Ðốt
Cháy Thân Nên Ngọn Lửa
Người
Nhật là một dân tộc lớn
với những phẩm chất cao về
lòng ái quốc, tinh thần kỹ luật,
cung cách sống nghiêm chỉnh thanh lịch,
tự giác tôn trọng nghĩa vụ
ï- Một trong những biễu hiện sâu
sắc, đầy đủ nhất của
những bản sắc trên là thái
độ quyết liệt cao thượng của
họ đối với sự chết
- Xử dụng Cái Chết nên thành
một hành vi hiến tế: Seppuku - Mỗ
Bụng Tự Sát khi danh dự cá
nhân, tập thể và cao nhất - khi Tổ
Quốc bị xúc phạm. Hành vi can trường
của những phi công hải quân Nhật
trong những trận không- hải chiến
với hạm đội của Ðô
Ðốc Nimitz, Mỹ trong những ngày
tháng 6, 1944 ở vùng vịnh Phi Luật
Tân, lãnh hải nước Nhật
để quyết định vận mệnh
chiến trường Thái Bình Dương
đã gây những thiệt hại trầm
trọng cho hạm đội Mỹ bằng chiến
thuật Kamikase-Thần Phong: Biến con tàu
và tự thân mình nên thành
vũ khí lao vào hũy diệt mục
tiêu đối phương.
Người Việt Nam có
phương thức bày tỏ riêng
qua hành vi lặng lẽ, kín đáo
nhưng không kém phần mãnh liệt,
với điềm tỉnh sáng suốt
kỳ lạ: Hiến thân thành Ánh
Lửa soi sáng, chế phục Sự
Aùc và Bạo Lực.
9 giờ 30 sáng ngày
11 tháng 6, 1963 Thượng Tọa Thích
Quảng Ðức được đưa
đến Ngã Tư Lê Văn Duyệt-
Phan Ðình Phùng, trước Toà
Ðại Sứ Miên, trong một chiếc
xe hơi nhỏ. Người bước
ra xe, đi chậm rãi một đoạn ngắn,
nét mặt trầm tĩnh bình lặng,
xong ngồi xuống giữa vòng vây
của khoảng 400 tăng, ni. Một tăng sĩ
tưới bình xăng lên thân
thể con người, một người
khác bật hộp quẹt.. Ngọn lửa
vàng bừng bừng lấp lánh
vạt cà sa màu vàng của Người
Tự Hiến - Lửa rừng rực,
lửa nghi ngút, lưỡi lửa
bốc cao lên trời át hẳn màu
nắng sáng của Sài gòn, miền
Nam đang ngày Hè rực rỡ.
Khói đen, lửa ngọn bùng bùng
cháy đỏ, nóng sôi da thịt,
nhưng Người vẫn ngồi im với
tư thế tọa thiền, hai tay đặt yên
trên đôi chân khép vững.
Cuối cùng, sức nóng và ngọn
lửa dồn dập xô đẩy xác
thân cháy đen ngã xuống.. Nhưng
như ánh sáng thanh nhiên bất hoại
của mặt trời, dẫu xác thân
bị thiêu hũy, hư mất, từ
Lửa, Trái Tim của Hòa Thượng
Người vẫn còn nguyên vẹn,
hằng sống. Ðiều kỳ diệu nầy
đã xác chứng: Sức mạnh
Ðức Tin-Tình Thương là năng
lực tối thượng mà Con Người
có thể thực hiện ngay trong điền
kiện, môi trường trần thế
với phận nghiệp nhỏ bé bi thảm
của mình - Ðấy cũng là
năng lực siêu nhiên hiện hữu
hằng có của Thượng Ðế.
Và chính là Thượng Ðế.
Qua cái chết từ vũng lửa,
Bậc Ðại Trí Nhân Thích Quảng
Ðức chuyển lại sức Ðại
Hùng, Ðại Lực cho toàn giáo
hội, tăng, ni, phật tử, cũng riêng
đến Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm với lời tha thiết nhắc
nhở: Thực thi "Bác Aùi, Từ
Bi đối với tất cả các
tôn giáo". Tuyệt đối không
một tiếng lời, chữ nghĩa
kích động bạo lực, thúc dục
sự ác.
Lửa! Lửa! Lửa!
Lửa cháy ngất
tòa sen
Phật hiễn hiện mười
phương quỳ cả xuống..
Vũ Hoàng Chương
đã viết nên những lời
hùng vĩ mỹ lệ nhất của đời
làm thơ, dùng chữ của mình.
Tiếp theo nơi Miền Trung,
Ni Cô Ngô Thị Thu Minh, Pháp Danh Diệu
Quang, rời ngôi chùa nhỏ ở
Nha Trang, một mình theo xe đò ra Ninh Hòa,
quận lỵ vắng vẻ, phía bắc thành
phố, cạnh Quốc Lộ I. Ni cô đi
vào một khoảng rừng thưa thớt,
cây lá rì rào hơi gió tịch
mịch. Người nữ tu trầm mặc
ngồi xuống trên lá cỏ, ngước
nhìn trời xanh, thoáng nghĩ đến
mẹ, cha, các em ở căn nhà số
2 Ðường Sinh Trung, thân bằng,
quyến thuộc vùng Xóm Mới, và
cuối cùng, giòng suy tưởng tụ
lại nơi miên viễn đau thương
của toàn sinh linh, dân tộc. Ni Cô nhắm
mắt, niệm Nam Mô Quán Thế Aâm,
trút dầu lên thân và châm
lửa.. Lửa bùng lên cháy
sáng khu rừng. Chim muông, cây lá,
hơi gió, màu nắng, đất trời
cùng lúc sững im đưa tiễn
Con Người về cõi không cùng
từ, với Lửa Từ Bi.
Chế độ Ðệ Nhất
Cộng Hòa, chính thể cộng hòa,
dân chủ Miền Nam không chỉ bị
sụp vỡ do từ hậu quả vận
động bạo loạn của những sĩ
quan, tướng lãnh muốn chiếm
đoạt, thủ đắc quyền lực,
xô đẩy tập thể người
lính vào vùng tương tranh; cùng
lúc với chiến tranh do người
Mỹ dụng tâm phát khởi, điều
động theo cùng ý lực, khả
năng riêng của họ;ï và quyết
tâm sắc máu phía cộng sản bất
chấp nỗi đau của toàn khối
người Việt hai miền. Nhưng chế
độ đó đã thực sự
bắt đầu lần tự hũy diệt
khi người cầm quyền che mặt trước
ánh sáng Tính Thật của Ðạo
Lý Dân Tộc- vất bỏ Lòng Tin
của vạn triệu Dân, Lính - những
người đã chọn Miền Nam
làm nơi trú ngụ, quê hương
hy vọng cuối cùng sau bao thế kỷ,
năm tháng dài khổ nạn.
Nhưng Chúng Ta - Người
Việt nơi Miền Nam, không hề chủ
trương Bạo Ðộng, đề cao Bạo
Lực.
Và quả là một liên
hệ kỳ diệu mà chỉ những
người trung chính, với thiện
tâm tuyệt đối mới có
thể thực hiện được: Hành
vi xã kỷ của những vị Thánh
Tử Ðạo ở Việt Nam (thay mặt
những khối đông người
Việt luôn cố gắng giữ tròn
khí tiết qua thống khổ; chịu đựng
bền bỉ nhục nhằn, áp bức)
là hiện thực đầy đủ
nhất những điều mà Gandhi đã
từng xiễn dương, vận động
với chính bản thân dân tộc
mình trong một thời kỳ bão táp
trước, sau Ðệ Nhị Thế Chiến,
ở một nước Ấn Ðộ
đang cùng lúc bị cấu xé bởi
phân liệt giai cấp, gánh nặng thực
dân ngoại quốc, dân trí thấp
kém, cảnh sống cùng khổ, lầm
than. "Người tận hiến
cho chủ trương Bất Bạo Ðộng
là người tôi luyện khả năng
tự hy sinh- và hình thái cao cả
nhất là bứt thoát khỏi sợ
hãi. Họ chỉ có một mối sợ
duy nhất - Kính sợ Trời. Kẻ
bạo động cần có vật ngoại
thân để che chắn; người
bất bạo động chỉ nại đến
phù trợ của Ðại Ngã - để
bảo vệ phẩm tiết của chính bản
thân họ. Chúng ta cần phải tôi
luyện để bất chấp điều
nguy biến, sự chết; khinh miệt, vất
bỏ xác thịt, và chiếm giữ
khả năng hứng chịu, vượt
thoát mọi nỗi khắc nghiệt cam go."
(*)
Hãnh diện, cảm động
biết bao khi chúng ta nhận ra - Chính chúng
ta từ thân phận người Việt
đã thực hiện toàn hão,
đúng đắn nhất điều
mà bậc minh triết không những
chỉ riêng Dân Tộc ÁÂn, mà
chung cho cả nhân loại hằng hy vọng,
ấp ủ, đề cao: "Người
bất bạo động là "kẻ
biết chết bản thân" trước
khi kẻ thù giết hại mình.. Họ
là người tự do cất dở
ràng buộc thể xác, và sống
trong vinh quang toàn thắng tâm hồn. Và
khi đã sẵn sàng cho một lần
chết với ý nghĩa như thế,
thì họ đâu còn tính đến
chuyện sát hại, giết bỏ những
ai khác?(**) Bởi tự Gandhi
chứ không ai khác đã khẳng
định với kinh nghiệm của bản
thân: "Tôi biết điều
ấy (bất bạo động) không thể
chứng minh bằng lý lẽ (thông
thường) được. Nó chỉ
được xác nhận bởi những
con người sống
tận cùng với bản thân xương
máu họ - Những người hoàn
toàn không hề kể đến sinh
mạng của chính mình." (***)
Có chữ nghĩa nào
xác đáng hơn những giòng
trên để biễu hiện đủ hành
vi hiến tế cao cả của liệt vị
Danh Tướng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn
Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng,
Phạm Văn Phú.. về những con người
vời vợi uy dũng, bình thản
trước cái chết như Ðại
Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Cảnh
Sát Nguyễn Văn Long, Thiếu Uý Huỳnh
Văn Phái và trung đội nhảy dù
của anh. Và ở đâu, nơi
nào trên quả đất, với
phận người, người đàn
bà, đã có Chị Nguyễn Thị
Thàng vợ của Nghĩa Quân trưởng
đồn Giồng Trôm, Kiến Hòa
đã cùng những đứa
con, bên cạnh xác chồng, nỗ tung trái
lựu đạn cuối cùng tại giờ
phút đau thương oan nghiệt của sáng
30 tháng Tư, 1975. Năm 1802, để thực
hiện lời nguyền "báo thù cho
tiên đế ba đời", Nguyễn
Vương Gia Long xử tử tất cả
triều đình Tây Sơn bằng những
biện pháp hành hình gớm ghê
man rợ nhất. Nữ Tướng
Bùi Thị Xuân trước giờ
vĩnh quyết ở pháp trường,
đã quắt mắt, bật tiếng hét
oai vũ khiến con voi trận (đem đến
dày lên con gái nhỏ của bà)
phải tung xiềng chạy trốn, và chỉ
chết khi thân thể bị xử lăng
trì- đốt cháy bởi sợi
bấc tẩm dầu cắm sâu vào thịt.
Nữ Tướng không tiếng kêu
than nhận cái chết để bày tỏ
lòng trung nghĩa với chồng, Thái
Uùy Trần Quang Diệu và Tiên Vương
Quang Trung. Chị Nguyễn Thị Thàng chết
cùng lần với chiếc đồn
bị bộ đội cộng sản tràn
ngập, người chồng vừa tử
trận. Ðồn Giồng Trôm, Kiến
Hòa ở nơi đâu? Chị Nguyễn
Thị Thàng là ai? Tổ quốc, quốc
gia, chính phủ, cộng hòa, dân chủ..
hẳn là những chữ nghĩa
không nằm trong ý niệm của người
đàn bà bình thường ấy.
Nhưng quả thật, Người Ðàn
Bà Việt Nam tên gọi Nguyễn Thị
Thàng đã sống- chiến đấu-
chết về một điều đơn
giản không bao giờ diễn giải,
nói ra lời: Sống-Chết Tự
Do - Trọn Nghĩa Vợ Chồng.
Ngày 30 tháng 9, 2002, một
người đàn bà Việt Nam khác,
Nguyễn Thị Ngọc Hạnh ra Tòa Án
Quận Hạt San Francissco, Tiểu Bang California, Hoa Kỳ
do tội danh "Mưu toan tự thiêu để
chống đối đại diện nhà
nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Phó Thủ Tướng
Nguyễn Tấn Dũng lần viếng thăm
Thành Phố San Francissco năm 2001"
Sau 30 tháng Tư, 1975 cho
đến hôm nay, đã đang có
rất nhiều Người Việt có
chọn lựa và thực hiện phương
thức hiến tế vời vợi
cao thượng lặng lẽ kể trên.
(*;**;***) : Gandhi On Non -Violence,
Shamblala, Boston & London, 1996 (pp. 73-100) & The Essential
Gandhi, Vintage Books, New York 1961 (pp. 180-187)
Phan Nhật Nam
Minnesota
|