nam.

V- Nhà Văn là Ai? Viết gì? Tôi trình bày tiếp hiện tượng "phê phán" thứ hai. Cũng trên báo HL, một thời gian sau, khoảng giữa năm 1998, có bài viết phê bình văn học của Nguyễn Hưng Quốc. Người nầy phê bình, định giá một loạt những người viết văn ở Miền Nam trước 1975... “Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Tô Thùy Yên... (lẽ tất nhiên không thiếu ông, tôi) với nhận định như sau: "Những người viết của Miền Nam trước 1975, nay ra đến hải ngoại đã mất hết năng lực, không thể tiếp tục sáng tác. Từ hiện tượng cụ thể nầy, có thể quy ra kết luận rằng, những sáng tác trước đây thiếu phẩm tính văn học cao, thiếu sâu sắc, thiếu sức sống. Tóm lại, hãy vất bỏ tất cả (của quá khứ) qua hiện tượng bất lực, kém cỏi (từ hiện tại)”. Vâng, nếu đúng như vậy, thì chúng ta cũng có thể nói rằng: Hãy vất bỏ bà Hồ Xuân Hương, vì thơ “Quả Mít, Ðánh Ðu”... thiếu hẳn tính "sex" so với những cô nàng, làm thơ nói về “cái giống, chuyện làm tình”, thường xuyên đăng ở HL Nhưng dù sao, cũng cám ơn, tác giả NHQ nầy chưa đề nghị cho chúng ta những biện pháp tương tự như đám công an văn hoá ở Việt Nam thường áp dụng đối với những tay viết “không theo đúng đường lối” như đi học lớp "Bồi dưỡng chính trị", hoặc tu nghiệp ở “Trường dạy viết văn Nguyễn Du”, xong đi “công tác thực tế” ở các, công nông trường, như Nguyễn Tuân, Tô Hoài phải lên miền Tây-Bắc sau 1954, hoặc Nkhải “sáng tác tại hiện trường” nơi công trường cao su Dầu Tiếng, Hậu Nghĩa sau 1975, để viết được những tác phẩm "có nội dung và lời văn đạt mục đích và yêu cầu". Trước 1975, ở đâu nơi Miền Nam có những ông "cán bộ văn hoá" khắc nghiệt và quá độ nghiêm túc nầy? Và giá như ngày trình diện đi tù năm 1975, chúng ta có được "đánh giá vô hại" nầy làm bùa hộ thân, thì biết đâu đám cán bộ công an tuyên vận văn hoá có thể đã không nở xuống tay... Ông, 15 năm; tôi 14; Như Phong, Doãn Quốc Sỹ 13; Tô Thùy Yên 10; Hoàng Hải Thủy 8; các Huynh Trưởng Nguyễn Sỹ Tế, Mặc Thu, Hà Thượng Nhân, Lô-Răng... người ít nhất cũng 6, 7 năm; Trần Dạ Từ, Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân, Duy Lam... hoặc mạng vong hoặc chạm tới cửa tử (như Phương Triều với một màn “mỗ sống” với lưỡi lam, không thuốc mê, không cả thuốc tê, dưới dèn dầu) chỉ vì những lời thơ, giòng chữ; Duy Trác, Từ Công Phụng phải chịu cảnh kiên giam chỉ do bởi bản nhạc, tiếng hát; Hà Tường Cát, Vũ Ánh dài trận cùm xiềng chỉ vì những bản tin; Thụy Vũ, Nhã Ca, Lệ Hằng sống nên dạng, tơi tả kiệt cùng do từ những “tác phẩm sa đọa, đồi trụy, phản động”... mà thật sự không hề gây thiệt hại tinh thần, vật chất cho bất cứ ai.
Hãy chịu giùm chúng tôi một ngày của khoảng thời gian không hề hết kia?! Chữ nghĩa không dành riêng cho ai, cũng không ai giành của ai một “vị trí văn học” nào, và đâu là chuẩn mực của sáng tác phẩm?! Hết một đời người sống-viết cũng chưa đủ "tiêu chuẩn” để được nên xứng đáng gọi là nhà văn sao?! Ngồi yên lành một nơi kêu gọi, buộc người khác làm "cách mạng văn hóa, sáng tạo văn học" thì có gì khó khăn. Và không lẽ cuộc "cách mạng" nào cũng cần đến những phẩm vật hiến tế bằng chính thân phận con người sao?

Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ, và tin chắc rằng, ông, tôi và các bạn văn thuộc thế hệ “tiền 1975” vẫn yên tâm-Bởi chúng ta hằng sống-chiến đấu-viết như đã từ bốn mươi, ba mươi năm qua, giữa vũng tối, tận cái chết, chân mang cùm, mặt đối với khung đen vô tậïn của cửa phòng giam. Không ai chia cùng ta nỗi thống hận gớm ghê nầy. Không một ai.

VI- Bùi Tín, chỉ một nửa “mặt thật”. Cuối cùng, câu chuyện sau là một hiện thực về những đối nghịch bi-hài, diễn tiến, kết thúc mâu thuẩn của hằng hà xếp đặt vô thường nơi cuộc sống trần thế. Ngày 4 tháng 3, 1973, tôi là "người Nam Hà đầu tiên ra Bắc" (theo cách gọi của Ðỗ Ngọc Yến); ngày 29 tháng 5, 1988, tôi lại là "người Miền Nam cuối cùng rời trại tù đất Bắc". Hai chuyến đi cách xa mười lăm năm, bằng khoảng thời gian luân lạc của cô Kiều. Tuy nhiên, cho dù đã phải trải qua nghiệt cảnh đằng đẵng tận cùng thống khổ, trở về Miền Nam với thân phận người tù bị lưu đày trên quê hương, cổ tay mang cùm, cửa toa đóng kín (để tránh sự hăm dọa, phẫn nộ của nhân dân do còn "thù hận tội ác Mỹ -Ngụy", theo cách giải thích của viên cán bộ chỉ huy đoàn tàu chở tù), nhưng khi xe lửa qua cầu Hiền Lương, bắt đầu địa giới Miền Nam, qua Cổ Thành Quảng Trị hoang tàn, thấy lại quê hương Miền Trung điêu linh tang tóc chưa đủ sức hồi sinh dẫu chiến tranh đã mười lăm năm chấm dứt... Lòng tôi vẫn bừng bừng ngọn lửa tự tin bền bĩ - Chúng tôi là người đi đúng đường, cùng thở chung mạch sống với quê hương. Bởi "sự thật" không như lời viên cán bộ giải thích. Ðoàn tàu đến ga Ðà Nẵng vào trưa, đám đông nhào đến cửa toa, gào tiếng lớn đẫm nước mắt... Các anh ăn chi... các anh ăn chi... Sao giờ nầy các anh mới được đưa về, bánh đây... nước đây, chúng tôi không lấy tiền. Chúng tôi luôn nhớ các anh... Ðám đông định nhào lên toa xe, toán bộ đội áp tải nhớn nháo, lăm lăm súng. Tôi ngồi riêng một mình (cấp đại úy độc nhất còn lại từ trại tù Miền Bắc), mắt doanh tròng đẫm lệ bởi đã được thêm một lần xác chứng điều tưởng như nghịch lý- DẪU ÐÃ CÙNG ÐÀNH CHỊU BÓ TAY THẤT TRẬN NƠI CHIẾN ÐỊA, NHƯNG CHÚNG TÔI CHÍNH LÀ NGƯỜI LÍNH MONG ÐỢI CỦA DÂN TỘC VIỆT. PHẢI, CHÚNG TÔI CHỨ KHÔNG AI KHÁC, LÀ NGƯỜI THẮNG TRẬN CUỐI CÙNG- LẦN CHỌN LỰA CHÍNH NGHĨA- HIỆN THỰC TRONG LÒNG MỖI NGƯỜØI DÂN. Vấn đề đã một lần nói cùng Bùi Tín trên chuyến đi ra Bắc mười lăm năm trước.

Ðến sáng ngày 30 tháng Tư, 1975 tại Dinh Ðộc Lập, như một điều tất nhiên, Bùi Tín vẫn không hề tỏ ý định chấp nhận kết luận chung cuộc trên, trái lại đã có lời nhắn gởi qua Tú Gàn, Nguyễn Cần, "... Hãy về nói với Phan Nhật Nam, cuối cùng chúng tôi là kẻ thắng trận". Thật sự, anh ta muốn răng đe cùng tất cả những người cầm bút ở Miền Nam với tâm lý hãnh tiến của một kẻ vừa đoạt thắng mục tiêu trên thây xác đối thủ chung giòng máu, cùng màu da. Ðiều nầy không là vỏ đoán, vì bản thân Bùi Tín hằng bộc lộ rất nhiều lần qua cung cách”hạ mục vô nhân” suốt trong những kỳ họp báo ở Tân Sơn Nhất giai đoạn 1973-74, điển hình, cụ thể qua cuốn sách nhỏ “Sáu mươi ngày thi hành Hiệp Ðịnh Paris” ký tên Thành Tín, với những nội dung đại loại:“... Chấp hành nghiêm chỉnh nội dung và lời văn Hiệp Ðịnh Paris, thể hiện tinh thần Hoà Hợp và Hoà Giải Dân Tộc, Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam cực lực tố cáo những hoạt động quân sự nống lấn của phiá Việt Nam Cộng Hòa do chính phủ Mỹ hà hơi tiếp sức vi phạm Hiệp Ðịnh... “. Thái độ, tiếng lời của kẻ thâu đoạt toàn bộ “sự thật”, đồng thời giành quyền xử dụng bạo lực để bảo về “sự thật một phía” nầy.

Nhưng những tưởng, sau khi tỉnh cơn mê thiếp “Ðại thắng Mùa Xuân” từ 1975 đến thời đoạn thâïp niên 1980, 90 lần viết “Hoa Xuyên Tuyết, Mặt Thật”, Bùi Tín đã có cơ hội và hoàn cảnh để “phải điều chỉnh” về kết luận "nóng vội, duy ý chí" kể trên, nhưng, với "MMTK", hóa ra "chân lý" tối hậu sau đây vẫn luôn chính xác và tồn tại: "Sông có thể cạn, núi có thể mòn... Nhưng, người cộng sản (lại là Việt cộng) không bao giờ thay đổi!!". Ðây không là cách nói mĩa mai, vần vè theo khẩu hiệu, nhưng từ thực tiển đến luận lý, người cộng sản (lại là Việt cộng) quả thật là những tay bảo thủ kiên trì đáng sợ. Bảo thủ vốn đã là một tính chất không mấy tốt đẹp, huống gì cứ căm căm giữ chặt một điều quái gở, cực độ vô dụng, vô nghĩa lý (gọi là “chủ nghĩa cộng sản”) làm bùa yểm huyệt sinh tử thì quả là một hiện tượng tâm lý không bình thường nơi một sinh vật có đủ chức năng trí nảo gọi là con người. Tai họa thay, đây không là phản ứng riêng của một tên vô lại bá vơ nào đấy như gã treo cờ đỏ, ảnh hồ ở Cali trong tháng 2, 1999 vừa qua, mà là những con người, sốù đông những con người thuộc về một tập đoàn cầm quyền - và nhất định nắm chắc quyền lực như một thực thể tiên nhiệm, tự thân - Tập đoàn nầy do hồ chí minh, kẻ tội đồ gớm ghê nhất lịch sử loài người, (không chỉ riêng cho Dân Việt) xây dựng, tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo để nên thành. Và thành quả của “sự nghiệp khốc hại” nầy đã, đang là cái ách khổ nạn trầm kha đối với toàn thể Người Việt gần 50 năm qua. Và nay, chỉ còn hơn hai trăm ngày nữa sẽ chấm dứt một thế kỷ bão táp nhiễu nhương, nhân loại đang sửa soạn bước vào Thiên Niên Kỷ thứ Ba với hàng loạt quy mô cách mạng khoa học, kỹ thuật, ý hệ to lớn, nhưng ở Việt Nam, ách khổ nạn kia vẫn không có dấu hiệu bắt đầu cho một lần thay đổi. Dẫu rằng, tập đoàn cầm quyền ở Hà Nội đã trương nên khẩu hiệu chiến lược gọi là "đổi mới" từ sau đại hội đảng 1986, và một trong những kẻ phát ngôn - Người dụng văn tên gọi Bùi Tín - Nhân vật được nêu danh và tự đánh giá (qua một vụ đào thoát chính trị từ chức vụ “phó tổng biên tập báo Nhân Dân”, cơ quan ngôn luận trung ương của đảng cộng sản, có chức năng hành chánh như một bộ, nhưng với quyền lực chính trị lớn hơn gấp bội) là một "phản ảnh thuần chất, năng động của đường lối đổi mới, phê phán chế độ". Nhưng, hoá ra Bùi Tín vẫn còn nguyên và luôn duy trì "đặc chất" của một “đơn vị chính trị gọi là người cộng sản". Vì không những chỉ cương quyết bám chặt “sợi chỉ hồng xuyên suốt” để biện hộ cho tổ chức, phe nhóm và bản thân ở một thời đoạn đão lộn tất cả hệ thống luận lý, thành quả lịch sử của phong trào vô sản, thợ thuyền, nông dân thế giới, Bùi Tín còn “hào hiệp” hơn nữa, nhận lãnh thêm chức năng “đại diện cho toàn thể Người Việt” thực hiện sự lựa chọn “chọn Người Cộng Sản thay vì Người Quốc Gia”, sau khi đã đánh giá, phê điểm khối đông nhân dân nầy có được một tính chất khả dĩ gọi là “cẩn thận”, dù rằng họ đã hằng hà chịu đựng, trăm bề khốn nhục gây nên từ những “Người Cộng Sản”- Ðối tượng luôn xứng đáng với một danh xưng viết hoa trang trọng.

Khi làm công việc hệ trọng quyết định trên, Bùi Tín quên khuất (hay cố tình không kể tới) sự kiện, Người Việt đã nhiều lần chọn lựa tại những thời điểm trọng đại, tháng 8, 1945; tháng 7, 1954; Mùa Xuân 1968; tháng 1, 1973 và lần chọn lựa lớn lao triệt để nhất... Từ ngày 10 tháng 3, 1975, khi binh đội Bắc Việt tấn công cường tập Ban Mê Thuộc. Lần chọn lựa nầy không kết thúc với ngày 30 tháng 4, 1975, trái lại đang tiếp tục càng ngày càng gay gắt, quyết liệt đối với một khối dân đông đúc (không phải chỉ riêng "ngụy quân, nguỵ quyền, ngụy giáo, ngụy dân..." của Miền Nam, tập hợp nầy đã hoàn tất sự chọn lựa với đánh đổi ngay đến mạng sống, một đời tuổi trẻ của mình, mà biễu hiện sau cùng khởi đi từ Nam Cali, tháng 2, 1999 đang còn là một vấn đề thời sự mới mẻ, mà hiện tượng Người Việt toàn thế giới với Tuổi Trẻ Việt Nam lần đầu tích cực nhập cuộc đã trả lời về chọn lựa cuối cùng), đấy là quần thể rộng lớn nơi quê nhà với hơn bảy mươi triệu người Việt, bao gồm những thành viên lương đống hàng đầu của đảng cộng sản. Bùi Tín đang làm chức năng đại diện không giấy phép (hoặc một giấy phép bí mật nào đó) cho chính những người “phẫn nộ nổi loạn” nầy: Những Trần Ðộ, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu... Nhưng đây là vấn đề riêng giữa những người cộng sản, chúng tôi, “Người Quốc Gia”, Người Việt Miền Nam có vấn nạn riêng.

Từ lý do “bị Bùi Tín đại diện một cách hàm hồ không ủy nhiệm”, chúng tôi BẮT BUỘC phải nói về một nhân sự. Cũng cần nói rõ thêm một điều, qua ba mươi năm hành xử chức năng người viết văn, bản thân cá nhân đã quyết gìn giữ và thực hiện được nguyên tắc: “Không viết về, kể đến, nhận xét, phê phán nội dung, hình thức chữ nghiã của bất cứ ai, do có quan niệm - Quyền phê phán thuộc về người đọc”- Khối đông người đọc hằng có đủ bản lĩnh, khôn ngoan, tinh tế để kết luận, định giá và kết thúc sinh mạng văn hóa chính trị của bất cứ người cầm bút nào, cho đấy là một tác giả lớn với những tác phẩm quan trọng đến bao nhiêu. Nhưng hôm nay,bởi "MMTKø" đã tràn ngập những nội dung:”Tôi xin nói thật rằng, những người “quốc gia”chưa tạo nên “niềm tin” đối với đồng bào trong nước, tuy bị bộ máy tuyên truyền trong nước khống chế, điều kiện hoá, đã qua kinh nghiệm bản thân, hiểu được sự thật, chán ngấy với sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, nhưng bởi chưa thuyết phục được bởi những người “quốc gia”. Có người tuy biết rõ sự thật, hiểu tình hình đất nước, nếu phải lựa chọn, họ phải lựa chọn những người “Cộng Sản” hơn là người “Quốc Gia”, MMTK, Trang 291, NXB Ða Nguyên, 1998. Bỏ đi lối xỏ xiên so kè vặt vãnh hằng xuất hiện trên báo Nhân Dân, Hà Nội từ nhiều năm nay... Gọi tên người lãnh đạo, những cơ quan cầm quyền của khối không cộng sản, cho dù đấy là Ðức Giáo Hoàng Giáo Hội Công Giáo bằng những danh xưng cộc lốc, không viết hoa (hoặc viết hoa chỉ một nửa), như “giáo hoàng Pôn... tổng thống Ri-gân”. Qúy độc giả lưu ý, hai chữ “quốc gia” phần đầu đoạn văn viết theo lối chữ thường, chỉ “Quốc Gia” cuối cùng bởi phải đặt so sánh với “Cộng Sản” nên được một lần viết hoa!! Khi vạch ra những “tiên tiến tiểu xảo” nầy, chúng tôi không cố tâm soi bói về một vế viết, cách dùng chữ, nhưng bởi đã thấm đòn, sống cùng, chịu đựng nỗi lăng nhục ác độc dài lâu của người cộng sản, nên bản thân chúng tôi không nhìn sự kiện dưới dạng thức đơn giản, độc lập riêng của một câu, chữ trong cuốn sách, mà đã hiểu và phải hiểu ra rằng, tất cả từ ngữ, luận cứ trên đồng nằm trong một tổng thể: ÐÂY LÀ NHỮNG CHIẾC PHAO CỨU NẠN KHẨN CẤP CHO MỘT CHẾ ÐỘ ÐANG TRONG KỲ SUY THOÁI HẤP HỐI- Nói theo ngôn ngữ cộng sản, đây là thời kỳ “thoái trào cách mạng toàn diện bế tắc”. TÔI BẮT BUỘC PHẢI MỘT LẦN LÊN TIẾNG- Bởi, NẾU KÉO DÀI IM LẶNG ắt sẽ được (thật ra là “bị”) đánh giá nên thành sự “đồng thuận của người thuộc phe quốc gia”- Những “người quốc gia dễ bảo, dễ tin, cẩn thận và khôn ngoan” sẽ chọn lựa “Người Cộng Sản thay vì Người Quốc Gia” theo như “phân tích có tính cách chỉ đạo, giáo dục” của Bùi Tín qua một loạt “mặt thật một nửa” đã viết nên trong những cuốn sách xuất bản nơi hải ngoại ở những năm qua. Thế nên, dẫu muộn màng sau đến hơn phần tư thế kỷ, 26 năm, chúng tôi phải nhắc lại khẳng định của một lần trên chuyến bay ngày 4 tháng 3, năm 1973: PHẢI, CHÍNH CHÚNG TÔI, LỰC LƯỢNG QUỐC GIA DÂN CHỦ LÀ NHỮNG NGƯỜI THẮNG TRẬN CUỐI CÙNG.

VII- Việc thật thật cần phải nhắc lại. Chúng tôi cũng đã nhiều lần khẳng quyết từ những ngày rất lâu trước đây với trái tim trung trực hằng phẫn nộ đối với Dối Gạt-Aùc Ðộc: “ ...Những người của miền Bắc hãy giành những giòng nước mắt khóc vì một người già nằm xuống sau chặng đường gây tai họa vô vàn cho dân tộc, để khóc cho những cái chết không toàn thây, nơi gốc núi, ngoài bià rừng, khắp cùng thôn xóm làng mạc quê hương của những người chết trẻ oan khiên... Những người chết từng giờ dằng dặt hai miền Nam, Bắc” PNN, Dọc Ðường Số I, Ðại Ngã, Sàigòn 1969, Chương "Cái Chết của một Ông Già".

“...Xin ngã mũ chào người cộng sản miền Bắc, các anh đã hơn Liên Sô, các anh đã hơn Trung Cộng, một thành phố có sức sống cổ kính triền miên, mạnh mẽ như Hà Nội, chỉ sau hơn mười chín năm dưới tay các anh đã trở nên một thành phố "vô tính". Các anh đã thành công khi xoá sạch hết biên giới con người, không còn người già, người trẻ, không phân biệt thiếu nữ hay thanh niên, không chia loại trí thức hay lao động, không phân biệt trẻ con hay người lớn. Tất cả đã được đoàn ngũ hoá, hệ thống hoá, tổng hợp hoá và vô tính hóa... Con người muôn thuở cuả Hà Nội đã được " bạch hoá" đến cực độ chỉ sau mười chín năm tôi luyện!!”. PNN, Tù Binh và Hòa Bình, Hiện Ðại, Sàigòn 1974, Chương "Ði Bắc... Về Nam".

“... Và chúng ta, đừng bao giờ, dù chỉ một lần (một lần thôi quá đủ), tin một người cộng sản (lại là Việt cộng) trên tư cách, giá trị riêng cuả người ấy. Ðừng đối xử họ như một con người với tất cả ưu, khuyết điểm như hằng có của người... Bởi họ đã hoàn toàn "tan biến và vô tính hoá" trong tổ chức cuả họ”. PNN, Mùa Ðông Giữ Lửa, Tác Giả xuất bản, Houston, TX 1996, Chương "Nhìn Rõ Ðịch Tình"

Những giòng chữ viết suốt 30 năm như trên phải chăng do, từ mục đích yêu cầu "chống cộng điên cuồng một kẻ tay sai đế quốc thực dân, tư bản". Hẳn hoàn toàn không phải thế, bởi nếu có một định nghiã thuần thành và chính xác nhất về "người vô sản", chắc chắn bản thân cá nhân sẽ là và phải là thành phần "vô sản chính thống" ấy. Và như đã là một lần khẳng định khi đang trong tuổi 20... "Cuối cùng, chỉ là chúng tôi, những người chống cộng cuối cùng, vô vàn cay đắng. Chống cộng vì không thể là cộng sản, vì đã ở về một "phiá đối lập với tội ác và dối gạt".... Trên dại dương mênh mông của bờ biển Bắc phần, chiếc mảng nhỏ gồm những thân tre ghép lại, nhóm dân áo đen rách gồm cả đàn bà và trẻ con, ra sức chèo trong đêm về hướng đông- Hướng mặt trời- đợi ngày tới để được đoàn tàu đi về Nam... Ði về Nam-Tìm Tự Do- Tôi đã đi đúng đường- Dẫu là lối cùng đường với những người được Chết - Tự Do " .

Cuối cùng, qua những xác chứng trên, cũng có thể đặt ra vấn đề: “Phải chăng đấy chỉ là giòng chữ viết nên do từ cảm tính, bởi nhu cầu, phản ứng của người viết văn trước những tình thế quá độ”. Thưa, hoàn toàn không phải thế, bởi sau đây là những luận cứ từ thực tế lịch sử rọïi chiếu. Lịch sử của một thời đại sa đọa chính trị đáng nguyền rủa với quá trình sinh hoạt dài lâu của xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng - Thời đại thắng thế của Bạo Lực và Sự Aùc trên lương tri, lương năng con người với những sự kiện được “cả loài người tiến bộ hoan nghênh”: Tên Lê-Nin được đặt cho một “giải thưởng hoà bình”; Lê Ðức Thọ, bí thư chiến dịch hồ chí minh- chiến dịch đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực- Người “tổ chức, xây dụng nghị quyết 21 Trung Ương đảng, để chuyển thành, “Mệnh lệnh đánh trả 15 tháng 10, 1973 Trung ương cục Miền Nam: Ðánh lấy miếng, không đánh gây tiếng. Xử dụng ba thứ quân (chính quy, du kích, địa phương), chủ động trên ba mặt trận (quân sự chính trị, ngoại giao), đánh trên ba vùng(rừng núi, nông thôn, thành thị) để củng cố vùng giải phóng, tranh thủ vùng xôi đậu, ung thối vùng địch, đánh rã từng bộ phận, giành thắng lợi từng phần”. Cũng chính y, kẻ được Uûỷ Ban Nobel chia đồng “giải hoà bình” với Kissinger!!

Thế nên, chúng ta cần nói rõ thêm một lần (hay phải đến bao nhiêu lần mới đủ) những lầm lẫn căn bản từ lý thuyết hoang tưởng đến hiện thực ác độc của quá trình tồi tệ gọi là “xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” đã, đang xẩy ra nơi quê nhà do từ những “người cộng sản” mà Bùi Tín “bày hàng“ ra để Dân Việt chọn lựa với “cẩn thận và khôn ngoan”, dẫu đã thấm đòn đau, sống nên dạng, chết không yên nấm mồ khi người cộng sản thực hiện “tư tưởng hồ chí minh”- Viên đá tảng của toàn bộ những gì gọi là “ Mặt Thật, Hoa Xuyên Tuyết” và nay “Mây Mù Thế Kỷ”. Bởi, tình hình “mù đặc” của đất nước trong thế kỷ nầy theo ý Bùi Tín, không có nguyên do chính yếu nào ngoài lý do: “ ...Cũng cần chỉ rõ lời ngụỵ biện của “họ”-(những đảng viên cộng sản không ăn cánh với tập đoàn, cá nhân Bùi Tín, hiện nay đang cầm đầu ở Việt Nam) - là ngược lại “tư tưởûng hồ chí minh”. Chính ông hồ chứ không ai khác đã mở đầu Tuyên Ngôn Ðộc Lập - 2-9-1945 bằng những lời trích từ văn kiện của cách mạng tư sản Pháp và cách mạng tư sản Hoa Kỳ, hai cuộc cách mạng rất xa lạ với Châu Á, khẳng định quyền sống trong tự do của mọi dân tộc, của mọi con người”. Trang 259, MMTK. ÐN, 1998. Tốt lành quá, chúng ta hãy xem xét xuất xứ và hậu quả tác hại của “tư tưởng quái gở, cùng kiệt” nầy.

VIII- Từ Lịch Sử. Trong cơn say kích động sau chiến thắng cưỡng đoạt 7 tháng 11, 1917, Lê-nin hướng về Châu Âu buông lời nguyền sắc máu:“...Rồi đây lực lượng công nhân tiến bộ ở các nướùc tư bản sẽ đứng lên với khí thế mạnh mẽ gấp bội để hoàn tất cuộc cách mạng mà giai cấp công nhân Nga sô-viết đã thành công bước đầu, báo hiệu “đêm hôm trước bình minh cách mạng xã hội chủ nghĩa”đang đến gần”. Và tổ chức giai cấp công nhân được Lê-nin đánh giá cao, tiến bộ nhất Châu Âu thời buổi ấy là lực lượng thợ thuyền Ðức với những đồng chí chiến đấu xuất sắc Karl Liepknecht, Rosa Luxemburg. Ngày 6 Tháng 1, 1919, các “đồng chí chiến đấu, cộng sản Ðức- Spartacist” xuống đường, chiếm lĩnh, thành lập những khu sô- viết ở vùng Bavaria, Rhineland, Hamburg, Ruhr và cuộc chiến trong đường phố bùng nổ ngay giữa thủ đô Berlin đáp lời kêu gọi của Lê-nin từ cuộc cách mạng Tháng 10 Nga. Cuộc nổi dậy của “giai cấp công nhân tiến bộ, được tổ chức cao nhất Châu Âu” theo kỳ vọng của Lê Nin bị dập tắt chỉ trong vòng một tháng, các lãnh tụ K. Liepknecht, R. Luxemburg bị giết trên đường đi đến nhà giam. Thành phần đối mặt với “chiến sĩ cộng sản Ðức” trên trận địa đường phố Berlin là là những ai? Chẳng ai đâu xa lạ... Cũng chỉ là những “chiến sĩ cách mạng” của Ðảng Xã Hội Ðức và những người lính từ chiến địa trở về - Những người con ưu tú của giai cấp thợ thuyền Ðức!! Và khi “đồng chí chiến đấu, cộng sản Ðức” những ngã chết trên đường phố Hamburg, Berlin để xiễn dương cho một mô thức Nga sô-viết bền vững, thì những người Nga sô-viết lại đang hân hoan cùng thắng lợi vừa thâu đoạt từ “Hiệp Ước Bất Tương Xâm” ký ngày 3 tháng 3 một năm trước,1918, với tập đoàn “phản động tư bản Ðức”-Lực lượng đàn áp không nương tay cuộc khởi nghĩa dậy non do đảng cộng sản Ðức chủ động. Vấn đề như thế là thế nào?! Hãy nghe Lê-nin (cũng chính là Lê-nin chứ không ai khác) biện minh và giải thích hành động của mình khi quyết định ký Hiệp Ước Brest-Liptov: “Tổ chức là tất cả. Phong trào công nhân không là gì cả”. Và không những chỉ để mặc “người đồng chí anh em” bị phe tư bản hành hình, Lê-nin cũng không hề động tâm về mối đê nhục quốc gia áp đặt do từ những điều khoảng của hiệp định, thực chất chỉ là một bản văn “bán nước”, theo định nghĩa cụ thể nhất: Nhường cho Ðức giải đất mênh mông phía Tây, Tây- Bắc gồm Ba Lan, các nước vùng bể Baltic, cũng có nghĩa Ukraine lẫn Phần Lan đồng bị đặt dưới quyền kiểm soát của Ðức. Chưa hết, Nga sô-viết còn chấp thuận trả hết phí tổn, bồi thường chiến tranh bằng tổng sản lượng 80% quặng mõ và kim loại sắt, thép, đồng thời gom góp hết phần trữ kim của ngân khố để trả giá cho “cam kết bất tương xâm” của người Ðức nơi mặt trận phía Tây. Hiệp ước bất bình đẳng, vô lý nầy đã bị chính Trostky cực lực phản đối, cùng những tổ chức cách mạng khác như lực lượng Cách Mạng Xã Hội Cánh Hữu của Savinkov phản đối toàn diện. Nhưng bất chấp tất cả, Lê-nin đã nại đến mọi nguyên cớ và biện pháp (kể cả chước dọa “từ chức”), để tập trung sức lực Hồng quân và lực lượng thợ thuyền Nga vào một mục đích: Củng cố quyền lực nhà nước vô sản trước các cuộc tấn công sắp tới của phe Bạch vệ, Denikin, Kolchak, Wrangel đang trên đường tiến về Moscow và Petrograd. Ông ta chỉ cần đứng vững trước kẻ “nội thù”, dù cũng biết ra rằng người Ðức đang trên đà thất trận. Ngày 28 tháng 6, ba tháng sau Hiệp Ước Brest- Liptov, Ðức ký Hoà Ước Versaille đầu hàng đồng minh Tây Âu.

IX-Cái gọi là “tư tưởng hồ chí minh”. Bài học “dối dân, bán nước” từ người thầy Lê-nin được một kẻ học trò xuất sắc thâu nhận và áp dụng “nhuần nhuyễn sáng tạo như một sợi chỉ hồng xuyên suốt”. Chúng ta hãy xem “tư tưởng hồ chí minh” hiện thực qua hành động như thế nào.

Hai trăm ngàn quân Tàu vào đất Việt sau ngày Nhật đầu hàng Mỹ ở mặt trận Châu Á-Thái Bình Dương (15 tháng 8, 1945), không làm cho Hồ quan tâm lo lắng bằng mấy trăm cây súng của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Vũ Hồng Khanh và lực lượng quân sự của Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội, Nguyễân Hải Thần, những hậu thân của Khởi Nghĩa Yên Bái, 1930; Việt Nam Phục Quốc Quân, Việt Nam Kiến Quốc Quân... Những tổ chức cách mạng có chiều dài chiến đấu, lẫn bề dày uy tín từ các vị minh chủ lãnh đạo, Phan Bội Châu, Cường Ðể, Trần Trung Lập... Sự lo lắng của Hồ xác chứng, “thực lực quân sự dưới quyền chỉ huy của bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp” chỉ là một đám quân ô hợp, không vũ khí, gồm một đội “vũ trang tuyên truyền”, quân số không quá một đại đội bộ binh thành lập vội vàng từ 22 tháng 12, 1944. Mối lo sợ của Hồ cũng bày ra phần dối gạt về phương diện chính trị- bởi, tổ chức đảng lấy “giai cấp công nhân” làm thành phần chủ đạo chiến lược thành hình từ 3 tháng 2, 1930 kia thực tế là một “đơn vị khủng bố, chuyên nghiệp vụ ám sát” các nhân vật lãnh đạo những đoàn thể quốc gia, hơn là đấu tranh chính trị cùng đối thủ, thực dân Pháp hay quân phiệt Nhật. Cũng bởi một điều rất giản dị: Lấy đâu ra một “giai cấp công nhân giác ngộ cách mạng vô sản” nơi một nước nông nghiệp thuộâc địa chỉ với tổng số 2500 thợ, bao gồm những nông dân bị “thất nghiệp mùa”” phải tiến ra thành phố kiếm việc làm chân tay không chuyên môn. Tuy nhiên, Hồ không hề chậm chạp trong thủ đoạn tranh đoạt, kiến tạo quyền lực... “Tuần Lễ Vàng” được mở ra từ 16 đến 22 tháng 9, 1945 với lời kêu gọi của chính phủ cách mạng, “mua vũ khí giữ gìn độc lập dân tộc!!”. Người Việt, những người Việt giản dị và chân thật nhưng không kém phần hào hiệp, hy sinh, dốc hết túi tài sản nhỏ bé, khiêm nhường của mình để “cụ Hồ mua súng giữ nước”. Kết quả vượt khỏi mức dự tính: Hơn tám trăm cân vàng và hai chục triệu đồng tiền Ðông Dương. Hồ đem hết khối lượng giá máu của toàn dân tộc nầy trao tặng, mua thuốc phiện và trả lương, nuôi ăn lính Lư Hán. Tại văn phòng Phủ Chủ Tịch, Hà Nội, mỗi ngày, Hồ để dành một lon gạo để “cứu đói cho dân!!”-Sự bịp bợm nhẫn tâm không loại trừ đến cả việc lợi dụng xác thân người dân chết đói!! Bù lại, Lư Hán làm ngơ để mặc Hồ mật lệnh cho thủ hạ thanh toán các lãnh tụ, cán bộ quốc gia, cũng là đồng chí kháng Nhật của họ ở những năm trước... Khái Hưng, Nhượng Tống, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp, Lý Ðông A, Trương Ðình Chi... ở Bắc Việt; Phạm Quỳnh, Ngô Ðình Khôi ở Huế; Tạ Thu thâu ở Quảng Ngãi; Trương Tử Anh ở Phú Yên; Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm... ở Nam bộ và biết bao cán bộ cơ sở của các tổ chức cách mạng quốc gia đồng lần bị thanh toán trong khoảng thời gian gấp rút của hai năm 1945, 46 khi người cộng sản củng cố quyền lực.

Ðến một lúc, đầu năm 1946, khi Hồ qua được giai đoạn thập tử nhất sinh, do đã loại trừ hầu như gần hết các đối thủ chính trị thuộc các đảng phái quốc gia và cũng quá mệt mõi với đòi hỏi vô độ từ quan viên tướng Tầu, hơn thế nữa, Hồ đã có quá đủ kinh nghiệm với người Trung Hoa, cho dẫu Tàu vàng hay Tàu đỏ. Ông ta tâm sự với những đồng chí thân cận: “... Các chú đừng có điên!! Các chú không biết Tàu nó ở lại thì như thế nào sao? Các chú không nhớ bài học lịch sử sao, lần cuối cùng, Tàu nó sang đây, nó ở lại đến cả ngàn năm! Tôi thà ngửi “cứt Tây” năm, ba năm còn hơn hít “cứt Tàu” đến trọn đời!!”. Có thêm một điều Hồ không tiện nói ra, nếu có một cuộc sống mái giữa các lực lượng quân sự Quốc-Cộng, đạo quân của viên “đại tướng, bộ trưởng quốc phòng chuyên mặc veston cà-vạt” (cách ăn diện quê kệch được Giáp rất đắc ý) đi duyệt binh kia ắt phải tan vỡ ngay vì chúng không thể nào đương cự với những sư đoàn (các đơn vị Nam bộ) đã quen trận mạc từ thời Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng 11, 1940 hoặc binh đội của Trần Phước An, Trần Trung Lập, Vũ Hồng Khanh đã đánh chiếm Lạng Sơn, Cao Bằng từ những năm đầu thập kỷ 40.

Ðể cứu lấy sinh mệnh chính trị, tổ chức quân sự của mình, Hồ chọn biện pháp “mượn dao giết người”- Thuận để quân đội Pháp vượt vĩ tuyến 16, đổ bộ Hải Phòng, vào Hà Nội, thay thế quân Tàu chiếm đóng những vị trí xung yếu ở đất Bắc. Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3, 1946 được ký kết mau chóng. Giáp lại được mặc veston, đội mũ phớt bắt tay Leclerc, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Ðông Dương dịp Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Bù trừ việc “mất mặt” nhượng cho quân Pháp trở lại Bắc Việt, Hồ kỳ kèo với Leclerc để thâu đoạt một “thắng lợi to lớn”- xe nhà binh Pháp khi di chuyển có trương thêm cờ Việt Minh. Hồ cũng biết cách đáp lễ để chào đón viên Cao Ủy Cộng Hoà Pháp tại Ðông Dương, khi Ðô Ðốc Thierry D’Argenlieu đến thăm thú Hà Nội- Ra lệnh dân chúng treo cờ mừng “ngày sinh 19 tháng 5 của Hồ chủ tịch”. Phận nước, máu dân còn đem đổi chác huống gì bày đặt thêm một ngày sinh vô nghĩa tùy nghi.

Nhưng thuận để Pháp đổ quân lên đất Bắc, rút quân Tàu đi cốt dẹp mối lo lâu dài về việc các đảng phái quốc gia lấn lướt, vị thế Hồ vẫn chưa được ổn định, bởi cái chính phủ gọi là “Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” kia chưa hề được hợp thức hóa của bất cứ chính quyền quốc gia nào, cho dù đấy là đàn anh Nga sô-viết. Bởi, điều khoản quan trọng nhất của Hiệp Ðịnh 6 tháng 3 với Sainteny cũng chỉ là một định nghĩa vô dụng, “Việt Nam là một Quốc Gia Tự Do (Free State) có Chính Phủ và Nghị Viện riêng, thành viên của Liên Bang Ðông Dương trong khối Liên Hiệp Pháp”, và vấn đề của Nam Kỳ không bao gồm trong định nghĩa nầy, về một Quốc Gia thống nhất tên gọi Việt Nam. Bởi không thể có một biện pháp tốt cho một vấn đề đã vốn xấu, nên Hội Nghị Hiệp Thương Ðà Lạt khai diễn ngày 18 tháng 4 không thể nào giải quyết được những vấn đề nêu từ Hiệp Ðịnh Sơ Bộ. Ngày 31 tháng 5, 1946, Hồ đi Pháp với đám tùy tùng do Phạm Văn Ðồng làm trưởng đoàn thương thuyết. Người Pháp, từ thắng lợi của sau thế chiến, không nôn nóng và cũng không biï ràng buộc với Hiệp Ðịnh 6 tháng 3, trưởng phái đoàn Pháp Max André lập lại những điều khoản không thể chấp thuận được từ hội nghị Ðà Lạt. Thông cáo chung ngày 12 tháng 9 là một thất bại toàn diện đối với phái đoàn Phạm Văn Ðồng. Max André nói thẳng thừng, “...Chỉ có vài nhượng bộ về kinh tế, tài chánh mà thôi.Nếu không nhận thì cứ về đi”. Hồ kêu lên cùng Sainteny: “Các ông chớ đối xử với tôi theo cách nầy, tôi không thể trở về với tay không, hãy cho tôi một khí giới gì để chống với bọn người ở đấy (Hà Nội) đang rình chờ truất phế tôi...” Cuối cùng, nửa đêm 14 tháng 9, 1946 Hồ đến gõ cửa phòng ngủ nhà Marius Moutet, Bộ Trưởng Thuộc Ðịa Hải Ngoại, một Tạm Ước (Modus Vivendi) được ký kết cấp thời, qua đó Hồ nhượng bộ cho Pháp tất cả đòi hỏi, để có được hai “lời hứa”: 1/ Sẽ tổ chức một cuộc Trưng Cầu Dân Ýù về vấn đề Nam Kỳ. 2/ Tái xét lại việc hai bên tiếp tục thương thảo, tháng Giêng năm 1947 là chậm nhất. Ngày 19 tháng 12, mặt trận kháng chiến toàn quốc bùng nỗ. Toàn bộ cơ quan đầu não đảng cộng sản đã ở chốn an toàn nơi chiến khu Việt Bắc, để trống những mặt trận nguy nan nhất cho Dân Quân Tự Vệ thành phố suốt từ Bắc chí Nam. Chắc chắn một điều: Những Chiến Sĩ thuộc Trung Ðoàn Thủ Ðô ôm bom lao vào xe xích sắt Pháp nơi dường phố Hà Nội những ngày Tháng 12 năm 1946 kia KHÔNG HỀ LÀ ÐẢNG VIÊN ÐẢNG CỘNG SẢN, QUYẾT TỬ ÐỂ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI. 

Cuộc chiến kéo dài chín năm dẫn đến hậu quả: Ðất nước bị chia đôi bởi Hiệp Ðịnh Genève cũng do Pháp và người cộng sản ký kết, 20 tháng 7, 1954, và phải chịu đến 21 năm sau mới thống nhất với giá máu, mà chỉ tính đến 1973, sau Hiệp Ðịnh Paris, tổng kết tổn thất cũng đã tới những con số đáng sợ: Miền Nam chết 183. 528 lính, bị thương nặng 499.026; Miền Bắc và lính Mặt Trận vong mạng 924.048, chưa kể đến số lượng 415.000 thường dân Miền Nam tử thương và 935.000 bị thương trận (Số liệu Year Book 1974, NXB Grôlier, Canada). Ðêm Giao Thừa Mậu Thân, Tết 1967 sang 1968, Hồ đọc bốn câu “Thơ Chúc Tết” trên đài Hà Nội:“Xuân nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua dánh giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Bài thơ bốn câu hai mươi tám chữ đọc lên không quá mấy phút, tính đến cuối tháng Ba 1968, dẫn ngay tới một kết quả: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chết và bị thương 20.977; Ðồng Minh tử thương 4124; riêng về dân chúng Miền Nam chịu một tổn thất gồm 14.300 chết, bị thương 24.000, và 627.000 người mất sạch nhà cửa, tài sản ( Khối Quân Sử/ BTTM/QLVNCH). Người cộng sản cũng không hề nhắc lại (do không hay biết, hoặc không muốn biết), phiá họ thiệt hại đến 67.834 người gồm chết, bị thương và bị bắt. Thế nên, họ có thể đã có phần thành thực khi nói về 170 xác chết bị chôn sống sau lưng trường học Gia Hội Huế (một trong hai mươi vị trí mộ tập thể), chỉ là những “thiểu số” không đáng kể bởi so sánh với tổn thất gần bảy mươi vạn người mạng vong, thương tật kia chăng?! Ðáng sợ thay, chỉ một quá trình vài phút khi hiện thực hai mươi tám chữ ngắn ngủi của cái gọi là ”tư tưởng hồ chí minh”.

X-Kết Từ .

Ông Th Trg thân,

Tôi bắt đầu bài viết nầy từ cuối tháng Ba, với phản ứng phiền nhiễu nặng nặng trong lòng do “mặc cảm có tội vì được sống sót, chữ viết ra thấy cũng vô ích”- Cảm giác có thật khi từ Pleiku theo đoàn di tản về đến Tuy Hoà, bám trực thăng vào Nha Trang. Ðêm Mùa Phục Sinh, tháng Ba 1975, bãi biển chập chờn thấp thoáng những cụm người tỵ nạn lẫn tiếng than gầm ghìm chen sóng biển đỏ màu máu dưới trăng. Bài viết kéo dài qua hết tháng Tư, nỗi não nề kia càng thêm đậm sắc, lại phải đề cập đến người và việc mà thật tâm chỉ muốn vất đi. Khổ thay, phần im lặng lại bị suy diễn như một cách đồng thuận và những người lính từ lâu không nói lại bị nêu ra như chứng cớ về sự hoà hợp để hợp lý hoá cho Tội Aùc. Tuy nhiên, cũng như lần chia tay nơi tận sâu hoạn nạn, khổ nhục, mà chỉ một biên giới cực nhỏ cuối cùng sẽ bước qua bên cảnh chết. Ông với tôi vẫn luôn duy trì hy vọng và giữ chặt cây bút với cực độ tự tin - Công việc mà chúng ta hằng thực hiện mấy mươi năm qua. Cũng sắp hết một đời người với chừng ấy việc mà thôi- Việc của Người Lính cầm bút viết thành văn.

Nhân “ngày sinh không thật của sự chết có thật”.
 

19 tháng 5, 1999
phan nhật nam
Trang bìa
Ðầu trang