Gởi
Người Bạn Lính - Viết Văn
Ông Th Trg
thân,
(Lời cẩn chú của
người viết: Những danh xưng trong ngoặc kép nếu không phải
viết hoa vì do quan điểm, đó không là “danh từ riêng
để nói về một con người”, nhưng là danh tự chỉ
một “tai họa chung”, không riêng cho mỗi cá
nhân, một tập thể, nhưng toàn Dân Tộc Khổ Nạn gọi là
Người Việt Nam, người sống lẫn người chết, cũng không
loại trừ những đối tượng gọi là “đảng viên
Ðảng Cộng Sản”.
I-Dẫn Nhập. Sau
đây là câu chuyện có xuất phát từ những tiểu phẩm phê
bình, thơ, tạp bút văn học và một cuốn sách nhận định
về người và việc chính trị, quân sự, (thật rối rắm
nếu như ông và tôi phải viết cho nhau lên báo về những
điều gọi là thơ, phú, chữ nghĩa luận lý nầy), nhưng vì
tôi phải dọn nhà thêm một lần nữa (không biết là mấy
lần rồi) sau năm năm ở Mỹ, địa chỉ ông lại bị lạc
đâu mất... Nên tôi mượn báo các bác dưới Cali, cùng bạn
bè bốn phương gởi bài viết nầy đến ông (nếu may ra không
bị bỏ đâu đó), để nói rõ ra câu chuyện sắp kể ra dưới
đây. Cũng bởi, hôm tháng 7, 1997, ở Orange County, CA ông đã
bênh vực tôi vì điều:"Viết như thế nào để được
xứng đáng là "nhà văn chân thật?". Xưa nay, hơn ba mươi
năm qua, ông và tôi cũng khá đậm ân tình, dù có giai đoạn
cách xa mất bặt lâu dài, nhưng có những lúc nguy nan, cận
kề hơn thân thích ruột thịt... Ông chia cho tôi điếu thuốc
chống rét dưới chân đèo "tắt thở", xã Việt Hồng, Hoàng
Liên Sơn, mùa đông năm 1976; tôi khiêng ông qua cầu sinh tử,
trại Z 30D, cuối năm 1988, đoạn đường ông "thật chết"
hơn là còn sống với bộ não vỡ hồng cầu máu đến lượng
cuối cùng. Thế nên, câu chuyện sau đây chắc hẳn không còn
"tính thật" nào khác hơn cảnh đời của ông và tôi đã đi
qua và cũng đang sắp hết.
II- Ai “ác” hơn
Ai. Nội dung câu chuyện có điểm cụ thể như thế nầy:
Chưa hề ai trong đám viết lách ở Sài Gòn, Miền Nam trước
kia, hoặc hải ngoại như bây giờ đòi "phanh thây, uống
máu quân thù...", cũng không ai trong chúng ta có lời trì
siết, mắng mỏ người cầm bút ngoài Bắc, trong khu là "bọn
rắn độc, thằng nguỵ kia, tên phản động, tay sai nọ",
như cách chưởi “xách mé” đặc trưng của những tay danh
sĩ Bắc Hà, THoài, CLViên, TTÐÐàn, NKhải, DThHương... hoặc
"ví von dạy dỗ” kiểu Huế của HpnTường, đối với đám
người khốn khổ sau 30 tháng Tư, 1975 khi tập trung ở "Trung
tâm bồi dưỡng chính trị" đường Nguyễn Du Sài Gòn, hoặc
ở các kỳ "lên lớp học tập" nơi trại tập trung như ông
và tôi đã phải chịu đựng. Cũng không ai trong chúng ta, những
người mặt áo lính, một lần đặt vấn đề "Ai hơn Ai"
với đám cán bộ, bộ đội
nón cối dép râu ở ngoài Bắc
vào, hoặc quấn khăn rằn, mũ tai bèo trong bưng ra. "Ai hơn
Ai", thì người, việc và sự thật lịch sử đã nói đủ,
hà tất phải bàn thêm. Hôm nay, Tháng Tư hai mươi bốn năm
sau ngày mất Miền Nam, bảy thế hệ người Việt, những người
sinh từ những thập niên 20, 30... đến 70, 80, ắt hẳn đã
tự xác chứng đủ và đúng "thế nào, cái gì là đảng
và người cộng sản Việt Nam?", kể cả những người
đã và đang là đảng viên của tổ chức khốc hại ấy. Ðây
không là nhận định từ những cá nhân đơn lẻ về một
đối tượng, phong trào theo cảm tính riêng tư, nhưng là kết
luận chung nhất của tập thể dân tộc, trong đó mỗi người
tự khổ đau, sự chết đã nhận định, chọn lựa để nên
thành. Cũng không phải chỉ riêng hai triệu người Việt đã
hiện thực quyết định chọn lựa bi tráng cao thượng nầy
với trị giá 600.000 mạng vong trên đường di tản kể từ
thời điểm kia, nhưng hôm nay là những người đã một lần
"kéo pháo lên đồi Hồng Cúm, Him Lam trong chiến dịch Ðiện
Biên 1954", hay "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"
ở những năm 60, 70. Lực lượng nầy càng ngày càng đông,
không riêng nơi miền Nam mà khắp cả nước với những người
thuần thành là cán bộ cộng sản- Cán bộ cấp lãnh đạo
- Tập đoàn đã dựng nên kỳ tích “đánh thắng hai đế
quốc sừng sõ của nhân loại" để đưa Việt Nam nên thành
một nước thuộc hạng nghèo đứng thứ tư thế giới nếu
kể từ dưới trở lên. Ðến nay, chính những người nầy
đặt vấn đề với nhau do tranh đoạt và xử dụng hậu quả
về “thành tích” của họ.
Sỡ dĩ tôi phải nại
đến nhiều người với dẫn chứng nhiều việc như trên để
xác nhận lại một điều tưởng như bình thường mà ông
và tôi luôn gìn giữ, thực hiện qua đời dài tận sống
và thực viết với khốn nhục trăm bề (hoá ra ông với
tôi là hai sĩ quan cấp nhỏ nhất, cho dù cấp bậc ông là
thiếu tá, và cũng ở tù lâu nhất) - Ðiều ấy là, (tôi mượn
tiếng lời Võ Phiến) - Chúng ta là những Người Lính can
trường. Chúng ta là những người Viết Văn chân thật.
Và chúng ta cũng không hề có chữ nghiã khinh thị, thái độ
bất công với những người "phía bên kia", mà quả tình,
giờ nầy, không còn ở "phía" nào khác ngoài hai phía:
Một bên, những kẻ cầm quyền và tập đoàn gây tai họa
vô lường và bên kia khối dân bảy mươi bảy triệu
người chịu đựng cơn quẫn bách suy kiệt trầm kha không
cơ may giải cứu. Và hôm nay, sắp bắt đầu thiên niên
kỷ thứ ba, khối đông khổ nạn hơn bảy mươi triệu người
nầy cũng chỉ có những “trang bị tinh thần" đại
loại như những khẩu hiệu, "Bác Hồ sống mãi trong sự
nghiệp chúng ta" hoặc "Sống-Chiến đấu-Học tập theo
gương bác Hồ vĩ đại"- Cái "sự nghiệp" mà thiểu
số lãnh đạo nhất định bắt tuyệt đại đa số phải”làm
chủ” bằng cách thực hiệu theo nhịp trống "xuống
đồng tiến công" dẫn đầu bởi một lá cờ đỏ. Tập
đoàn cầm quyền kia thật ra biết rõ hơn ai sự khắc nghiệt
ác độc vô lường nầy, nhưng do cách sa đọa của những
kẻ lậm quyền kinh niên không cho phép họ có được chút
nhỏ liêm sĩ để nói, làm khác đi. Ðám "văn công, văn lại",
những "kẻ dụng văn" theo lệnh ban Tuyên huấn trung ương Hà
Nội cũng không có tiếng lời nào khác ngoài việc trưng lên
một điều quái gở gọi là “tư tưởng hồ chí minh".
Xin được nói lại thêm một lần, tôi không viết hoa cụm
từ nầy vì đây “không là tên thật về một con người”,
nhưng là chỉ danh về một tai họa, và cũng do quan điểm,
đấy là điều quái đản vô nghiã, bởi chính kẻ kia cũng
xác nhận cái gọi là "tư tưởng" ấy cũng chỉ là những
điều nhặt nhạnh tầm phào đâu đó mà thôi.
III- Bạn? Thù?
Nhưng, vấn đề tôi viết cho ông không những chỉ cốt nói
đến đám người trên. Câu chuyện tôi đang đề cập trước
tiên liên quan đến những kẻ khác, những người đang "thủ
đắc tự do xử dụng, sáng tạo chữ nghiã" tại Mỹ, ở hải
ngoại và những cáo buộc của những người nầy đối với
chúng ta - Những Người Lính Viết Văn. Họ đã cáo buộc chúng
ta với những lý luận không công bằng, thiếu tính trung trực,
cũng thiếu bao dung đối với những người dù sao cũng đã
hiến đến máu để bảo vệ cho đời sống của chính họ
trước 1975 ở Miền Nam, và khi đi tù, chúng ta cũng không làm
gì sai phạm để gây nên tiếng bất xứng đối với vùng
đất mà họ đã được nuôi dưỡng, lớn lên, tồn tại.
Cuối cùng - họ phải đi ra khỏi nước chỉ do khi chúng ta
bị tước mất vũ khí, tan rã đội ngũ - Cũng có nghĩa, chúng
ta không còn khả năng bảo vệ Miền Nam trong đó có bản thân
"những kẻ phê phán hôm nay", trước đại họa cộng sản.
Hai mươi bốn năm qua, một số đông người Việt ở hải
ngoại hầu như vô ý quên khuất (hoặc cố tình không nhớ
lại) điều khắc nghiệt cay đắng nầy- Chúng tôi hằng bị
cáo buộc từ những người chúng tôi luôn cố tâm bảo vệ.
Năm 1997, tôi nhận được
bài thơ sau đây do một bạn trẻ gởi đến,
"Ðộc lập,
Hoà bình,
Công bằng,
Nhân đạo
Mắt em thơ hớn hở
nụ cười tròn
.....
Nòi giống Việt thương
yêu đời sống Việt
Triệu con người vươn
lên từ cõi chết
Yêu anh em yêu xã hội
công bằng
Người yêu người xây
dựng đến muôn năm".
Bài thơ dài nhưng tôi giảng
lược, chỉ lấy ý cần thiết, đăng từ một tờ báo trong
nước với lời ghi chú về tác giả và xuất xứ bài thơ:
Phan Duy Nhân, TIẾNG HÁT CỦA NGƯỜI ÐI TỚI, Hội Sinh Viên
sáng tác, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, 1967.
"Tên thật là Phan Chánh
Dinh, sinh năm 1941 tại Quảng Trị. Trước khi thoát ly lên chiến
khu năm 1966, anh thường đăng thơ trên các tạp chí Bách Khoa,
Văn, Văn Học, Sinh Viên Huế. Anh là thành viên nòng cốt của
nhóm Việt Nam Việt Nam.
Trong cuộc tổng tiến
công Mậu Thân, anh bị thương và bị bắt tại Ðà Nẵng,
sau đó bị giam ở nhà tù Côn Ðảo, đến năm 1974 mới được
trao trả.
Thơ Phan Duy Nhân đã
góp phần quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại
và phát triển của dòng văn học yêu nước, cách mạng ở
Miền Nam trước 1975.
Hiện nay, Phan Duy Nhân
(Nguyễn Chính) đang công tác ở Ban Tôn Giáo chính phủ."
Trích báo trong nước,
1997.
Tôi không lạ với Dinh,
PDN, phải nói quá thân thiết, vì đấy là một trong những
người bạn chí cốt, đã sống cùng tôi qua một thời tuổi
trẻ. Cuốn Aûi Trần Gian, Ðại Ngã Sài Gòn 1970 lấy PDN và
biến cố Miền Trung, Ðà Nẵng 1966 làm nhân vật trung tâm
cho toàn cảnh. Thơ PDN vẫn gây xúc động cho tôi từ thuở
thiếu thời mãi đến hôm nay, nhưng bài thơ trên cho đăng
lại ở thời điểm nầy (1997) với lời ghi chú kia và cố
ý gởi đến tôi (do biết rõ xuất xứ, mục đích) là một
khinh miệt đối với nỗi đau vô vàn của một tập thể to
lớn - Những nạn nhân từ cuộc "cách mạng" mà Dinh đã tận
hiến với toàn bộ tuổi trẻ, sinh mạng của mình, không phải
chỉ bản thân cá nhân anh mà cả tập thể gia đình, vợ con,
cha mẹ. Nhưng dẫu kính trọng phần hy sinh cao thượng ấy
bao nhiêu đi nữa, tôi vẫn không thể nào không xót đau cùng
tập thể bị khinh miệt, đày ải nầy, cũng bởi lẽ, ông
và tôi, những người sống không nên dạng, chết không yên
mồ, đối tượng chính bị bức hại của cuộc cách mạng
đáng nguyền rủa, rất mực vô ích và đắt giá khổ đau
nầy. Bài thơ cũng xuất hiện cùng lần với những sự kiện
Xuân Lộc, Long Khánh; Trà Cổ, Thái Bình, với những vị cao
tăng Thích Quảng Ðộ, Thích Huyền Quang... bị sĩ nhục, vu
cáo như những kẻ tội đồ tồi tệ. Dinh bây giờ lại là
Nguyễn Chính, phó ban tôn giáo trung ương đảng, nên không
thể khách quan tô vẽ anh vẫn luôn là một "chiến sĩ cách
mạng thuần thành trong sáng" với "bàn tay sạch sẽ hào hiệp"
trên đấy lưu giữ những hạt kim cương bất hoại, "độc
lập, hoà bình, công bằng, nhân đạo". Giới thiệu như lời
dẫn nhập kia là cách hạ nhục vô lường đối với khối
người Việt đã, đang gánh chịu một tai họa gọi là "chủ
nghiã xã hội". Phổ biến nội dung bài thơ cũng tương tự
như cách phỉ nhổ tàn nhẫn trên thây xác người vượt biên
trôi vào bờ biển Vũng Tàu, bộ đội biên phòng vất lên
tấm bảng "bọn phản quốc, bỏ nước đi trốn bị trừng
trị". Người chết là một thiếu phụ trẻ với xác đứa
con cùng lần tấp vào.
Thế nên, trong tình thế
chẳng đặng đừng của "nỗi đau luôn là nỗi đau chung" tôi
có tiếng lời đáp lại như sau:
"Bạn ơi,
nào...
"Ðộc lập,
Hoà Bình,
Công bằng,
Nhân Ðạo..."
Hãy nhớ lại cùng tôi
câu chuyện cũ,
750.000 con người bặt
tăm dấu mặt
Bởi "tội lỗi từ
danh xưng địa chủ".
Buổi đất Nga,
Nhơm nhớp máu tanh
Cuộc chiến ngụy danh
"nhân dân vệ quốc"
Stalin cầm quyền vừa
đủ bốn năm.
Gieo kiệt cùng cõi Âu-Á
mênh mông
Khô thảo dã,
Cháy bình nguyên,
Hai mươi lăm triệu
nông dân cắn răng vỡ tuyết.
Hợp tác hoá
Hơn nửa gia súc bị
giết
Người giết trâu bò
Tự thân cắt đứt
tay chân.
Săm sắp lớp lớp tù
nhân
Chật chỗ hai trăm năm
mươi ngàn nông xã.
Lúa gặt hai mươi lăm
thùng
Thuế đóng hầu như
tất cả
Thoi thóp nhà nhà
Góp nhặt thóc rơi qua
từng ngày khốn khổ mùa đông.
Mỗi người,
Từng mỗi con người
Co quắp rét chết
Mắt chống ngược nhìn
trời
Cầu hơi ấm chuyển
vào xuân.
Nông dân: Bọn phản
động,
Khẩn kíp giết đi!!
Chúng ta kiên trì vững
bước tiến lên cách mạng.(*)
Cũng “cách mạng”
bạn quyết tâm thực hiện.
Chuyện cũ kỷ trời
xa
Ðây, thêm lần lập
lại
1953,
Chuẩn bị Ðông- Xuân
kịp tổng tấn công.
Bé đói lã run khấp
đắp tàu chuối rũ
Cắn đất bùn,
Củ khoai ủng quắp
queo
Tay nhỏ thả lơi tàn
hơi kiệt sức.
Con địa chủ không
cho quyền sở hữu
Ổ rơm, đôi đũa
Trả nợ cha ông từ
thuở lên ba.
Cải cách ruộng đất
Miền Bắc sau "Một-chín
năm-tư", 1954
Không có gì đổi khác...
Giết người cần chi
súng đạn,
đào đất,
chôn sống,
hoàn tất công tác.
Sẵn - Bần nông.
Quả mìn đầu tiên nỗ
đoạn ga Dầu Giây
Trãng Bom, Biên Hoà
không đem qua từ Mỹ.
Người ấp thượng
Daksong mỗ toang phần bụng
chưa hề đi lính "ngụy
quân".
Những máu, những xương
Rơi rớt lây lất oan
khốc thôn xóm Miền Nam
Không dấu vết bất
kỳ tập đoàn đế quốc
thực dân xâm lược.
Bạn ơi,
"Cách mạng" cần chi
nhiều trận máu xương?!
Làm Thơ,
Vâng,
...Chân Thật - Công
Bằng - Nhân Ðạo
Tuổi chúng ta không
hề đi lính cho Tây.
Vẻ vang Ðiện Biên,
thấm nhục đầu hàng trên
đồi Him Lam,
hoàn toàn không dự
phần, góp mặt.
Và,
Cách mạng?
Hẳn thật mặt sau ba
mươi năm chẳn.
"cách mạng",
Bạn lâu dài trưng dụng
máu Nhân Dân.
Chúng ta,
Ðầu trần, chân đất
Ðường đi học thơm
ngây lá khô, cỏ sắc
Trường lớp tạm ngưng
Trưng dụng chứa quan
tài
nạn nhân chết nhầy
đèo Hải Vân
tàu lửa oan khiên du
kích giật mìn lật sấp.
Lệnh động viên,
Người thầy bỏ ngang
phấn bảng
Bạn ơi,
Chiến công nào vinh
quang
Ðồi Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam
Mã tấu, dao găm vằm
chặt liên hồi
Thầy ta gào đau rẫy
chết.
Thơ không đồng lõa
lệnh sát nhân
Thi Sĩ bền lòng thiện
tâm phủ nhận.
Tiếng hát "Xuống Ðường"
Sài Gòn vỡ tung lồng ngực
Ðốt xe jeep Mỹ chạy
qua Kỳ Ðồng
Man rợ chung phần lửa
cháy đỏ Mậu Thân.
Ở Huế,
Tổng kết
Ðào lên
Những nấm mồ tập
thể...
Người già, giáo dân
nhiều hơn xác lính
Nơi chân Cầu Bạch
Hổ
Thuở bạn làm Thơ.
Thơ phải lên tiếng
hai lần Sự Thật.
Bạn ơi,
Không giấy bút
Ta khắc sâu vào óc
Ngôn ngữ không là lời
lu loa còi cọc
"độc lập, hạnh phúc..."
Sứ Mệnh rộn rã TIM
ta
THƠ sắc son hiện thực
Hơn ba mươi năm
Ðâu "công bằng?
Nào nhân đạo"?
Bạn ơi,
Thích Quảng Ðộ,
Tỉnh Thái Bình,
Thăm thẳm gào tiếng
xé ngất...
TỰ DO.
(*) Lệnh tấn công tàn
sát giai cấp nông dân Nga của Stalin
để thực hiện "Kế
hoạch năm Năm 1930-1935".
(**) Chúng ta sống bằng
máu người đã chết.
Người nối người
dĩ vãng nối tương lai.
Nên khi chết tim nầy
xin để lại
Anh mang đi khoảng trống
lấp không đầy.
Thơ PDN, 1960.
IV- Tính Thật ở đâu?
Sau khi tôi có phản ứng như trên đối với bài thơ cuả PDN
và gởi bài viết đến tạp chí Hợp Lưu của Khánh Trường.
Sỡ dĩ tôi chọn HL làm địa chỉ trao đổi vì hơn ai hết,
Khánh Trường là người biết rõ mối giao tình giữa tôi và
PDN; ông ấy và tôi lại có phần thân thiết của người một
đơn vị, Tiểu Ðoàn 9 Dù, cũng là người đầu tiên đón
tôi tại Cali, đưa về nhà trú ngụ, cùng dự những sinh hoạt,
chung sở thích. Phải nói rõ ra những chi tiết kia để hiểu
rằng khi đưa chuyện tôi lên mặt báo để nói về một điều
uẩn khúc, hơn nữa, hôm viết bài báo về tôi, KT đang ở
trong giai đoạn sức khoẻ suy yếu, thế nên, người bạn nầy
quả đang phải làm một việc"không nói không được". Khánh
Trường và tôi lại cùng có cách phóng khoáng của người
lính, thì tình hình "nguy biến" từ bài viết của bản thân
tôi phải là một sự việc không thể khỏa lấp, dung hòa.
Qua bài viết chí tình, thành thật (như bản chất vốn sôi
nổi, nồng nhiệt) KT muốn nhắn nhủ cùng tôi rằng:"Tôi phải
công bằng với bạn (PDN) - Có nghĩa, trong cuộc phân định
đúng, sai, tiếng lời, thái độ (chính trị) của PDN nằm
về phía chân lý, sự thật". Ðến đây vấn đề không còn
là câu chuyện riêng tư của hai người bạn văn với một
thể tài văn học, nhưng đã là một chọn lựa, kết luận
cuối cùng giữa hai bên biên giới bất khả khoan nhượng Quốc-Cộng;
Dân Chủ- Ðộc Tài. Nếu tôi Sai- Toàn thể tai họa đảng
cộng sản gây nên từ tháng 9, 1945 đồng được biện minh
và hợp lý hóa với thắng lợi nơi ngày 30 tháng Tư, 1975.
Nếu tôi Sai, những cái chết từ Nhượng Tống, Khái Hưng,
Phạm Quỳnh... đến Từ Chung, Chu Tử, Trần Văn Tuyên, Hiếu
Chân, Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường...
(hạn chế với đối tượng người làm văn hóa, văn nghệ)...
sau 1975 phải là "những trừng phạt xứng đáng đối với
những kẻ tội đồ phản bội dân tộc". Nếu tôi Sai, những
người hôm nay, Nguyễn Ðan Quế, Ðoàn Viết Hoạt, Trí Siêu,
Tuệ Sĩ, những cao tăng, tu sĩ Thích Quảng Ðộ, Thích Huyền
Quang, Linh Mục Trần Ðình Thủ... đồng phải lên hai lần
giá chém mới xứng đáng những tội phạm "âm mưu lật đổ
chính quyền, tay sai đế quốc, thành phần chống đối điên
cuồng phản cách mạng". Nếu tôi Sai, 600.000 người chết trên
đường di tản, những kẻ vừa nằm xuống mới đây nơi Xuân
Lộc, Long Khánh, Trà Cổ, Thái Bình... Và cuối cùng, hai triệu
người Việt Nam nơi hải ngoại, kể cả mấy chục ngàn người
ra đi từ miền Bắc trước, sau 1975 theo kế hoạch "hợp tác
lao động" sang các nước Ðông Aâu, nay trở thành một loại
"tiện dân bất hợp pháp" nơi các nước sở tại... Tất cả
phải xuống tàu về nước, đến xếp hàng trước lăng hồ
chí minh để đập đầu, đấm ngực tự kết án về một
tội nghiêm trọng, "bất xứng đối với tổ quốc, bởi bỏ
trốn ra khỏi nước". Lẽ tất nhiên, cũng phải có mặt những
người hiện nay đang phê phán chúng ta về một "mối tội"
vì đã có "những tiếng lời nội dung thiếu sáng tạo văn
học, không công bằng chính trị". Vâng - Nếu tôi ÐÚNG- Tất
cả tội ác, tội phạm trên phải viết lại với một danh
xưng, một thủ phạm duy nhất - Ðảng và Người Cộng Sản
Việt Nam.
V- Nhà Văn là Ai? Viết
gì? Tôi trình bày tiếp hiện tượng "phê phán" thứ hai.
Cũng trên báo HL, một thời gian sau, khoảng giữa năm 1998,
có bài viết phê bình văn học của Nguyễn Hưng Quốc. Người
nầy phê bình, định giá một loạt những người viết văn
ở Miền Nam trước 1975... “Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền,
Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Tô Thùy Yên... (lẽ tất nhiên không
thiếu ông, tôi) với nhận định như sau: "Những người viết
của Miền Nam trước 1975, nay ra đến hải ngoại đã mất
hết năng lực, không thể tiếp tục sáng tác. Từ hiện tượng
cụ thể nầy, có thể quy ra kết luận rằng, những sáng tác
trước đây thiếu phẩm tính văn học cao, thiếu sâu sắc,
thiếu sức sống. Tóm lại, hãy vất bỏ tất cả (của quá
khứ) qua hiện tượng bất lực, kém cỏi (từ hiện tại)”.
Vâng, nếu đúng như vậy, thì chúng ta cũng có thể nói rằng:
Hãy vất bỏ bà Hồ Xuân Hương, vì thơ “Quả Mít, Ðánh
Ðu”... thiếu hẳn tính "sex" so với những cô nàng, làm thơ
nói về “cái giống, chuyện làm tình”, thường xuyên đăng
ở HL Nhưng dù sao, cũng cám ơn, tác giả NHQ nầy chưa đề
nghị cho chúng ta những biện pháp tương tự như đám công
an văn hoá ở Việt Nam thường áp dụng đối với những tay
viết “không theo đúng đường lối” như đi học lớp "Bồi
dưỡng chính trị", hoặc tu nghiệp ở “Trường dạy viết
văn Nguyễn Du”, xong đi “công tác thực tế” ở các, công
nông trường, như Nguyễn Tuân, Tô Hoài phải lên miền Tây-Bắc
sau 1954, hoặc Nkhải “sáng tác tại hiện trường” nơi công
trường cao su Dầu Tiếng, Hậu Nghĩa sau 1975, để viết được
những tác phẩm "có nội dung và lời văn đạt mục đích
và yêu cầu". Trước 1975, ở đâu nơi Miền Nam có những ông
"cán bộ văn hoá" khắc nghiệt và quá độ nghiêm túc nầy?
Và giá như ngày trình diện đi tù năm 1975, chúng ta có được
"đánh giá vô hại" nầy làm bùa hộ thân, thì biết đâu đám
cán bộ công an tuyên vận văn hoá có thể đã không nở xuống
tay... Ông, 15 năm; tôi 14; Như Phong, Doãn Quốc Sỹ 13; Tô Thùy
Yên 10; Hoàng Hải Thủy 8; các Huynh Trưởng Nguyễn Sỹ Tế,
Mặc Thu, Hà Thượng Nhân, Lô-Răng... người ít nhất cũng
6, 7 năm; Trần Dạ Từ, Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân,
Duy Lam... hoặc mạng vong hoặc chạm tới cửa tử (như Phương
Triều với một màn “mỗ sống” với lưỡi lam, không thuốc
mê, không cả thuốc tê, dưới dèn dầu) chỉ vì những lời
thơ, giòng chữ; Duy Trác, Từ Công Phụng phải chịu cảnh
kiên giam chỉ do bởi bản nhạc, tiếng hát; Hà Tường Cát,
Vũ Ánh dài trận cùm xiềng chỉ vì những bản tin; Thụy Vũ,
Nhã Ca, Lệ Hằng sống nên dạng, tơi tả kiệt cùng do từ
những “tác phẩm sa đọa, đồi trụy, phản động”... mà
thật sự không hề gây thiệt hại tinh thần, vật chất cho
bất cứ ai.
Hãy chịu giùm chúng
tôi một ngày của khoảng thời gian không hề hết kia?! Chữ
nghĩa không dành riêng cho ai, cũng không ai giành của ai một
“vị trí văn học” nào, và đâu là chuẩn mực của sáng
tác phẩm?! Hết một đời người sống-viết cũng chưa đủ
"tiêu chuẩn” để được nên xứng đáng gọi là nhà văn
sao?! Ngồi yên lành một nơi kêu gọi, buộc người khác làm
"cách mạng văn hóa, sáng tạo văn học" thì có gì khó khăn.
Và không lẽ cuộc "cách mạng" nào cũng cần đến những phẩm
vật hiến tế bằng chính thân phận con người sao?
Tuy nhiên, tôi thiết
nghĩ, và tin chắc rằng, ông, tôi và các bạn văn thuộc thế
hệ “tiền 1975” vẫn yên tâm-Bởi chúng ta hằng sống-chiến
đấu-viết như đã từ bốn mươi, ba mươi năm qua, giữa vũng
tối, tận cái chết, chân mang cùm, mặt đối với khung đen
vô tậïn của cửa phòng giam. Không ai chia cùng ta nỗi thống
hận gớm ghê nầy. Không một ai.
VI- Bùi Tín, chỉ một
nửa “mặt thật”. Cuối cùng, câu chuyện sau là một
hiện thực về những đối nghịch bi-hài, diễn tiến, kết
thúc mâu thuẩn của hằng hà xếp đặt vô thường nơi cuộc
sống trần thế. Ngày 4 tháng 3, 1973, tôi là "người Nam Hà
đầu tiên ra Bắc" (theo cách gọi của Ðỗ Ngọc Yến); ngày
29 tháng 5, 1988, tôi lại là "người Miền Nam cuối cùng rời
trại tù đất Bắc". Hai chuyến đi cách xa mười lăm năm,
bằng khoảng thời gian luân lạc của cô Kiều. Tuy nhiên, cho
dù đã phải trải qua nghiệt cảnh đằng đẵng tận cùng
thống khổ, trở về Miền Nam với thân phận người tù bị
lưu đày trên quê hương, cổ tay mang cùm, cửa toa đóng kín
(để tránh sự hăm dọa, phẫn nộ của nhân dân do còn "thù
hận tội ác Mỹ -Ngụy", theo cách giải thích của viên cán
bộ chỉ huy đoàn tàu chở tù), nhưng khi xe lửa qua cầu Hiền
Lương, bắt đầu địa giới Miền Nam, qua Cổ Thành Quảng
Trị hoang tàn, thấy lại quê hương Miền Trung điêu linh tang
tóc chưa đủ sức hồi sinh dẫu chiến tranh đã mười lăm
năm chấm dứt... Lòng tôi vẫn bừng bừng ngọn lửa tự tin
bền bĩ - Chúng tôi là người đi đúng đường, cùng thở
chung mạch sống với quê hương. Bởi "sự thật" không như
lời viên cán bộ giải thích. Ðoàn tàu đến ga Ðà Nẵng
vào trưa, đám đông nhào đến cửa toa, gào tiếng lớn đẫm
nước mắt... Các anh ăn chi... các anh ăn chi... Sao giờ nầy
các anh mới được đưa về, bánh đây... nước đây, chúng
tôi không lấy tiền. Chúng tôi luôn nhớ các anh... Ðám đông
định nhào lên toa xe, toán bộ đội áp tải nhớn nháo, lăm
lăm súng. Tôi ngồi riêng một mình (cấp đại úy độc nhất
còn lại từ trại tù Miền Bắc), mắt doanh tròng đẫm lệ
bởi đã được thêm một lần xác chứng điều tưởng như
nghịch lý- DẪU ÐÃ CÙNG ÐÀNH CHỊU BÓ TAY THẤT TRẬN NƠI
CHIẾN ÐỊA, NHƯNG CHÚNG TÔI CHÍNH LÀ NGƯỜI LÍNH MONG ÐỢI
CỦA DÂN TỘC VIỆT. PHẢI, CHÚNG TÔI CHỨ KHÔNG AI KHÁC, LÀ
NGƯỜI THẮNG TRẬN CUỐI CÙNG- LẦN CHỌN LỰA CHÍNH NGHĨA-
HIỆN THỰC TRONG LÒNG MỖI NGƯỜØI DÂN. Vấn đề đã một
lần nói cùng Bùi Tín trên chuyến đi ra Bắc mười lăm năm
trước.
Ðến sáng ngày 30 tháng
Tư, 1975 tại Dinh Ðộc Lập, như một điều tất nhiên, Bùi
Tín vẫn không hề tỏ ý định chấp nhận kết luận chung
cuộc trên, trái lại đã có lời nhắn gởi qua Tú Gàn, Nguyễn
Cần, "... Hãy về nói với Phan Nhật Nam, cuối cùng chúng tôi
là kẻ thắng trận". Thật sự, anh ta muốn răng đe cùng tất
cả những người cầm bút ở Miền Nam với tâm lý hãnh tiến
của một kẻ vừa đoạt thắng mục tiêu trên thây xác đối
thủ chung giòng máu, cùng màu da. Ðiều nầy không là vỏ đoán,
vì bản thân Bùi Tín hằng bộc lộ rất nhiều lần qua cung
cách”hạ mục vô nhân” suốt trong những kỳ họp báo ở
Tân Sơn Nhất giai đoạn 1973-74, điển hình, cụ thể qua cuốn
sách nhỏ “Sáu mươi ngày thi hành Hiệp Ðịnh Paris” ký
tên Thành Tín, với những nội dung đại loại:“... Chấp
hành nghiêm chỉnh nội dung và lời văn Hiệp Ðịnh Paris, thể
hiện tinh thần Hoà Hợp và Hoà Giải Dân Tộc, Nhà Nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hoà
Miền Nam Việt Nam cực lực tố cáo những hoạt động quân
sự nống lấn của phiá Việt Nam Cộng Hòa do chính phủ Mỹ
hà hơi tiếp sức vi phạm Hiệp Ðịnh... “. Thái độ, tiếng
lời của kẻ thâu đoạt toàn bộ “sự thật”, đồng thời
giành quyền xử dụng bạo lực để bảo về “sự thật
một phía” nầy.
Nhưng những tưởng,
sau khi tỉnh cơn mê thiếp “Ðại thắng Mùa Xuân” từ 1975
đến thời đoạn thâïp niên 1980, 90 lần viết “Hoa Xuyên
Tuyết, Mặt Thật”, Bùi Tín đã có cơ hội và hoàn cảnh
để “phải điều chỉnh” về kết luận "nóng vội, duy
ý chí" kể trên, nhưng, với "MMTK", hóa ra "chân lý" tối hậu
sau đây vẫn luôn chính xác và tồn tại: "Sông có thể cạn,
núi có thể mòn... Nhưng, người cộng sản (lại là Việt
cộng) không bao giờ thay đổi!!". Ðây không là cách nói mĩa
mai, vần vè theo khẩu hiệu, nhưng từ thực tiển đến luận
lý, người cộng sản (lại là Việt cộng) quả thật là những
tay bảo thủ kiên trì đáng sợ. Bảo thủ vốn đã là một
tính chất không mấy tốt đẹp, huống gì cứ căm căm giữ
chặt một điều quái gở, cực độ vô dụng, vô nghĩa lý
(gọi là “chủ nghĩa cộng sản”) làm bùa yểm huyệt sinh
tử thì quả là một hiện tượng tâm lý không bình thường
nơi một sinh vật có đủ chức năng trí nảo gọi là con người.
Tai họa thay, đây không là phản ứng riêng của một tên vô
lại bá vơ nào đấy như gã treo cờ đỏ, ảnh hồ ở Cali
trong tháng 2, 1999 vừa qua, mà là những con người, sốù đông
những con người thuộc về một tập đoàn cầm quyền - và
nhất định nắm chắc quyền lực như một thực thể tiên
nhiệm, tự thân - Tập đoàn nầy do hồ chí minh, kẻ tội
đồ gớm ghê nhất lịch sử loài người, (không chỉ riêng
cho Dân Việt) xây dựng, tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo
để nên thành. Và thành quả của “sự nghiệp khốc hại”
nầy đã, đang là cái ách khổ nạn trầm kha đối với toàn
thể Người Việt gần 50 năm qua. Và nay, chỉ còn hơn hai trăm
ngày nữa sẽ chấm dứt một thế kỷ bão táp nhiễu nhương,
nhân loại đang sửa soạn bước vào Thiên Niên Kỷ thứ Ba
với hàng loạt quy mô cách mạng khoa học, kỹ thuật, ý hệ
to lớn, nhưng ở Việt Nam, ách khổ nạn kia vẫn không có
dấu hiệu bắt đầu cho một lần thay đổi. Dẫu rằng, tập
đoàn cầm quyền ở Hà Nội đã trương nên khẩu hiệu chiến
lược gọi là "đổi mới" từ sau đại hội đảng 1986, và
một trong những kẻ phát ngôn - Người dụng văn tên gọi
Bùi Tín - Nhân vật được nêu danh và tự đánh giá (qua một
vụ đào thoát chính trị từ chức vụ “phó tổng biên tập
báo Nhân Dân”, cơ quan ngôn luận trung ương của đảng cộng
sản, có chức năng hành chánh như một bộ, nhưng với quyền
lực chính trị lớn hơn gấp bội) là một "phản ảnh thuần
chất, năng động của đường lối đổi mới, phê phán chế
độ". Nhưng, hoá ra Bùi Tín vẫn còn nguyên và luôn duy trì
"đặc chất" của một “đơn vị chính trị gọi là người
cộng sản". Vì không những chỉ cương quyết bám chặt “sợi
chỉ hồng xuyên suốt” để biện hộ cho tổ chức, phe nhóm
và bản thân ở một thời đoạn đão lộn tất cả hệ thống
luận lý, thành quả lịch sử của phong trào vô sản, thợ
thuyền, nông dân thế giới, Bùi Tín còn “hào hiệp” hơn
nữa, nhận lãnh thêm chức năng “đại diện cho toàn thể
Người Việt” thực hiện sự lựa chọn “chọn Người Cộng
Sản thay vì Người Quốc Gia”, sau khi đã đánh giá, phê điểm
khối đông nhân dân nầy có được một tính chất khả dĩ
gọi là “cẩn thận”, dù rằng họ đã hằng hà chịu đựng,
trăm bề khốn nhục gây nên từ những “Người Cộng Sản”-
Ðối tượng luôn xứng đáng với một danh xưng viết hoa trang
trọng.
Khi làm công việc hệ
trọng quyết định trên, Bùi Tín quên khuất (hay cố tình
không kể tới) sự kiện, Người Việt đã nhiều lần chọn
lựa tại những thời điểm trọng đại, tháng 8, 1945; tháng
7, 1954; Mùa Xuân 1968; tháng 1, 1973 và lần chọn lựa lớn lao
triệt để nhất... Từ ngày 10 tháng 3, 1975, khi binh đội Bắc
Việt tấn công cường tập Ban Mê Thuộc. Lần chọn lựa nầy
không kết thúc với ngày 30 tháng 4, 1975, trái lại đang tiếp
tục càng ngày càng gay gắt, quyết liệt đối với một khối
dân đông đúc (không phải chỉ riêng "ngụy quân, nguỵ quyền,
ngụy giáo, ngụy dân..." của Miền Nam, tập hợp nầy đã
hoàn tất sự chọn lựa với đánh đổi ngay đến mạng sống,
một đời tuổi trẻ của mình, mà biễu hiện sau cùng khởi
đi từ Nam Cali, tháng 2, 1999 đang còn là một vấn đề thời
sự mới mẻ, mà hiện tượng Người Việt toàn thế giới
với Tuổi Trẻ Việt Nam lần đầu tích cực nhập cuộc đã
trả lời về chọn lựa cuối cùng), đấy là quần thể rộng
lớn nơi quê nhà với hơn bảy mươi triệu người Việt, bao
gồm những thành viên lương đống hàng đầu của đảng cộng
sản. Bùi Tín đang làm chức năng đại diện không giấy phép
(hoặc một giấy phép bí mật nào đó) cho chính những người
“phẫn nộ nổi loạn” nầy: Những Trần Ðộ, Nguyễn Thanh
Giang, Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu... Nhưng đây là vấn đề riêng
giữa những người cộng sản, chúng tôi, “Người Quốc Gia”,
Người Việt Miền Nam có vấn nạn riêng.
Từ lý do “bị Bùi
Tín đại diện một cách hàm hồ không ủy nhiệm”, chúng
tôi BẮT BUỘC phải nói về một nhân sự. Cũng cần nói rõ
thêm một điều, qua ba mươi năm hành xử chức năng người
viết văn, bản thân cá nhân đã quyết gìn giữ và thực hiện
được nguyên tắc: “Không viết về, kể đến, nhận xét,
phê phán nội dung, hình thức chữ nghiã của bất cứ ai, do
có quan niệm - Quyền phê phán thuộc về người đọc”- Khối
đông người đọc hằng có đủ bản lĩnh, khôn ngoan, tinh
tế để kết luận, định giá và kết thúc sinh mạng văn
hóa chính trị của bất cứ người cầm bút nào, cho đấy
là một tác giả lớn với những tác phẩm quan trọng đến
bao nhiêu. Nhưng hôm nay,bởi "MMTKø" đã tràn ngập những nội
dung:”Tôi xin nói thật rằng, những người “quốc gia”chưa
tạo nên “niềm tin” đối với đồng bào trong nước, tuy
bị bộ máy tuyên truyền trong nước khống chế, điều kiện
hoá, đã qua kinh nghiệm bản thân, hiểu được sự thật,
chán ngấy với sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, nhưng
bởi chưa thuyết phục được bởi những người “quốc gia”.
Có người tuy biết rõ sự thật, hiểu tình hình đất nước,
nếu phải lựa chọn, họ phải lựa chọn những người “Cộng
Sản” hơn là người “Quốc Gia”, MMTK, Trang 291, NXB Ða Nguyên,
1998. Bỏ đi lối xỏ xiên so kè vặt vãnh hằng xuất hiện
trên báo Nhân Dân, Hà Nội từ nhiều năm nay... Gọi tên người
lãnh đạo, những cơ quan cầm quyền của khối không cộng
sản, cho dù đấy là Ðức Giáo Hoàng Giáo Hội Công Giáo bằng
những danh xưng cộc lốc, không viết hoa (hoặc viết hoa chỉ
một nửa), như “giáo hoàng Pôn... tổng thống Ri-gân”. Qúy
độc giả lưu ý, hai chữ “quốc gia” phần đầu đoạn
văn viết theo lối chữ thường, chỉ “Quốc Gia” cuối cùng
bởi phải đặt so sánh với “Cộng Sản” nên được một
lần viết hoa!! Khi vạch ra những “tiên tiến tiểu xảo”
nầy, chúng tôi không cố tâm soi bói về một vế viết, cách
dùng chữ, nhưng bởi đã thấm đòn, sống cùng, chịu đựng
nỗi lăng nhục ác độc dài lâu của người cộng sản, nên
bản thân chúng tôi không nhìn sự kiện dưới dạng thức
đơn giản, độc lập riêng của một câu, chữ trong cuốn
sách, mà đã hiểu và phải hiểu ra rằng, tất cả từ ngữ,
luận cứ trên đồng nằm trong một tổng thể: ÐÂY LÀ NHỮNG
CHIẾC PHAO CỨU NẠN KHẨN CẤP CHO MỘT CHẾ ÐỘ ÐANG TRONG
KỲ SUY THOÁI HẤP HỐI- Nói theo ngôn ngữ cộng sản, đây
là thời kỳ “thoái trào cách mạng toàn diện bế tắc”.
TÔI BẮT BUỘC PHẢI MỘT LẦN LÊN TIẾNG- Bởi, NẾU KÉO DÀI
IM LẶNG ắt sẽ được (thật ra là “bị”) đánh giá nên
thành sự “đồng thuận của người thuộc phe quốc gia”-
Những “người quốc gia dễ bảo, dễ tin, cẩn thận và khôn
ngoan” sẽ chọn lựa “Người Cộng Sản thay vì Người Quốc
Gia” theo như “phân tích có tính cách chỉ đạo, giáo dục”
của Bùi Tín qua một loạt “mặt thật một nửa” đã viết
nên trong những cuốn sách xuất bản nơi hải ngoại ở những
năm qua. Thế nên, dẫu muộn màng sau đến hơn phần tư thế
kỷ, 26 năm, chúng tôi phải nhắc lại khẳng định của một
lần trên chuyến bay ngày 4 tháng 3, năm 1973: PHẢI, CHÍNH CHÚNG
TÔI, LỰC LƯỢNG QUỐC GIA DÂN CHỦ LÀ NHỮNG NGƯỜI THẮNG
TRẬN CUỐI CÙNG.
VII- Việc thật thật
cần phải nhắc lại. Chúng tôi cũng đã nhiều lần khẳng
quyết từ những ngày rất lâu trước đây với trái tim trung
trực hằng phẫn nộ đối với Dối Gạt-Aùc Ðộc: “ ...Những
người của miền Bắc hãy giành những giòng nước mắt khóc
vì một người già nằm xuống sau chặng đường gây tai họa
vô vàn cho dân tộc, để khóc cho những cái chết không toàn
thây, nơi gốc núi, ngoài bià rừng, khắp cùng thôn xóm làng
mạc quê hương của những người chết trẻ oan khiên... Những
người chết từng giờ dằng dặt hai miền Nam, Bắc” PNN,
Dọc Ðường Số I, Ðại Ngã, Sàigòn 1969, Chương "Cái Chết
của một Ông Già".
“...Xin ngã mũ chào
người cộng sản miền Bắc, các anh đã hơn Liên Sô, các
anh đã hơn Trung Cộng, một thành phố có sức sống cổ kính
triền miên, mạnh mẽ như Hà Nội, chỉ sau hơn mười chín
năm dưới tay các anh đã trở nên một thành phố "vô tính".
Các anh đã thành công khi xoá sạch hết biên giới con người,
không còn người già, người trẻ, không phân biệt thiếu
nữ hay thanh niên, không chia loại trí thức hay lao động, không
phân biệt trẻ con hay người lớn. Tất cả đã được đoàn
ngũ hoá, hệ thống hoá, tổng hợp hoá và vô tính hóa... Con
người muôn thuở cuả Hà Nội đã được " bạch hoá" đến
cực độ chỉ sau mười chín năm tôi luyện!!”. PNN, Tù Binh
và Hòa Bình, Hiện Ðại, Sàigòn 1974, Chương "Ði Bắc... Về
Nam".
“... Và chúng ta, đừng
bao giờ, dù chỉ một lần (một lần thôi quá đủ), tin một
người cộng sản (lại là Việt cộng) trên tư cách, giá trị
riêng cuả người ấy. Ðừng đối xử họ như một con người
với tất cả ưu, khuyết điểm như hằng có của người...
Bởi họ đã hoàn toàn "tan biến và vô tính hoá" trong tổ
chức cuả họ”. PNN, Mùa Ðông Giữ Lửa, Tác Giả xuất bản,
Houston, TX 1996, Chương "Nhìn Rõ Ðịch Tình"
Những giòng chữ viết
suốt 30 năm như trên phải chăng do, từ mục đích yêu cầu
"chống cộng điên cuồng một kẻ tay sai đế quốc thực dân,
tư bản". Hẳn hoàn toàn không phải thế, bởi nếu có một
định nghiã thuần thành và chính xác nhất về "người vô
sản", chắc chắn bản thân cá nhân sẽ là và phải là thành
phần "vô sản chính thống" ấy. Và như đã là một lần khẳng
định khi đang trong tuổi 20... "Cuối cùng, chỉ là chúng tôi,
những người chống cộng cuối cùng, vô vàn cay đắng. Chống
cộng vì không thể là cộng sản, vì đã ở về một "phiá
đối lập với tội ác và dối gạt".... Trên dại dương mênh
mông của bờ biển Bắc phần, chiếc mảng nhỏ gồm những
thân tre ghép lại, nhóm dân áo đen rách gồm cả đàn bà và
trẻ con, ra sức chèo trong đêm về hướng đông- Hướng mặt
trời- đợi ngày tới để được đoàn tàu đi về Nam... Ði
về Nam-Tìm Tự Do- Tôi đã đi đúng đường- Dẫu là lối
cùng đường với những người được Chết - Tự Do " .
Cuối cùng, qua những
xác chứng trên, cũng có thể đặt ra vấn đề: “Phải chăng
đấy chỉ là giòng chữ viết nên do từ cảm tính, bởi nhu
cầu, phản ứng của người viết văn trước những tình thế
quá độ”. Thưa, hoàn toàn không phải thế, bởi sau đây
là những luận cứ từ thực tế lịch sử rọïi chiếu. Lịch
sử của một thời đại sa đọa chính trị đáng nguyền rủa
với quá trình sinh hoạt dài lâu của xã hội thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng - Thời đại thắng thế của Bạo
Lực và Sự Aùc trên lương tri, lương năng con người với
những sự kiện được “cả loài người tiến bộ hoan nghênh”:
Tên Lê-Nin được đặt cho một “giải thưởng hoà bình”;
Lê Ðức Thọ, bí thư chiến dịch hồ chí minh- chiến dịch
đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực- Người “tổ chức, xây
dụng nghị quyết 21 Trung Ương đảng, để chuyển thành, “Mệnh
lệnh đánh trả 15 tháng 10, 1973 Trung ương cục Miền Nam: Ðánh
lấy miếng, không đánh gây tiếng. Xử dụng ba thứ quân (chính
quy, du kích, địa phương), chủ động trên ba mặt trận (quân
sự chính trị, ngoại giao), đánh trên ba vùng(rừng núi, nông
thôn, thành thị) để củng cố vùng giải phóng, tranh thủ
vùng xôi đậu, ung thối vùng địch, đánh rã từng bộ phận,
giành thắng lợi từng phần”. Cũng chính y, kẻ được Uûỷ
Ban Nobel chia đồng “giải hoà bình” với Kissinger!!
Thế nên, chúng ta cần
nói rõ thêm một lần (hay phải đến bao nhiêu lần mới đủ)
những lầm lẫn căn bản từ lý thuyết hoang tưởng đến
hiện thực ác độc của quá trình tồi tệ gọi là “xây
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” đã, đang xẩy ra nơi quê
nhà do từ những “người cộng sản” mà Bùi Tín “bày
hàng“ ra để Dân Việt chọn lựa với “cẩn thận và khôn
ngoan”, dẫu đã thấm đòn đau, sống nên dạng, chết không
yên nấm mồ khi người cộng sản thực hiện “tư tưởng
hồ chí minh”- Viên đá tảng của toàn bộ những gì gọi
là “ Mặt Thật, Hoa Xuyên Tuyết” và nay “Mây Mù Thế Kỷ”.
Bởi, tình hình “mù đặc” của đất nước trong thế kỷ
nầy theo ý Bùi Tín, không có nguyên do chính yếu nào ngoài
lý do: “ ...Cũng cần chỉ rõ lời ngụỵ biện của “họ”-(những
đảng viên cộng sản không ăn cánh với tập đoàn, cá nhân
Bùi Tín, hiện nay đang cầm đầu ở Việt Nam) - là ngược
lại “tư tưởûng hồ chí minh”. Chính ông hồ chứ không
ai khác đã mở đầu Tuyên Ngôn Ðộc Lập - 2-9-1945 bằng những
lời trích từ văn kiện của cách mạng tư sản Pháp và cách
mạng tư sản Hoa Kỳ, hai cuộc cách mạng rất xa lạ với
Châu Á, khẳng định quyền sống trong tự do của mọi dân
tộc, của mọi con người”. Trang 259, MMTK. ÐN, 1998. Tốt lành
quá, chúng ta hãy xem xét xuất xứ và hậu quả tác hại của
“tư tưởng quái gở, cùng kiệt” nầy.
VIII- Từ Lịch Sử.
Trong cơn say kích động sau chiến thắng cưỡng đoạt 7 tháng
11, 1917, Lê-nin hướng về Châu Âu buông lời nguyền sắc máu:“...Rồi
đây lực lượng công nhân tiến bộ ở các nướùc tư bản
sẽ đứng lên với khí thế mạnh mẽ gấp bội để hoàn
tất cuộc cách mạng mà giai cấp công nhân Nga sô-viết đã
thành công bước đầu, báo hiệu “đêm hôm trước bình minh
cách mạng xã hội chủ nghĩa”đang đến gần”. Và tổ chức
giai cấp công nhân được Lê-nin đánh giá cao, tiến bộ nhất
Châu Âu thời buổi ấy là lực lượng thợ thuyền Ðức với
những đồng chí chiến đấu xuất sắc Karl Liepknecht, Rosa
Luxemburg. Ngày 6 Tháng 1, 1919, các “đồng chí chiến đấu,
cộng sản Ðức- Spartacist” xuống đường, chiếm lĩnh, thành
lập những khu sô- viết ở vùng Bavaria, Rhineland, Hamburg, Ruhr
và cuộc chiến trong đường phố bùng nổ ngay giữa thủ đô
Berlin đáp lời kêu gọi của Lê-nin từ cuộc cách mạng Tháng
10 Nga. Cuộc nổi dậy của “giai cấp công nhân tiến bộ,
được tổ chức cao nhất Châu Âu” theo kỳ vọng của Lê
Nin bị dập tắt chỉ trong vòng một tháng, các lãnh tụ K.
Liepknecht, R. Luxemburg bị giết trên đường đi đến nhà giam.
Thành phần đối mặt với “chiến sĩ cộng sản Ðức”
trên trận địa đường phố Berlin là là những ai? Chẳng
ai đâu xa lạ... Cũng chỉ là những “chiến sĩ cách mạng”
của Ðảng Xã Hội Ðức và những người lính từ chiến
địa trở về - Những người con ưu tú của giai cấp thợ
thuyền Ðức!! Và khi “đồng chí chiến đấu, cộng sản
Ðức” những ngã chết trên đường phố Hamburg, Berlin để
xiễn dương cho một mô thức Nga sô-viết bền vững, thì những
người Nga sô-viết lại đang hân hoan cùng thắng lợi vừa
thâu đoạt từ “Hiệp Ước Bất Tương Xâm” ký ngày 3 tháng
3 một năm trước,1918, với tập đoàn “phản động tư bản
Ðức”-Lực lượng đàn áp không nương tay cuộc khởi nghĩa
dậy non do đảng cộng sản Ðức chủ động. Vấn đề như
thế là thế nào?! Hãy nghe Lê-nin (cũng chính là Lê-nin chứ
không ai khác) biện minh và giải thích hành động của mình
khi quyết định ký Hiệp Ước Brest-Liptov: “Tổ chức là
tất cả. Phong trào công nhân không là gì cả”. Và không
những chỉ để mặc “người đồng chí anh em” bị phe tư
bản hành hình, Lê-nin cũng không hề động tâm về mối đê
nhục quốc gia áp đặt do từ những điều khoảng của hiệp
định, thực chất chỉ là một bản văn “bán nước”, theo
định nghĩa cụ thể nhất: Nhường cho Ðức giải đất mênh
mông phía Tây, Tây- Bắc gồm Ba Lan, các nước vùng bể Baltic,
cũng có nghĩa Ukraine lẫn Phần Lan đồng bị đặt dưới quyền
kiểm soát của Ðức. Chưa hết, Nga sô-viết còn chấp thuận
trả hết phí tổn, bồi thường chiến tranh bằng tổng sản
lượng 80% quặng mõ và kim loại sắt, thép, đồng thời gom
góp hết phần trữ kim của ngân khố để trả giá cho “cam
kết bất tương xâm” của người Ðức nơi mặt trận phía
Tây. Hiệp ước bất bình đẳng, vô lý nầy đã bị chính
Trostky cực lực phản đối, cùng những tổ chức cách mạng
khác như lực lượng Cách Mạng Xã Hội Cánh Hữu của Savinkov
phản đối toàn diện. Nhưng bất chấp tất cả, Lê-nin đã
nại đến mọi nguyên cớ và biện pháp (kể cả chước dọa
“từ chức”), để tập trung sức lực Hồng quân và lực
lượng thợ thuyền Nga vào một mục đích: Củng cố quyền
lực nhà nước vô sản trước các cuộc tấn công sắp tới
của phe Bạch vệ, Denikin, Kolchak, Wrangel đang trên đường
tiến về Moscow và Petrograd. Ông ta chỉ cần đứng vững trước
kẻ “nội thù”, dù cũng biết ra rằng người Ðức đang
trên đà thất trận. Ngày 28 tháng 6, ba tháng sau Hiệp Ước
Brest- Liptov, Ðức ký Hoà Ước Versaille đầu hàng đồng minh
Tây Âu.
IX-Cái gọi là “tư
tưởng hồ chí minh”. Bài học “dối dân, bán nước”
từ người thầy Lê-nin được một kẻ học trò xuất sắc
thâu nhận và áp dụng “nhuần nhuyễn sáng tạo như một
sợi chỉ hồng xuyên suốt”. Chúng ta hãy xem “tư tưởng
hồ chí minh” hiện thực qua hành động như thế nào.
Hai trăm ngàn quân Tàu
vào đất Việt sau ngày Nhật đầu hàng Mỹ ở mặt trận
Châu Á-Thái Bình Dương (15 tháng 8, 1945), không làm cho Hồ
quan tâm lo lắng bằng mấy trăm cây súng của Việt Nam Quốc
Dân Ðảng, Vũ Hồng Khanh và lực lượng quân sự của Việt
Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội, Nguyễân Hải Thần, những hậu
thân của Khởi Nghĩa Yên Bái, 1930; Việt Nam Phục Quốc Quân,
Việt Nam Kiến Quốc Quân... Những tổ chức cách mạng có
chiều dài chiến đấu, lẫn bề dày uy tín từ các vị minh
chủ lãnh đạo, Phan Bội Châu, Cường Ðể, Trần Trung Lập...
Sự lo lắng của Hồ xác chứng, “thực lực quân sự dưới
quyền chỉ huy của bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp”
chỉ là một đám quân ô hợp, không vũ khí, gồm một đội
“vũ trang tuyên truyền”, quân số không quá một đại đội
bộ binh thành lập vội vàng từ 22 tháng 12, 1944. Mối lo sợ
của Hồ cũng bày ra phần dối gạt về phương diện chính
trị- bởi, tổ chức đảng lấy “giai cấp công nhân” làm
thành phần chủ đạo chiến lược thành hình từ 3 tháng 2,
1930 kia thực tế là một “đơn vị khủng bố, chuyên nghiệp
vụ ám sát” các nhân vật lãnh đạo những đoàn thể quốc
gia, hơn là đấu tranh chính trị cùng đối thủ, thực dân
Pháp hay quân phiệt Nhật. Cũng bởi một điều rất giản
dị: Lấy đâu ra một “giai cấp công nhân giác ngộ cách
mạng vô sản” nơi một nước nông nghiệp thuộâc địa
chỉ với tổng số 2500 thợ, bao gồm những nông dân bị “thất
nghiệp mùa”” phải tiến ra thành phố kiếm việc làm chân
tay không chuyên môn. Tuy nhiên, Hồ không hề chậm chạp trong
thủ đoạn tranh đoạt, kiến tạo quyền lực... “Tuần Lễ
Vàng” được mở ra từ 16 đến 22 tháng 9, 1945 với lời
kêu gọi của chính phủ cách mạng, “mua vũ khí giữ gìn
độc lập dân tộc!!”. Người Việt, những người Việt
giản dị và chân thật nhưng không kém phần hào hiệp, hy
sinh, dốc hết túi tài sản nhỏ bé, khiêm nhường của mình
để “cụ Hồ mua súng giữ nước”. Kết quả vượt khỏi
mức dự tính: Hơn tám trăm cân vàng và hai chục triệu đồng
tiền Ðông Dương. Hồ đem hết khối lượng giá máu của
toàn dân tộc nầy trao tặng, mua thuốc phiện và trả lương,
nuôi ăn lính Lư Hán. Tại văn phòng Phủ Chủ Tịch, Hà Nội,
mỗi ngày, Hồ để dành một lon gạo để “cứu đói cho
dân!!”-Sự bịp bợm nhẫn tâm không loại trừ đến cả
việc lợi dụng xác thân người dân chết đói!! Bù lại,
Lư Hán làm ngơ để mặc Hồ mật lệnh cho thủ hạ thanh toán
các lãnh tụ, cán bộ quốc gia, cũng là đồng chí kháng Nhật
của họ ở những năm trước... Khái Hưng, Nhượng Tống,
Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp, Lý Ðông A, Trương Ðình
Chi... ở Bắc Việt; Phạm Quỳnh, Ngô Ðình Khôi ở Huế; Tạ
Thu thâu ở Quảng Ngãi; Trương Tử Anh ở Phú Yên; Huỳnh Phú
Sổ, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm... ở Nam
bộ và biết bao cán bộ cơ sở của các tổ chức cách mạng
quốc gia đồng lần bị thanh toán trong khoảng thời gian gấp
rút của hai năm 1945, 46 khi người cộng sản củng cố quyền
lực.
Ðến một lúc, đầu
năm 1946, khi Hồ qua được giai đoạn thập tử nhất sinh,
do đã loại trừ hầu như gần hết các đối thủ chính trị
thuộc các đảng phái quốc gia và cũng quá mệt mõi với đòi
hỏi vô độ từ quan viên tướng Tầu, hơn thế nữa, Hồ
đã có quá đủ kinh nghiệm với người Trung Hoa, cho dẫu Tàu
vàng hay Tàu đỏ. Ông ta tâm sự với những đồng chí thân
cận: “... Các chú đừng có điên!! Các chú không biết Tàu
nó ở lại thì như thế nào sao? Các chú không nhớ bài học
lịch sử sao, lần cuối cùng, Tàu nó sang đây, nó ở lại
đến cả ngàn năm! Tôi thà ngửi “cứt Tây” năm, ba năm
còn hơn hít “cứt Tàu” đến trọn đời!!”. Có thêm một
điều Hồ không tiện nói ra, nếu có một cuộc sống mái
giữa các lực lượng quân sự Quốc-Cộng, đạo quân của
viên “đại tướng, bộ trưởng quốc phòng chuyên mặc veston
cà-vạt” (cách ăn diện quê kệch được Giáp rất đắc
ý) đi duyệt binh kia ắt phải tan vỡ ngay vì chúng không thể
nào đương cự với những sư đoàn (các đơn vị Nam bộ)
đã quen trận mạc từ thời Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng 11,
1940 hoặc binh đội của Trần Phước An, Trần Trung Lập, Vũ
Hồng Khanh đã đánh chiếm Lạng Sơn, Cao Bằng từ những năm
đầu thập kỷ 40.
Ðể cứu lấy sinh mệnh
chính trị, tổ chức quân sự của mình, Hồ chọn biện pháp
“mượn dao giết người”- Thuận để quân đội Pháp vượt
vĩ tuyến 16, đổ bộ Hải Phòng, vào Hà Nội, thay thế quân
Tàu chiếm đóng những vị trí xung yếu ở đất Bắc. Hiệp
định sơ bộ 6 tháng 3, 1946 được ký kết mau chóng. Giáp
lại được mặc veston, đội mũ phớt bắt tay Leclerc, Tổng
tư lệnh quân đội Pháp ở Ðông Dương dịp Lễ Tưởng Niệm
Chiến Sĩ Trận Vong. Bù trừ việc “mất mặt” nhượng cho
quân Pháp trở lại Bắc Việt, Hồ kỳ kèo với Leclerc để
thâu đoạt một “thắng lợi to lớn”- xe nhà binh Pháp khi
di chuyển có trương thêm cờ Việt Minh. Hồ cũng biết cách
đáp lễ để chào đón viên Cao Ủy Cộng Hoà Pháp tại Ðông
Dương, khi Ðô Ðốc Thierry D’Argenlieu đến thăm thú Hà Nội-
Ra lệnh dân chúng treo cờ mừng “ngày sinh 19 tháng 5 của
Hồ chủ tịch”. Phận nước, máu dân còn đem đổi chác
huống gì bày đặt thêm một ngày sinh vô nghĩa tùy nghi.
Nhưng thuận để Pháp
đổ quân lên đất Bắc, rút quân Tàu đi cốt dẹp mối lo
lâu dài về việc các đảng phái quốc gia lấn lướt, vị
thế Hồ vẫn chưa được ổn định, bởi cái chính phủ gọi
là “Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” kia chưa hề
được hợp thức hóa của bất cứ chính quyền quốc gia nào,
cho dù đấy là đàn anh Nga sô-viết. Bởi, điều khoản quan
trọng nhất của Hiệp Ðịnh 6 tháng 3 với Sainteny cũng chỉ
là một định nghĩa vô dụng, “Việt Nam là một Quốc Gia
Tự Do (Free State) có Chính Phủ và Nghị Viện riêng, thành
viên của Liên Bang Ðông Dương trong khối Liên Hiệp Pháp”,
và vấn đề của Nam Kỳ không bao gồm trong định nghĩa nầy,
về một Quốc Gia thống nhất tên gọi Việt Nam. Bởi không
thể có một biện pháp tốt cho một vấn đề đã vốn xấu,
nên Hội Nghị Hiệp Thương Ðà Lạt khai diễn ngày 18 tháng
4 không thể nào giải quyết được những vấn đề nêu từ
Hiệp Ðịnh Sơ Bộ. Ngày 31 tháng 5, 1946, Hồ đi Pháp với
đám tùy tùng do Phạm Văn Ðồng làm trưởng đoàn thương
thuyết. Người Pháp, từ thắng lợi của sau thế chiến, không
nôn nóng và cũng không biï ràng buộc với Hiệp Ðịnh 6 tháng
3, trưởng phái đoàn Pháp Max André lập lại những điều
khoản không thể chấp thuận được từ hội nghị Ðà Lạt.
Thông cáo chung ngày 12 tháng 9 là một thất bại toàn diện
đối với phái đoàn Phạm Văn Ðồng. Max André nói thẳng
thừng, “...Chỉ có vài nhượng bộ về kinh tế, tài chánh
mà thôi.Nếu không nhận thì cứ về đi”. Hồ kêu lên cùng
Sainteny: “Các ông chớ đối xử với tôi theo cách nầy, tôi
không thể trở về với tay không, hãy cho tôi một khí giới
gì để chống với bọn người ở đấy (Hà Nội) đang rình
chờ truất phế tôi...” Cuối cùng, nửa đêm 14 tháng 9, 1946
Hồ đến gõ cửa phòng ngủ nhà Marius Moutet, Bộ Trưởng Thuộc
Ðịa Hải Ngoại, một Tạm Ước (Modus Vivendi) được ký kết
cấp thời, qua đó Hồ nhượng bộ cho Pháp tất cả đòi hỏi,
để có được hai “lời hứa”: 1/ Sẽ tổ chức một cuộc
Trưng Cầu Dân Ýù về vấn đề Nam Kỳ. 2/ Tái xét lại việc
hai bên tiếp tục thương thảo, tháng Giêng năm 1947 là chậm
nhất. Ngày 19 tháng 12, mặt trận kháng chiến toàn quốc bùng
nỗ. Toàn bộ cơ quan đầu não đảng cộng sản đã ở chốn
an toàn nơi chiến khu Việt Bắc, để trống những mặt trận
nguy nan nhất cho Dân Quân Tự Vệ thành phố suốt từ Bắc
chí Nam. Chắc chắn một điều: Những Chiến Sĩ thuộc Trung
Ðoàn Thủ Ðô ôm bom lao vào xe xích sắt Pháp nơi dường phố
Hà Nội những ngày Tháng 12 năm 1946 kia KHÔNG HỀ LÀ ÐẢNG
VIÊN ÐẢNG CỘNG SẢN, QUYẾT TỬ ÐỂ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI.
Cuộc chiến kéo dài
chín năm dẫn đến hậu quả: Ðất nước bị chia đôi bởi
Hiệp Ðịnh Genève cũng do Pháp và người cộng sản ký kết,
20 tháng 7, 1954, và phải chịu đến 21 năm sau mới thống nhất
với giá máu, mà chỉ tính đến 1973, sau Hiệp Ðịnh Paris,
tổng kết tổn thất cũng đã tới những con số đáng sợ:
Miền Nam chết 183. 528 lính, bị thương nặng 499.026; Miền
Bắc và lính Mặt Trận vong mạng 924.048, chưa kể đến số
lượng 415.000 thường dân Miền Nam tử thương và 935.000 bị
thương trận (Số liệu Year Book 1974, NXB Grôlier, Canada). Ðêm
Giao Thừa Mậu Thân, Tết 1967 sang 1968, Hồ đọc bốn câu “Thơ
Chúc Tết” trên đài Hà Nội:“Xuân nầy hơn hẳn mấy
Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua
dánh giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Bài
thơ bốn câu hai mươi tám chữ đọc lên không quá mấy phút,
tính đến cuối tháng Ba 1968, dẫn ngay tới một kết quả:
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chết và bị thương 20.977; Ðồng
Minh tử thương 4124; riêng về dân chúng Miền Nam chịu một
tổn thất gồm 14.300 chết, bị thương 24.000, và 627.000 người
mất sạch nhà cửa, tài sản ( Khối Quân Sử/ BTTM/QLVNCH).
Người cộng sản cũng không hề nhắc lại (do không hay biết,
hoặc không muốn biết), phiá họ thiệt hại đến 67.834 người
gồm chết, bị thương và bị bắt. Thế nên, họ có thể
đã có phần thành thực khi nói về 170 xác chết bị chôn
sống sau lưng trường học Gia Hội Huế (một trong hai mươi
vị trí mộ tập thể), chỉ là những “thiểu số”
không đáng kể bởi so sánh với tổn thất gần bảy mươi
vạn người mạng vong, thương tật kia chăng?! Ðáng sợ thay,
chỉ một quá trình vài phút khi hiện thực hai mươi tám chữ
ngắn ngủi của cái gọi là ”tư tưởng hồ chí minh”.
X-Kết Từ .
Ông Th Trg thân,
Tôi bắt đầu bài viết
nầy từ cuối tháng Ba, với phản ứng phiền nhiễu nặng
nặng trong lòng do “mặc cảm có tội vì được sống sót,
chữ viết ra thấy cũng vô ích”- Cảm giác có thật khi
từ Pleiku theo đoàn di tản về đến Tuy Hoà, bám trực thăng
vào Nha Trang. Ðêm Mùa Phục Sinh, tháng Ba 1975, bãi biển chập
chờn thấp thoáng những cụm người tỵ nạn lẫn tiếng than
gầm ghìm chen sóng biển đỏ màu máu dưới trăng. Bài viết
kéo dài qua hết tháng Tư, nỗi não nề kia càng thêm đậm
sắc, lại phải đề cập đến người và việc mà thật tâm
chỉ muốn vất đi. Khổ thay, phần im lặng lại bị suy
diễn như một cách đồng thuận và những người lính
từ lâu không nói lại bị nêu ra như chứng cớ về sự
hoà hợp để hợp lý hoá cho Tội Aùc. Tuy nhiên, cũng
như lần chia tay nơi tận sâu hoạn nạn, khổ nhục, mà chỉ
một biên giới cực nhỏ cuối cùng sẽ bước qua bên cảnh
chết. Ông với tôi vẫn luôn duy trì hy vọng và giữ
chặt cây bút với cực độ
tự tin - Công việc mà chúng
ta hằng thực hiện mấy mươi năm qua. Cũng sắp hết một
đời người với chừng ấy việc mà thôi- Việc của Người
Lính cầm bút viết thành văn.
Nhân “ngày sinh không
thật của sự chết có thật”.
19 tháng 5, 1999
phan nhật nam
|