Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT


.

Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Những Bài Viết Của Phan Nhật Nam

Ðốt Cháy Thân Nên Ngọn Lửa

Người Nhật là một dân tộc lớn với những phẩm chất cao về lòng ái quốc, tinh thần kỹ luật, cung cách sống nghiêm chỉnh thanh lịch, tự giác tôn trọng nghĩa vụ ï- Một trong những biễu hiện sâu sắc, đầy đủ nhất của những bản sắc trên là thái độ quyết liệt cao thượng của họ đối với sự chết - Xử dụng Cái Chết nên thành một hành vi hiến tế: Seppuku - Mỗ Bụng Tự Sát khi danh dự cá nhân, tập thể và cao nhất - khi Tổ Quốc bị xúc phạm. Hành vi can trường của những phi công hải quân Nhật trong những trận không- hải chiến với hạm đội của Ðô Ðốc Nimitz, Mỹ trong những ngày tháng 6, 1944 ở vùng vịnh Phi Luật Tân, lãnh hải nước Nhật để quyết định vận mệnh chiến trường Thái Bình Dương đã gây những thiệt hại trầm trọng cho hạm đội Mỹ bằng chiến thuật Kamikase-Thần Phong: Biến con tàu và tự thân mình nên thành vũ khí lao vào hũy diệt mục tiêu đối phương. 

Người Việt Nam có phương thức bày tỏ riêng qua hành vi lặng lẽ, kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt, với điềm tỉnh sáng suốt kỳ lạ: Hiến thân thành Ánh Lửa soi sáng, chế phục Sự Aùc và Bạo Lực.

9 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 6, 1963 Thượng Tọa Thích Quảng Ðức được đưa đến Ngã Tư Lê Văn Duyệt- Phan Ðình Phùng, trước Toà Ðại Sứ Miên, trong một chiếc xe hơi nhỏ. Người bước ra xe, đi chậm rãi một đoạn ngắn, nét mặt trầm tĩnh bình lặng, xong ngồi xuống giữa vòng vây của khoảng 400 tăng, ni. Một tăng sĩ tưới bình xăng lên thân thể con người, một người khác bật hộp quẹt.. Ngọn lửa vàng bừng bừng lấp lánh vạt cà sa màu vàng của Người Tự Hiến - Lửa rừng rực, lửa nghi ngút, lưỡi lửa bốc cao lên trời át hẳn màu nắng sáng của Sài gòn, miền Nam đang ngày Hè rực rỡ. Khói đen, lửa ngọn bùng bùng cháy đỏ, nóng sôi da thịt, nhưng Người vẫn ngồi im với tư thế tọa thiền, hai tay đặt yên trên đôi chân khép vững. Cuối cùng, sức nóng và ngọn lửa dồn dập xô đẩy xác thân cháy đen ngã xuống.. Nhưng như ánh sáng thanh nhiên bất hoại của mặt trời, dẫu xác thân bị thiêu hũy, hư mất, từ Lửa, Trái Tim của Hòa Thượng Người vẫn còn nguyên vẹn, hằng sống. Ðiều kỳ diệu nầy đã xác chứng: Sức mạnh Ðức Tin-Tình Thương là năng lực tối thượng mà Con Người có thể thực hiện ngay trong điền kiện, môi trường trần thế với phận nghiệp nhỏ bé bi thảm của mình - Ðấy cũng là năng lực siêu nhiên hiện hữu hằng có của Thượng Ðế. Và chính là Thượng Ðế. Qua cái chết từ vũng lửa, Bậc Ðại Trí Nhân Thích Quảng Ðức chuyển lại sức Ðại Hùng, Ðại Lực cho toàn giáo hội, tăng, ni, phật tử, cũng riêng đến Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với lời tha thiết nhắc nhở: Thực thi "Bác Aùi, Từ Bi đối với tất cả các tôn giáo". Tuyệt đối không một tiếng lời, chữ nghĩa kích động bạo lực, thúc dục sự ác. 

Lửa! Lửa! Lửa! 

Lửa cháy ngất tòa sen

Phật hiễn hiện mười phương quỳ cả xuống..

Vũ Hoàng Chương đã viết nên những lời hùng vĩ mỹ lệ nhất của đời làm thơ, dùng chữ của mình. 

Tiếp theo nơi Miền Trung, Ni Cô Ngô Thị Thu Minh, Pháp Danh Diệu Quang, rời ngôi chùa nhỏ ở Nha Trang, một mình theo xe đò ra Ninh Hòa, quận lỵ vắng vẻ, phía bắc thành phố, cạnh Quốc Lộ I. Ni cô đi vào một khoảng rừng thưa thớt, cây lá rì rào hơi gió tịch mịch. Người nữ tu trầm mặc ngồi xuống trên lá cỏ, ngước nhìn trời xanh, thoáng nghĩ đến mẹ, cha, các em ở căn nhà số 2 Ðường Sinh Trung, thân bằng, quyến thuộc vùng Xóm Mới, và cuối cùng, giòng suy tưởng tụ lại nơi miên viễn đau thương của toàn sinh linh, dân tộc. Ni Cô nhắm mắt, niệm Nam Mô Quán Thế Aâm, trút dầu lên thân và châm lửa.. Lửa bùng lên cháy sáng khu rừng. Chim muông, cây lá, hơi gió, màu nắng, đất trời cùng lúc sững im đưa tiễn Con Người về cõi không cùng từ, với Lửa Từ Bi. 

Chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa, chính thể cộng hòa, dân chủ Miền Nam không chỉ bị sụp vỡ do từ hậu quả vận động bạo loạn của những sĩ quan, tướng lãnh muốn chiếm đoạt, thủ đắc quyền lực, xô đẩy tập thể người lính vào vùng tương tranh; cùng lúc với chiến tranh do người Mỹ dụng tâm phát khởi, điều động theo cùng ý lực, khả năng riêng của họ;ï và quyết tâm sắc máu phía cộng sản bất chấp nỗi đau của toàn khối người Việt hai miền. Nhưng chế độ đó đã thực sự bắt đầu lần tự hũy diệt khi người cầm quyền che mặt trước ánh sáng Tính Thật của Ðạo Lý Dân Tộc- vất bỏ Lòng Tin của vạn triệu Dân, Lính - những người đã chọn Miền Nam làm nơi trú ngụ, quê hương hy vọng cuối cùng sau bao thế kỷ, năm tháng dài khổ nạn. 

Nhưng Chúng Ta - Người Việt nơi Miền Nam, không hề chủ trương Bạo Ðộng, đề cao Bạo Lực. 

Và quả là một liên hệ kỳ diệu mà chỉ những người trung chính, với thiện tâm tuyệt đối mới có thể thực hiện được: Hành vi xã kỷ của những vị Thánh Tử Ðạo ở Việt Nam (thay mặt những khối đông người Việt luôn cố gắng giữ tròn khí tiết qua thống khổ; chịu đựng bền bỉ nhục nhằn, áp bức) là hiện thực đầy đủ nhất những điều mà Gandhi đã từng xiễn dương, vận động với chính bản thân dân tộc mình trong một thời kỳ bão táp trước, sau Ðệ Nhị Thế Chiến, ở một nước Ấn Ðộ đang cùng lúc bị cấu xé bởi phân liệt giai cấp, gánh nặng thực dân ngoại quốc, dân trí thấp kém, cảnh sống cùng khổ, lầm than. "Người tận hiến cho chủ trương Bất Bạo Ðộng là người tôi luyện khả năng tự hy sinh- và hình thái cao cả nhất là bứt thoát khỏi sợ hãi. Họ chỉ có một mối sợ duy nhất - Kính sợ Trời. Kẻ bạo động cần có vật ngoại thân để che chắn; người bất bạo động chỉ nại đến phù trợ của Ðại Ngã - để bảo vệ phẩm tiết của chính bản thân họ. Chúng ta cần phải tôi luyện để bất chấp điều nguy biến, sự chết; khinh miệt, vất bỏ xác thịt, và chiếm giữ khả năng hứng chịu, vượt thoát mọi nỗi khắc nghiệt cam go." (*)

Hãnh diện, cảm động biết bao khi chúng ta nhận ra - Chính chúng ta từ thân phận người Việt đã thực hiện toàn hão, đúng đắn nhất điều mà bậc minh triết không những chỉ riêng Dân Tộc ÁÂn, mà chung cho cả nhân loại hằng hy vọng, ấp ủ, đề cao: "Người bất bạo động là "kẻ biết chết bản thân" trước khi kẻ thù giết hại mình.. Họ là người tự do cất dở ràng buộc thể xác, và sống trong vinh quang toàn thắng tâm hồn. Và khi đã sẵn sàng cho một lần chết với ý nghĩa như thế, thì họ đâu còn tính đến chuyện sát hại, giết bỏ những ai khác?(**) Bởi tự Gandhi chứ không ai khác đã khẳng định với kinh nghiệm của bản thân: "Tôi biết điều ấy (bất bạo động) không thể chứng minh bằng lý lẽ (thông thường) được. Nó chỉ được xác nhận bởi những con người sống tận cùng với bản thân xương máu họ - Những người hoàn toàn không hề kể đến sinh mạng của chính mình." (***)

Có chữ nghĩa nào xác đáng hơn những giòng trên để biễu hiện đủ hành vi hiến tế cao cả của liệt vị Danh Tướng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú.. về những con người vời vợi uy dũng, bình thản trước cái chết như Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long, Thiếu Uý Huỳnh Văn Phái và trung đội nhảy dù của anh. Và ở đâu, nơi nào trên quả đất, với phận người, người đàn bà, đã có Chị Nguyễn Thị Thàng vợ của Nghĩa Quân trưởng đồn Giồng Trôm, Kiến Hòa đã cùng những đứa con, bên cạnh xác chồng, nỗ tung trái lựu đạn cuối cùng tại giờ phút đau thương oan nghiệt của sáng 30 tháng Tư, 1975. Năm 1802, để thực hiện lời nguyền "báo thù cho tiên đế ba đời", Nguyễn Vương Gia Long xử tử tất cả triều đình Tây Sơn bằng những biện pháp hành hình gớm ghê man rợ nhất. Nữ Tướng Bùi Thị Xuân trước giờ vĩnh quyết ở pháp trường, đã quắt mắt, bật tiếng hét oai vũ khiến con voi trận (đem đến dày lên con gái nhỏ của bà) phải tung xiềng chạy trốn, và chỉ chết khi thân thể bị xử lăng trì- đốt cháy bởi sợi bấc tẩm dầu cắm sâu vào thịt. Nữ Tướng không tiếng kêu than nhận cái chết để bày tỏ lòng trung nghĩa với chồng, Thái Uùy Trần Quang Diệu và Tiên Vương Quang Trung. Chị Nguyễn Thị Thàng chết cùng lần với chiếc đồn bị bộ đội cộng sản tràn ngập, người chồng vừa tử trận. Ðồn Giồng Trôm, Kiến Hòa ở nơi đâu? Chị Nguyễn Thị Thàng là ai? Tổ quốc, quốc gia, chính phủ, cộng hòa, dân chủ.. hẳn là những chữ nghĩa không nằm trong ý niệm của người đàn bà bình thường ấy. Nhưng quả thật, Người Ðàn Bà Việt Nam tên gọi Nguyễn Thị Thàng đã sống- chiến đấu- chết về một điều đơn giản không bao giờ diễn giải, nói ra lời: Sống-Chết Tự Do - Trọn Nghĩa Vợ Chồng.

Ngày 30 tháng 9, 2002, một người đàn bà Việt Nam khác, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh ra Tòa Án Quận Hạt San Francissco, Tiểu Bang California, Hoa Kỳ do tội danh "Mưu toan tự thiêu để chống đối đại diện nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lần viếng thăm Thành Phố San Francissco năm 2001"

Sau 30 tháng Tư, 1975 cho đến hôm nay, đã đang có rất nhiều Người Việt có chọn lựa và thực hiện phương thức hiến tế vời vợi cao thượng lặng lẽ kể trên. 

(*;**;***) : Gandhi On Non -Violence, Shamblala, Boston & London, 1996 (pp. 73-100) & The Essential Gandhi, Vintage Books, New York 1961 (pp. 180-187)

Phan Nhật Nam
Minnesota

Trang Bìa 
Ðầu trang