ÐỒNG
MINH "KHÔNG" THÁO CHẠY...
Dẫn nhập
Năm 2005 vừa qua, trong khi thị
trường sách khắp nơi rơi vào cuộc khủng khoảng chung không
tránh được (trong nước, ngoài nước, hoặc tất cả các
nước khác, bao gồm Mỹ..) do cạnh tranh của điện ảnh, vô
tuyến truyền hình, dĩa CD, DVD, và nhất sự nở rộ của máy
computer càng ngày càng thâu nhỏ, gọn, nhẹ, và có thể thực
hiện nhiều chức năng cùng một lúc - Sách, báo, sản phẩm
in ấn là nạn nhân đầu tiên bị co cụm trong thời đại
bùng vỡ kỹ thuật tin học đang càng ngày càng phát triển.
Thị trường sách của Người Việt hải ngoại (ở trong nước
chắc cũng không khác) còn bị tác động thêm bởi yếu tố
cụ thể: Số lượng người đọc sách tiếâng Việt (hay ngữ
văn nào khác) càng ngày càng sút giảm. Nhưng sách Khi Ðồng
Minh Tháo Chạy (1) của tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã đạt
tới số bán kỷ lục trong một thời gian dài (kéo dài suốt
hơn nửa năm 2005) bởi những lẽ sau đây:
- Tác giả có sở học chuyên môn
cao: Du học Hoa Kỳ từ 1958, tốt nghiệp Tiến Sĩ Kinh Tế 1963;
nắm giữ những vị thế chính trị, chức vụ hành chánh quan
trọng thuộc chế độ Ðệ Nhị Cộng Hòa: Phụ Tá Tổng Thống
về Tái Thiết (1971-1973); Tổng Trưởng Kế Hoạch (1973-1975).
Khoảng một tháng trước ngày 30 tháng Tư, 1975, Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu giao cho ông cất giữ một số hồ sơ mật
về bang giao Việt-Mỹ liên quan đến việc ký kết Hiệp Ðịnh
Paris, 27 tháng 1, 1973. Ðặc biệt những văn bản cam kết
của cá nhân Tổng Thống Nixon với Tổng Thống Thiệu trường
hợp phiá cộng sản vi phạm không thi hành hiệp định (!)
(Một số thư mật cũng do cựu Tổng Trưởng Thông Tin Dân
Vận Chiêu Hồi Hoàng Ðức Nhã chuyển cho Tiến Sĩ Hưng) Ngày
14 tháng 4, 1975 Tổng Thống Thiệu phái ông cùng Ngoại Trưởng
Vương Văn Bắc, Ðại Sứ Trần Kim Phượng đi Mỹ cầu viện
lần cuối cùng. Nhưng do tình hình quân sự biến chuyển, suy
sụp quá mau chóng, cuộc vận động không thành. Cũng do lưỡng
viện quốc hội Mỹ quyết định cắt hẳn viện trợ quân
sự cho Việt Nam (cùng đối với toàn bộ ba nước Ðông Dương),
và tổng thống đương nhiệm Gerald Ford vốn chỉ là người
kế thừa nhiệm vụ sau vụ án chính trị Watergate, không muốn
dính líu vào tình thế tuyệt vọng, bế tắc của Việt Nam
đang đến hồi kết thúc. (Sau ít ngày tìm cách qui trách
nhiệm cho Quốc Hội, TT Ford tuyên bố tại New Orleans là chiến
tranh Việt Nam đã thành dĩ vãng; tới lúc người Mỹ cần
đoàn kết hướng về tương lai)
Là người nắm hồ sơ, văn thư
mật liên quan đến cam kết giữa hai tổng thống Mỹ-Việt
dẫn tới kết thúc bi thảm của Miền Nam, sau 30 tháng Tư,
1975, tác giả đã công bố những hồ sơ nầy để minh chứng
sự phản bội của Hoa Kỳ (qua những nhân sự cầm quyền)
đối với "đồng minh" Nam Việt Nam.
Sau đó, ông Hưng cùng một tác giả
Mỹ đúc kết những tài liệu mật kể trên thành cuốn The
Palace Files (2), và đồng thời ấn hành một bản dịch
tiếng Việt, tức Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập. Năm
nay 2005, cuốn sách cũ có hiệu đính, bổ túc qua nhan sách
mới nhưng vẫn được quần chúng nôn nức tìm đọc như trên
– Bởi đã được phát hành đúng thời điểm 30 năm mất
Miền Nam (30 tháng Tư, 1975-2005) – Và được số đông dư
luận (qua truyền thanh, báo chí (trọng điểm ở Cali) phổ
biến sâu rộng) là đáp ứng được câu hỏi (đối với Cộng
Ðồng Người Việt Hải Ngoại nói riêng; của người Việt
nói chung) vẫn luôn cần được trả lời thỏa đáng: Tại
sao Miền Nam đã sụp đỗ nhanh chóng đến như vậy?
Chúng tôi, tập thể những người
lính, công nhân, viên chức Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975)
và gia đình là những đối tượng chịu tác động trực tiếp,
trước nhất của giai đoạn kể trên trong suốt thời gian
dài kể từ đầu thập niên 1960 (khi chính quyền, quân đội
Mỹ bắt đầu tham dự trực tiếp vào tình thế Miền Nam),
mà hội chứng khắc nghiệt đến nay vẫn còn di hại, tác
động.
Khi Ðồng Minh Tháo Chạy (cùng với
The Palace
Files) cần phải đọc kỹ hơn, và sau đây có những nhận
định xuất phát từ một mối đau không riêng của một ai.
Cuốn sách nói gì
với chúng ta?
Sách gồm có năm phần chính được
tác giả đặt tên theo những tiểu đề bao gồm những nội
dung như sau:
1/ Làm sao thoát khỏi vũng lầy:
Phần mở đầu nầy giới thiệu những nét tổng quát về
người: Kissinger, Nixon, Johnson, Nguyễn Văn Thiệu.. Và sự việc
từ khi Tổng Thống Thiệu bắt đầu nhiệm kỳ 1967-1971; Hội
Nghị bốn bên Paris dự trù khai mạc cuối năm 1968; và kỳ
bầu cử tổng thống Mỹ cùng năm; cho đến Thông Cáo Chung
giữa Kissinger và Lê Ðức Thọ, 13 tháng 6, 1973. Phần nầy
bàn về thời điểm, và cách thức Mỹ tháo gỡ khỏi "Vũng
lầy Việt Nam" qua Hiệp Ðịnh Paris, ký ngày 27 tháng 1,
1973.
2/ Thân phận tiểu quốc: Bàn
về những hậu quả Miền Nam phải gánh chịu sau Hiệp Ðịnh
Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam.
Những hạn chế, cắt giảm (của quốc hội, chính phủ Mỹ)
về viện trợ kinh tế (trước, sau khi ký hiệp định) khiến
toàn bộ nền kinh tế quốc gia bị tác động điêu đứng;
giá nhu yếu phẩm, các mặt hàng chiến lược (gạo, dầu,
xăng..) đồng tăng vọt; số lượng hàng nhập cảng giảm
xuống còn một nửa. Trong lúc chính phủ Miền Nam đang cố
gắng cải thiện tình hình kinh tế bằng những biện pháp
khả thể thì mức độ chiến tranh tăng vọt (Tổng tấn công
năm 1972) làm trầm trọng thêm gánh nặng cứu trợ người
tỵ nạn, tu sửa hạ tầng cơ sở bị tàn phá. Những đường
hướng tháo gỡ qua các quốc gia khác (không phải Mỹ) bị
bế tắc, không thực hiện bởi nhiều nguyên nhân khách quan
lẫn chủ quan.
3/ Khi đồng minh tháo chạy:
Kể lại những sự kiện
quan trọng ở Mỹ từ ngày 8 tháng 8, 1974, khi Tổng Thống Richard
Nixon từ chức do vụ án chính trị Watergate. Tổng Thống Ford
vốn là một dân biểu hạ viện được kế vị do hiến định
nên khoán trắng vấn đề đối ngoại, an ninh quốc gia cho
Cố Vấn kiêm Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger. Số phận Việt
Nam được quyết định bởi chính cá nhân người đã xây
dựng nên Hiệp Ðịnh ngày 27 tháng 1, 1973 mà hậu quả là
viện trợ kinh tế bị cắt khoảng 50% (theo đề nghị của
Thượng Nghị Sĩ Kennedy), và viện trợ quân viện được xác
nhận ở số 625 triệu, có thể chỉ là 500 triệu (tức cắt
đến 60%). Như thế, nếu không có biến cố tháng 30 tháng
Tư thì chỉ đến khoảng tháng 6/1975 đạn tồn kho sẽ hết,
và đến tháng 8 là hết sạch. Tổng Thống Ford cố làm yên
lòng Tổng Thống Thiệu bằng cách cử phái đoàn Thứ Trưởng
Quốc Phòng Clements sang Sài Gòn; ông Thiệu chỉ định Ðại
Sứ Trần Kim Phuợng, Tổng Trưởng Vương Văn Bắc sang gặp
Tổng Thống Ford. Tổng Thống Mỹ hứa cứu xét đến quân
viện bổ sung 300 triệu để phục hồi lại con số một tỷ
như hoạch định. Tháng 12, 1974 tỉnh Lỵ Phước Long bị mất,
chính phủ Hoa Kỳ qua bản thân Tổng Thống Ford, Ngoại Trưởng
Kissinger không có hành động đáp ứng cụ thể nào như đã
hứa hẹn, cam kết. Một phái đoàn quốc Hội Mỹ (gồm toàn
những nhân sự chống đối với chính quyền, thành phần lãnh
đạo VNCH) đến Sài Gòn tìm hiểu tại chỗ để đi đến
quyết định có viện trợ (quân sự) nữa hay không(!?) Ngày
10 tháng Ba, đại quân miền Bắc tấn công Ban Mê Thuộc; Chủ
Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Washington trở về với
tin sét đánh: "Không những không có 300 triệu quân viện bổ
sung mà có thể không còn viện trợ quân sự nữa." Ngày 13
tháng Ba, ban lãnh đạo Ðảng Dân Chủ (chiếm đa số trong
hai viện quốc hội Mỹ) đồng bỏ phiếu: "Chống bất cứ
viện trợ nào thêm cho Việt Nam." Ngày 14/3 cuộc họp tại
Cam Ranh gồm đủ tất cả viên chức lãnh đạo VNCH dưới
quyền chủ tọa của Tổng Thống Thiệu quyết định:
Bỏ
Cao Nguyên (17 tháng Ba) để tái phối trí lực lượng. Tiếp
theo là hậu quả giây chuyền: 24 tháng Ba mất Huế-Quảng Trị;
30/3 mất Ðà Nẵng; 31/3 mất NhaTrang. Và cuối cùng là Sài
Gòn với ngày 30 tháng Tư, 1975. (Xin mở ngoặc đơn ở đây.
Trong sách KÐMTC, Tiến sĩ Hưng không nhắc đến buổi họp
tại hành lang Dinh Ðộc Lập sáng ngày 11/3/1975, gồm TT Thiệu,
Thủ tướng Khiêm, Ðại tướng Viên, và Trung tướng Quang,
đưa ra chiến lược "Ðầu bé đít to." Ngày 12/3, nhân
viên Tòa Ðại sứ Mỹ cũng cho TT Thiệu biết hết rằng mọi
quyết định chiến lược là do VNCH tự quyết định.)
4/ Rước của nợ hay được
của có:
Ðại Sứ Martin đã
vận dụng tất cả năng lực của một vị đại sứ để
có thể di tản tối đa số người Việt (cần phải di tản),
hết thảy kiều dân Mỹ, và gia đình của họ trong tình trạng
hiểm nghèo của cơn sụp đổ toàn diện. Hơn thế nữa, ý
kiến chung từ Washington là không muốn di tản người Việt,
cũng không muốn sử dụng quân đội Mỹ yểm trợ một cuộc
di tản. Nỗ lực và tấm lòng của vị đại sứ đã có kết
quả khích lệ, số người Việt được mang ra khỏi nước
150.000 người thay vì 50,000 như dự trù ban đầu - Làm tiền
đề cho việc cứu trợ quy mô sau nầy. Tác giả Nguyễn Tiến
Hưng đã lấy tư cách cá nhân chủ trì cuộc họp báo ở Washington
vào ngày 30 tháng 4 (ngày 1 Tháng 5 tại Sài Gòn) trình bày những
mật thư (của Nixon gởi ông Thiệu) để yêu cầu quốc hội,
chính phủ Mỹ giữ lời cam kết – Dẫu muộn màng nhưng cấp
bách qua việc cứu trợ người tỵ nạn (hiện tại ở thời
điểm 5/75 và mai hậu) – Nhờ vậy sau nầy di tản được
tổng số một triệu người.
5/ Nhìn lại lịch sử: Phần
nầy được xem như đúc kết của cuốn sách bằng việc nhìn
lại những khó khăn của chặng đường vừa qua của cuộc
di tản và công cuộc định cư người tỵ nạn - Không hoàn
toàn là dễ dàng (dẫu là một công tác nhân đạo) do chống
đối từ nhiều phía, từ quốc hội, dư luận Mỹ (với 54%
không muốn nhận người di tản – Chỉ số thăm dò của Viện
Gallup, tháng 5/1975), cho đến sự nhẫn tâm, phủi tay của các
nước Ðông Nam Á (trừ Singapore). Phần nhìn lại cũng đánh
giá về sự lệ thuộc vật chất và tinh thần quá nặng nề
của xã hội, quân đội, chính quyền Việt Nam đối với viện
trợ quân sự-kinh tế Mỹ – Biến thái nên thành một "xã
hội tiêu thụ - một quân đội không (thể) chiến đấu độc
lập" – Và khi nguồn viện trợ này bị cắt đứt thì
xã hội, quân đội, chính quyền kia bị sụp đổ như là điều
hiển nhiên. Ðấy là bài học cho những cá nhân, tập đoàn
cầm quyền của các quốc gia muốn tìm kiếm đồng minh đối
với nguời Mỹ. Vấn đề cuối cùng vẫn chỉ là Người Việt
phải biết tự cứu như thế nào.
Phần kết luận, Thay Lời Cuối
là lời cảm tạ của
tác giả, một người đã đơn độc khởi đầu gióng lên
lời kêu cứu về thảm trạng người tỵ nạn Việt Nam (Tháng
4/1975), sau đó khai triển và kéo dài nên thành một chương
trình tỵ nạn rộng khắp kéo dài trong hai thập niên với
hơn nửa triệu người của ba nước Ðông Dương được định
cư khắp nơi trên thế giới - Hiện thực cuộc di cư vĩ đại
và lâu dài nhất của lịch sử nhân loại.
Và cuối cùng, Phần Phụ Lục
gồm các bản sao các bức thư mật của những người lãnh
đạo hai quốc gia Mỹ-Việt trong thập niên 70; các văn thư
liên lạc giữa tác giả với nhân sự, chính quyền Mỹ về
vụ việc liên quan đến nội dung trình bày trong sách.
"Chạy" hay "Không
Chạy"?!
Trước khi trình bày phần chính
của chủ đề bài viết, chúng tôi xin chuyển lời cám ơn
chân thành đến tác giả bởi đã viết nên một cuốn sách
(bao gồm bản Anh ngữ The Palace files), nêu bật được những
nét chính về mối liên hệ Việt-Mỹ vào một thời đoạn
khó khăn, phức tạp nhất trong quá trình chính trị-quân sự
của một cuộc chiến mà đến giờ nầy vẫn còn nhiều ẩn
số, những vấn nạn chưa được giải quyết. Chúng tôi cũng
cám ơn Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng với những Người Bạn
Mỹ Hào Hiệp đã xây dựng nên, thực
hiện được một phong
trào cứu trợ người di tản Ðông Dương mà thành quả hôm
nay đáng hãnh diện và tự hào với những Cộng Ðồng Người
Việt vững mạnh, phát triển ở Mỹ và khắp nơi trên thế
giới. Nhưng chúng ta cần bàn lại một cách khách quan và xác
thực về Yếu Tố Quyết Ðịnh kết nên lần "tháo
chạy" của Mỹ qua sụp đổ của Nam Việt Nam. Ðồng thời
cùng xét lại những biện pháp khả thể thực thi mà những
người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa đáng lẽ phải vận động,
hành xử để cứu nước, cứu dân.
Ðắc cử cuối năm 1952, tháng Giêng
năm 1953, vừa nhậm chức, Phó Tổng Thống Richard Nixon, 40 tuổi
bắt đầu sắp xếp cuộc viếng thăm các nước Châu Á ngay
từ trong thời hạn tiên khởi của nhiệm kỳ tổng thống,
với tư cách đại diện Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 34, Dwight
Eisenhower. Sở dĩ có cuộc viếng thăm sớm sủa như thế, do
hai nhân vật lãnh đạo Hoa Kỳ mới đồng có nhận định:
Tổng Thống Eisenhower vốn thuộc giới quân sự, nguyên tổng
tư lệnh lực lượng đồng minh trong Chiến Dịch
Over Lord,
đổ bộ qua ngã Nordmandie của Pháp, giải phóng Tây Âu, chấm
dứt Chiến Tranh Thế Giới lần hai tại mặt trận Châu Âu
vào tháng Năm, 1945. Cuộc bầu cử tổng thống cuối năm 1952
đưa Ðại Tướng Eisenhower vào chức vụ Tổng Thống Mỹ như
một điều hiển nhiên, bởi thời gian nầy phong trào "tố
Cộng" McCarthyism lan tràn tại Mỹ, người ta mở cuộc săn
phù thủy đã "làm mất" Trung Hoa lục địa, và chiến trận
nơi Bán Ðảo Triều Tiên đang sôi động. Chiến tranh thật
sự đã diễn ra từ tháng Sáu, 1950 khi quân cộng sản Bắc
Hàn bất thình lình tấn công Nam Hàn không một dấu hiệu
báo trước. Và chỉ sau hai tháng, quân đội miền Bắc đã
tiến đến vị trí cuối cùng cực nam bán đảo, bao vây quân
Nam Hàn vào cứ điểm Pusan. Liên Hiệp Quốc phải kêu gọi
quốc tế quân viện giúp Nam Hàn. Quân đội 15 nước tham gia
dưới quyền tư lệnh của Ðại Tướng McArthur phản công
đẩy Bắc quân về ngược phía Bắc, đến tận Sông Aùp Lục,
biên giới giữa Triều tiên và Trung Cộng, tháng 11, 1950. Và
chiến trận tiếp diễn đến bấây giờ dẫu hai bên đã và
đang ngồi trên bàn hội nghị để tìm một giải pháp ngưng
bắn. Cuộc viếng thăm của Phó Tổng Thống Richard Nixon có
một mục tiêu rất rõ rệt: Chấm dứt cuộc chiến Triều
Tiên bằng thương nghị – Lá bài mà ông và tướng Eisenhower
đã thắng trong cuộc bầu cử năm 1952 vừa qua. Cũng
bởi, nhân sự mới lên cầm quyền nước Mỹ đã phạm phải
khuyết điểm. "Trong thời chiến (1939-1945), ở mặt trận Châu
Âu, Tướng Eisenhower đã thành công hơn bất cứ một người
lãnh đạo "Không phải gốc Châu Âu" nào trên toàn thế giới.
Nhưng ông "không biết rõ" Châu Á và Trung Ðông, và ông
cũng không hề là người đánh giá quá cao kinh nghiệm và hiểu
biết của mình.."(3) Chính vì khuyết điểm thực tế nầy,
tân tổng thống (dẫu là một tướng lãnh) không muốn bản
thân là người kéo nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh mới,
dù rằng nước Mỹ vừa thâu đoạt chiến thắng quân sự
lẫn chính trị sau năm toàn thắng 1945 với sự đầu hàng
của phe trục Ðức-Nhật. Khuyết điểm của chính giới Mỹ
"không quan tâm đến Châu Á- Bao gồm cả Trung Ðông, lẫn
Ðông Âu
" không phải là điều mới nhận ra, nên người
tiền nhiệm của Eisenhower, Tổng Thống Truman (thuộc Ðảng
Dân Chủ) cũng đã vấp phạm trầm trọng qua những nhượng
bộ quá mức đối với đòi hỏi của Liên Sô, lẫn những
đồng minh tư bản Tây Âu tại các Hội Nghị Yalta, Posdam.
Và cụ thể là đối với Nhật mà cuối cùng phải dùng đến
biện pháp bất cập tàn nhẫn xử dụng bom nguyên tử để
chấm dứt chiến tranh; và nhất là để mất Hoa Lục vào tay
cộng sản - Mà giá phải trả là cuộc chiến hiện đang phải
giải quyết với mối đe dọa có thật là khối quân đội
đông đảo Hồng Quân Trung Quốc đã một lần vượt biên
giới Bắc Triều Tiên. Chính phủ của Tổng Thống Eisenhower
phải tránh cho kỳ được chiến tranh nầy với một kẻ
thù "do đã không nhìn rõ mặt". Tháng 10, 1950, Phó Tổng
Thống Richard Nixon đến Seoul giao tận tay Tổng Thống Lý Thừa
Vãn một lá thư tuyệt mật của Tổng Thống Hoa Kỳ và cần
có lời giải đáp trong ngày trở về (4)
Năm 1968, Hội Nghị Paris dự trù
khai mạc vào ngày 6 tháng 11, sau ngày bầu cử tổng thống
Mỹ một ngày (5 tháng 11). Lá bài chủ của hai đảng để
quyết định cho chiếc ghế của người sẽ ngồi vào Tòa
Bạch Ốc là sáng kiến và kế hoạch "Chấm dứt cuộc chiến
Việt Nam". Ðể yểm trợ cho ứng viên của Ðảng Dân Chủ,
Hubert Humphrey phó tổng thống đương nhiệm, Tổng Thống Johnson
tung ra đòn quyết định "Ngưng oanh tạc Bắc Việt" vào
ngày 1 tháng 11, và chỉ thị Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bunker
hối thúc phía Việt Nam Cộng Hòa có mặt tại Paris đúng như
thời biểu ấn định, tối thiểu cũng đưa ra một thông cáo
chung về việc Hoa kỳ ngưng oanh tạc và hòa đàm, nếu như
còn những dị biệt giữa hai chính phủ (5). Nhưng tại Sài
Gòn, Tổng Thống Thiệu lại đi nước cờ khác. Trong cuộc
họp của lưỡng viện quốc hội nhân ngày "Quốc Khánh 1 Tháng
11", có sự hiện diện trang trọng chính thức của Ðại Sứ
Bunker, ông Thiệu đã tuyên bố trong một bài diễn văn quyết
định: "Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc là không
thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris".
Bài diễn văn, lời tuyên bố được cả quốc hội đứng
dậy đồng loạt vỗ tay thật lâu. Nhưng phía Mỹ thì "Ðại
Sứ Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ bình tĩnh mà không đượïc.
Ông toát cả mồ hôi.."; hoặc nhận định của Tổng Thống
Johnson sau nầy viết lại trong hồi ký "The Vantage Point"
là: "Ngày 1 tháng 11, sau khi cho hay sẽ tham dự Hòa Ðàm Paris,
[các] nhà lãnh đạo Việt Nam Cộâng Hòa lại quyết định
không tham dự. Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho
ông Humphrey thất cử"(6)
Sở dĩ ông Thiệu đã đi một nước
cờ phiêu lưu, mạnh mẽ như kia dẫu đã tính đến chuyện
có thể bị ám sát hay lật đổ, nếu như chính quyền Mỹ
biết rằng ông sẽ tuyên bố lời chối từ không tham dự
hội nghị vào thời điểm quyết định trước, sau ngày 1
tháng 11 (Ngày 30 tháng 10 của Hoa Thịnh Ðốn). Bởi vì ông
đã nhận được thông điệp: "Chớ tham gia Hòa Ðàm Paris,
cố trì hoãn càng lâu càng tốt để đợi ông Nixon lên làm
tổng thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn". Hiện thực
hơn cho mưu định nầy, Ðại Sứ Bùi Diễm qua sự giới thiệu
của bà Anna Chennault (phu nhân củaTướng Chennault, Tư Lệnh
Phi Ðoàn Phi Hổ trong Ðệ Nhị Thế Chiến ở Trung Hoa) đã
gặp mặt Nixon và nghe lời hứa hẹn: "Sẽ coi vấn đề
Việt Nam là ưu tiên số 1, và bảo đảm sẽ dành cho Việt
Nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân Chủ" (7) (Trong
hồi ký
In the Jaws of History, ông Bùi Diễm - Một
trong những người được CIA tin cậy ở miền Nam phủ nhận
điều này. Tiến Sĩ Hưng cũng trích dẫn không hết ý TT Johnson.
Nguyên văn đoạn hồi ký như sau: "That, I am convinced, cost
Hubert Humphrey the Presidency, especially since a shift of only a few
hundred thousand votes would have him a winner. I am certain that the outcome
would have been different if the Paris talks had been in progress on Election
Day." (1971:548-549). Ðây chỉ là một nhận xét chủ quan
của Johnson. Tiếp đó, Johnson còn nói Ðảng Dân Chủ bị thua
vì dân chúng bắt đầu khuynh hữu, không thích các chính sách
Ðại Xã Hội [Great Society] của ông, v.. v... (1971:549ff)
Tóm lại, kế hoạch "Giải quyết
vấn đề Việt Nam" là một tiền đề tạo thế mạnh (thắng
lợi) cho giai đoạn "tiền tranh cử", và tiếp tới là
"Chấm dứt chiến tranh Việt Nam" lại là một sách lược
quyết định sau khi thắng cử. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn đối
với lần bầu cử năm 1972 sau nầy, và càng cụ thể hơn cho
lần bầu cử dự trù năm 1976 – Trước lần Việt Nam Cộng
Hòa sụp đỗ (1975). Cũng với con người tên gọi Richard Nixon,
nhưng khác với chức vụ phó tổng thống 20 năm trước thêm
sự góp mặt của một nhân vật mới, xuất sắc hơn, khôn
ngoan hơn, và cũng thâm hiểm, trí thuật hơn – Cố Vấn An
Ninh Quốc Gia, kiêm Ngoại Trưởng Henry Kissinger. Chỉ một điều
bất biến: Quyền lợi nước Mỹ – Ðúng ra là của giới
tư bản cầm quyền quốc gia siêu đẳng nầy luôn phải được
bảo vệ, duy trì .
Trước giai đoạn bầu cử cuối
năm 1968, Nixon đã một lần ướm lời: "Tôi muốn những
người ở Bắc Việt hiểu rằng, tôi đã đi tới chỗ "có
thể làm bất cứ điều gì" để chấm dứt chiến tranh.
Nhưng đồng thời tôi cũng nhắn riêng cho họ (Bắc Việt)
biết về một quan niệm khác: "Có thần thánh làm chứng, những
ngườøi (cộng sản) phải hiểu rằng Nixon là người rất
kỵ chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi (quần chúng Mỹ) khó có
thể ngăn cản ông ta được khi ông đã nổi giận – và ngón
tay đã chực sẵn trên nút bấm máy phóng bom nguyên tử –
Và (như trong tình thế ấy) đến cả Hồ Chí Minh hẳn cũng
phải tới Paris trong vòng hai ngày để xin có hòa bình"
(8). Nhưng đấy chỉ là lời nói trước đám đông, khi cần
tạo ấn tượng mạnh đối với cử tri; với một quá trình
hoạt động chính trị từ thập niên 50, thêm bản chất, khuynh
hướng tâm lý (cẩn thận, thuần lý, thực tiễn) cơ hữu
của một luật sư, nên từ năm 1968 kia, Nixon cũng đã hiểu
rằng.. "Chiến tranh Việt Nam không thể đơn phương giải
quyết bởi lực lượng quân sự. Và ông ta đã manh nha quan
niệm giải quyết vấn đề Việt Nam phải qua một giải pháp
chính trị song phương với sự tham dự của Liên Sô và Trung
Cộng" (9) Cố Vấn Kissinger sẽ là người thực hiện quan
niệm chiến lược nầy bởi hiểu rõ: "Nixon là một người
rất thực tế "realpolitik", đặt nặng quyền lợi chứ
không phải ý thức hệ, luân lý hay đạo đức. Bởi vậy,
ông bám chặt vào đó để thuyết phục Nixon cho ông làm sao
thì làm, miễn có kết quả là được. Nixon đồng ý. Trên
thực tế trao quyền giải quyết chiến tranh Việt Nam cho ông"
(10) Kẻ tung người hứng, Cố Vấn Kissinger biết rõ chủ hơn
ai hết. Bên trong những câu nói mang dáng vẻ "diều hâu" như
trong lần "tranh luận về bếp núc" nhân dịp có mặt
tại hội chợ kinh tế trưng bày sản phẩm gia dụng của người
dân Mỹ năm 1959 ở Mạc Tư Khoa - Với cung cách sỗ sàng chỉ
thẳng ngón tay vào ngực Khrushchev khi nhấn mạnh ưu thế của
người Mỹ, để viên lãnh đạo Liên sô phải trả đũa lại
thẳng thừng, " Các ông tướng của các ông (Mỹ) từng
tuyên bố phải chạy đua (vũ trang) về hoả tiễn.. để có
thể tàn phá chúng tôi. Chúng tôi cũng sẽ chứng tỏ cho các
ông thấy (sức mạnh) tinh thần của Người Nga. Chúng tôi
là một dân tộc hùng mạnh, chúng tôi có thể đánh ngã các
ông" (11) Nhưng từ trong sâu kín, Nixon mong muốn hơn tất
cả mọi điều, là sẽ trở nên một nhân vật kiến tạo
hòa bình của lịch sử. Và điều nầy chỉ thực hiện
được với một chính sách đối ngoại mà ông phải tường
tận tự ngọn nguồn, từ quan niệm cũng như thực hiện. Do
yêu cầu của mục tiêu tối thượng nầy, Nixon nhất quyết
chủ trương những sáng kiến ngoại giao chính yếu về mặt
quốc tế phải xuất phát từ văn phòng tổng thống ở Bạch
Cung, nên ông đã thẳng tay loại trừ không thương tiếc đến
mức như coi thường (sự tham dự) của Bộ Ngoại Giao và Ngoại
Trưởng P. Rogers trong các quyết định then chốt. Cố vấn
Kissinger là công cụ chính yếu của chính sách ngoại giao nầy,
bởi ông ta là một nhân vật thích hợp lý tưởng đối với
những vận động sau hậu trường (12)
Trong chiều hướng ngoại giao tổng
quát kể trên, Việt Nam không thể chiếm giữ "vị trí quan
trọng" lớn hơn một "thực thể chính trị khu vực"
như Nixon đã từng nhận định trong bài viết đăng ở Tạp
Chí Ngoại Giao số tháng 10, 1967 (trước khi nhậm chức
tổng thống, 1969): "Nếu không có sự tham dự của Mỹ ở
Việt Nam, Châu Á hôm nay hẳn phải có một khung cảnh khác..
Việt Nam đã chuyển hướng (sự chú ý) Bắc Kinh khỏi những
mục tiêu căn bản như Ấn Ðộ, Thái Lan và Mã Lai. Thế nên,
cần có một thời hạn rất đỗi quan trọng cho những chính
quyền còn yếu hay chưa toàn vẹn củng cố (trong vùng Ðông-Nam
và Nam Á) đồng thời cũng phải hướng về phía Bắc Kinh
để lập nên một tấm lá chắn an toàn trong tương lai.. Thời
hạn kia giúp cho những chính quyền (Châu Á) giải quyết được
tình trạng bất ổn trong quốc gia họ, đồng thời đẩy mạnh
những phát triển về các mặt chính trị, kinh tế, và quân
sự "(13)
Nói như thế hẳn đã đúng, nhưng
chưa đủ, chỉ mới là cái khung để kết nên những thành
quả tối hậu. Chính quyền Nixon phải thực hiện mục tiêu
chiến lược toàn cầu trên hai hướng:
1. Hướng thứ nhất, với đối
tượng là cường quốc nguyên tử Liên Sô hiện đang dẫn
đầu cuộc chạy đua không gian. Ba tháng sau ngày nhiệm chức,
Tổng Thống Nixon đưa Kissinger qua Mạc Tư Khoa, gặp Ngoại
Trưởng Gromyko để nói cùng người Nga những điều mà chính
bản thân ông đã đề cập cùng Ðại Sứ Sô Viết Anatoly
Dobrynin từ thời điểm đầu tiên ngay sau khi bước chân vào
Bạch Ốc (2/17/69): "Lịch sử đã chứng minh rõ rằng chiến
tranh phần lớn hầu như không hề được giải quyết bằng
vũ khí (!), cũng không hề bằng cách chạy đua vũ trang, mà
hầu như chỉ được (giải quyết) qua ngã tìm hiểu sâu xa
những dị biệt chính trị, và những vấn đề chính trị"(14)
Và sợ nói như thế người Nga chưa
được rõ ý của mình, Tổng Thống Hoa Kỳ trình bày không
úp mở: "Thế nên, trước khi thảo luận về vũ khí chiến
lược (với quý vị), chúng tôi bắt buộc phải thực hiện
đường lối song phương bằng cách tháo gỡ những "tình
thế chính trị căng thẳng" như ở Trung Ðông, Việt Nam,
Berlin.. Những vị trí có nguy cơ đưa đến xử dụng phải
xử dụng vũ khí (nguyên tử).."(15) Nói như thế hẳn để
quá đủ để đoan chắc cùng người Nga: "Chúng ta nhất quyết
không thể nào xửû dụng bom nguyên tử với nhau do những
"căng thẳng chính trị" từ những nơi (xa xôi) kia"
Khi kể ra mục tiêu tối thượng
trên, "Tính Thực Tế" của người Mỹ và người Nga
quả tình không khác nhau - Mà thật sự bất kỳ người lãnh
đạo nào cũng phải biết tính tới phần hơn thiệt hơn cho
dân tộc, quốc gia mình khi phải xử dụng vũ lực - Huống
chi là vũ khí nguyên tử - Loại vũ khí hủy diệt không có
"Người thắng – Kẻ thua". Ðiều nầy đã được chứng minh
một lần trong biến cố Liên Sô dự định thiết trí hỏa
tiễn ở CuBa năm 1962, và sự tháo gỡ của họ khi thấy Tổng
Thống Kennedy quyết tâm đối đầu. Những trao đổi mật thiết
như vừa trình bày được thực hiện qua một đường giây
đặc biệt trực tiếp nối liền văn phòng Tổng Thống Mỹ
và Toà Ðại Sứ Liên Sô do chính Kissinger đề nghị, thúc
dục thiết lập. Hơn thế nữa, Ðại Sứ Liên Sô hằng tuần
qua ăn cơm trưa với Tổng Thống Hoa Kỳ theo một lối riêng
của Cánh Ðông Tòa Bạch Ốc – Lối đi không một ai trông
thấy (16) Cánh phía Tây hẳn chỉ để cho những thăm viếng
xả giao bề mặt, họp báo rôm rả mà thôi.
Cố Vấn Kissinger đến Mạc Tư Khoa
gặp Ngoại Trưởng Gromyko trao thông điệp từ Tổng Thống
Mỹ về một nội dung có hai điểm chính mà thật sự chỉ
là món quà sơ giao trước khi bàn về những hiệp ước ngăn
chận vũ khí chiến lược (SALT). Thông điệp được viết
bởi chính tay Tổng Thống Mỹ:
a/ Tổng Thống Nixon sẵn sàng thăm
dò những con đường khác ngoài khung cảnh đàm phán hiện
tại (ở Paris). Ðiều mong muốn là những người thương thuyết
phía Hoa Kỳ và Bắc Việt có thể gặp nhau tách biệt ra khỏi
khuôn khổ hòa đàm Paris đề bàn về một nguyên tắc tổng
quát cho một giải pháp.
b/ Nếu những người thương thuyết
đặc biệt phía Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có
thể đi tới một hiệp định trên nguyên tắc, thì vấn đề
đàm phán cuối cùng về kỹ thuật sẽ được trao lại cho
hòa đàm Paris. Ký tắt RN(Richard Nixon) (17)
Kissinger đã thành công trong việc
kiến tạo những móc xích của một đường liên lạc, hòa
đàm sau hậu trường, và cuối cùng tự mình thủ diễn vai
chính do mình đạo diễn.
Cũng quả thật, "Chiến Tranh
Việt Nam chỉ là một căng thẳng chính trị" tại một
khu vực trên thế giới, cuộc chiến ấy không gây phiền nhiễu
trầm trọng giữa các cường quốc; nếu không nói một cách
cay nghiệt hơn: Những căng thẳng chính trị ở những khu vực
(Việt Nam là một điển hình) là "nút thoát hơi an toàn"
đối với những cường quốc thủ đắc vũ khí nguyên tử
– Nói rõ ra, Hoa Kỳ và Liên Sô.
Nhận định trên không phải là
cách mỉa mai, cay đắng chính trị nhưng hiện thực qua hoạt
cảnh: Trên chuyến bay chiếc Air Force One ngày 20 tháng
5, 1972 từ Washington DC đến Moscow, Kissinger hớn hở nói cùng
Nixon: "Ðây quả là một trong những cú ngoại giao ngoạn
mục lớn nhất của tất cả mọi thời đại! Ba tuần trước,
mọi người đều tiên đoán chuyến đi thế nào cũng bị hủy
bỏ, thế mà bây giờ chúng ta lại trên đường đi tới"
(18) Sở dĩ mọi người trên thế giới tiên đoán như trên
là do xe tăng Bắc Việt tràn qua những căn cứ hoả lực từ
đông sang tây dọc sông Bến Hai (Hai chứ không là Hải)
phía Nam Khu Phi Quân Sự; những Căn Cứ 5, 6, Tân Cảnh ở Kontum;
Lộc Ninh ở Bình Long, và người Mỹ trả đũa bằng cách dội
B52 xuống lãnh thổ Bắc Việt. Mọi người cũng không nghĩ
ra, tưởng thấy, nghe được những đối thoại "chân tình"
giữa Brezhnev và Nixon trong buổi họp kế tiếp: "..Sau những
hành vi trả đũa của người Mỹ ở Việt Nam.. Chỉ có cách
tốt nhất là nâng cao sự quan trọng về việc cải thiện
mối liên hệ Sô-Mỹ, và cố đạt đến những đồng thuận
về những vấn đề thiết yếu ở giữa chúng ta (!), và thực
hiện chúng nên điều khả thể"(19) Bởi nhận ra "Tính
hợp lý của nhữõng Người Bạn Liên Sô" tương đối
muộn màng (dẫu muộn còn hơn không) nên sau nầy Nixon cứ
tiếc rẻ:
Biết thế đánh dập Hà Nội từ 1969 như năm
1972 có phải hơn không! (20)
Chúng ta sẽ thấy rõ ra vai trò quan
trọng của Liên Sô trong những ngày cuối tháng 4, 1975 ở Sài
Gòn.
2. Phiá Châu Á, hướng thứ hai,
Hoa Kỳ chịu đòn một cách khôn ngoan, bền bỉ hơn.. Ngày
14 Tháng Tư, 1969 một chiếc máy bay do thám EC121 không vũ trang
của Hải Quân Mỹ trong một phi vụ quan sát thường lệ bị
Mig Bắc Hàn bắn hạ trên vùng biển Nhật Bản, cách bờ biển
Bắc Triều Tiên 90 dặm. Tổng Thống Nixon đứng trước hai
chọn lựa: Hoặc oanh tạc trả đũa xuống phi trường những
chiếc Mig kia đã cất cánh; hoặc tiếp tục công tác do thám
nhưng được phi cơ võ trang bảo vệ. Chính quyền Mỹ không
nhất trí lựa chọn một giải pháp nào. Bộ Ngoại Giao dưới
quyền của Ngoại Trưởng Rogers thì chủ trương không dùng
biện pháp đối đầu. Cuối cùng, ngày 18, Nixon họp báo tuyên
bố: Công tác do thám tiếp tục nhưng có phi cơ võ trang bảo
vệ.
Báo chí và quốc hội Mỹ hoan nghênh
quyết định tự chế của Tổng Thống Nixon. Hội Ðồng An
Ninh Quốc Gia gồm bộ ba Nixon, Kissinger và Haig họp mật đưa
đến quyết định: Xử dụng sách lược của Eisenhower để
chấm dứt chiến tranh Việt Nam – Tức biện pháp leo thang
trả đũa trong trường hợp Bắc Hàn vi phạm Hiệp Ðịnh Ngưng
Bắn 1953 - Nhưng nay, đối tượng bị trừng trị không phải
là Bắc Hàn mà là những căn cứ quân sự của Bắc Việt
ở trên đất Campuchia.(21) Tóm lại, biến cố chiếc máy bay
bị bắn hạ là một dịp để Hoa Kỳ chuyển giao thông điệp:"Chúng
tôi có thể trả đũa như trong chiến tranh 1950-1953 tại Bắc
Hàn, nhưng nay chúng tôi "tự hạn chế bởi muốn biểu lộ
ý hướng hòa bình" dẫu chẳng kém phần quyết tâm, và
khả năng đánh trả (qua hành động dội bom những căn cứ
quân sự Bắc Việt ở Campuchia)". Chắc chắn "đối tượng"
mà chính phủ Hoa Kỳ muốn trao gởi thông điệp không phải
là chính phủ ở Bình Nhưỡng của Kim Nhật Thành, mà là một
nơi quan yếu hơn với một nhân vật cứng cựa thuộc giới
lãnh đạo thời Thế Chiến thứ Hai còn lại: Mao Trạch Ðông
ở Bắc Kinh.
Sau nầy hồ sơ giải mật còn cho
biết thêm, tất cả nỗ lực hướng tới Bắc Kinh không phải
đợi đến ngày Tổng Thống Nixon chính thức viếng thăm Trung
Quốc, mà từ những năm 1968-1969, và đặc biệt từ 1970, Kissinger
đã nhiều lần cam đoan cùng Châu Ân Lai: Hoa Kỳ sẽ đơn
phương rút quân ở Miền Nam. Ðơn phương rút quân khỏi
Miền Nam; tránh không dội bom xuống biên giới Bắc Việt-Trung
Hoa trên một vùng an toàn 30 dặm – Tất cả để chứng minh
một yếu tố quyết định chung cuộc: Liên hệ Trung Quốc-Mỹ
là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại
Á Châu (22) [Có một khoen nối thiếu sót ở đây:
Phản ứng của Hà Nội về việc Bắc Kinh sử dụng xương
máu người Việt để cải thiện bang giao với Mỹ!]
Với Hai Hòn Ðá Tảng Ðông lẫn
Tây được thiết lập – Chiến tranh Việt Nam cuối cùng
chỉ còn là vấn đề thời gian "Sao coi cho được" –
Cách
gọi của tác giả Nguyễn Tiến Hưng để những chuyên viên
ngoại giao ở Hội Nghị Paris hoàn tất phần kỹ thuật mà
thôi. (Hoặc nói theo Frank Snepp: Decent Interval)
Trở lại vấn đề Việt Nam, sự
sống còn của Miền Nam được sắp xếp theo những con số
cụ thể như sau:
-
Giai đoạn 1966-1970: Mỹ tiêu 25 Tỷ
Ðô-la/Năm bởi có 500,000 quân Mỹ và Ðồng minh đang tham chiến
-
Hai năm 1970-1971: 12 Tỷ Ðô-la/Năm vì
đang rút quân.
Sau khi Mỹ rút hết quân bộ chiến
và các đơn vị không, hải, quân yểm trợ:
-
Tài khoá năm 1973: 2,1 Tỷ
-
Tài khoá năm 1974: 1,4 Tỷ
-
Tài khóa năm 1975: 700 Triệu. (23)
Con số 700 triệu (dự trù) kia vào
ngày 13 tháng 3/1975 trở nên thành con "Số Không" khi Ban Lãnh
Ðạo Ðảng Dân Chủ cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện bỏ
phiếu với đại đa số: Chống bất cứ viện trợ nào cho
Việt Nam (24) kèm theo những lời tàn nhẫn: "Viện trợ di tản
thì cho, chứ một xu (viện trợ quân sự) cho Thiệu thì không."
Người lính VNCH ở chiến trường
không biết những số liệu trên, họ chỉ biết: Trước "Hiệp
Ðịnh Ngưng Bắn Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam" trên
chiến trường, trước khi xung phong vào mục tiêu họ được
phi, pháo yểm với số lượng không hạn chế nếu như đụng
địch. Nay năm 1974, 1975, một mục tiêu chỉ còn "Bốn (4)
viên đạn 105 ly cho một lần đụng trận". Họ cũng không
biết trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh tấn công vào Sài Gòn trong
cuối tháng 4 (khởi từ 10 tháng Ba với trận tấn công Ban
Mê Thuột) có đến: "Toàn thể quân đội Miền Bắc đang
có mặt ở Miền Nam trong giờ phút nầy.. Chỉ cần một Lữ
Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là có thể chiếm hết Miền
Bắc" Người tuyên bố câu tán thán nầy có thêm kết luận
cay đắng: "..Hiệp Ðịnh Hoà Bình Paris đã bị vi phạm
tàn tệ..!!"(25) Chúng ta có thể thêm những số liệu sau
đây để lời tán thán thêm độ chính xác: "Từ 1974 qua
1975, Miền Bắc đã đưa vào Nam một số lượng quân trang
cụ, vũ khí là 823.146 Tấn – Số lượng "gấp 1.6" lần
số lượng đã vận chuyển của 14 năm qua (Kể từ 1960,
năm bắt đầu thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 19/12/1960-Pnn).
Về nhân lực, bổ sung 68,000 bộ đội; 8000 cán bộ và chuyên
viên. So sánh với số lượng nhân vật lực đã đưa vào Chiến
Dịch Nguyễn Huệ tổng công kích Miền Nam năm 1972 là "gấp
chín lần". Số liệu nầy do Tổng Quân Ủy Miền Bắc báo
cáo chắc không thể sai lệch (26) . Người nói câu tán thán,
người đạo diễn, thi hành hiệp định trước sau cũng là
một: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia kiêm Ngoại Trưởng Henry Kissinger.
Như trên đã trình bày ở trên,
sau ngày đắc cử 1953, Phó Tổng Thống Richard Nixon mang mật
thư của Tổng Thống Mỹ đi Hán Thành gặp Tổng Thống Lý
Thừa Vãn. Trong thư có những lời trang trọng của Tổng Thống
Eisenhower để muốn đượïc phúc đáp chính thức từ nhà
lãnh đạo Nam Hàn về sự bảo đảm đặc biệt là không đơn
phương gây chiến với Bắc Hàn do mưu định thống nhất đất
nước. Bởi Tổng Thống Eisenhower được thông báo: "Tổng
Thống Lý là một nhà lãnh đạo lớn. Một người yêu nước
nhiệt thành, và cũng là người Bạn ở một khu vực thế
giới mà nơi ấy, những người bạn của chúng ta (Mỹ) đã
thay đổi mau chóng như thời tiết" (27)
Hai mươi năm sau, cũng sau lần đắc
cử nhiệm kỳ hai, dẫu chưa tuyên thệ nhậm chức, Tổng Thống
Nixon gởi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bức thư ngày 14/1/1973
(một của nhiều bức thư có nội dung tương tự): "..Tôi
nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp Ðịnh vào ngày 23 tháng
1, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc nầy dù phải làm một
mình, trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính
phủ của Ngài làm cản trở cho công cuộc vãng hồi hòa bình
tại Việt Nam
"Kết quả không tránh khỏi là
việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà
dù có "sự thay đổi về nhân sự" trong chánh phủ của Ngài
cũng không thể cứu vãn được.."(28)
Và nhân sự được giao phó nhiệm
vụ chuyển thư thì nhận chỉ thị: "Bảo rõ cho Haig biết
phải làm áp lực đối với Thiệu", và nhấn mạnh rằng
Nixon ".. sẽ tiếp tiến tới bất kể Thiệu làm những gì.
Cách thức duy nhất mà Haig cần phải thực hiện là đánh
lừa Thiệu giả sử như ông ta không theo cách của mình.."(29)
Những lời trao đổi giữa bộ ba Nixon-Kissinger-Haig chứ không
ai khác. Và thuật ngữ "Thay đổi thành phần nhân sưï"
có nghĩa: Phế bỏ đi.. Như đã một lần đối với
Ngô Ðình Diệm, Ngô Ðình Nhu, Lý Thừa Vãn, Salvador Allende..
là những người chúng ta được biết.
Khi giao thiệp giữa hai nguyên thủ
của hai nước đã đến mức nói những lời như trên; mối
tương quan liên hệ giữa hai quốc gia bị so kè từng đồng
bạc một. Việc so sánh 300 triệu quân viện bổ sung của tháng
3, tháng 4/1975 đối với tồn tại của một quốc gia từng
gọi là đồng minh với giá máu 58,000 mạng sống binh sĩ Mỹ
trong mười-lăm năm chiến trận mang hình thức một lời nguyền
rủa tàn tệ mà lịch sử hôm nay phải nhìn lại với mối
trách cứ ngậm ngùi. Tóm lại, "Không Ai Thắng Ai" trong cuộc
chiến nầy. Một cuộc chiến tranh không mục tiêu chiếm cứ
và không tính danh xác định. Nước Mỹ chưa hề tuyên chiến
với nhà nước gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và tất
cả cả kế hoạch quân sự không hề đặt nên ý niệm xử
dụng bộ binh Mỹ vượt quá biên giới của Việt Nam Cộng
Hòa. Chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm: Chiến
tranh Việt Nam là một cuộc chiến không có "Hai Phe Lâm Chiến"
như tất cả chiến tranh cổ kim hằng định nghĩa. [Ðây
là luật kẻ mạnh. Muốn đánh thì đánh, muốn hòa thì hòa.
Nó là một cuộc chiến tiền đồn. Việt Nam: một cây kim
gút trên bản đồ thế giới]
Hậu Từ
Ðiều thứ 2-Chương I của Hiến
Pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 1946:
Ðất nước Việt Nam là một
khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.
Ðiều 1- Thiên Thứ Nhất. Ðiều
Khoản Căn Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956:
Việt Nam là một nước Cộng
Hòa, Ðộc Lập, Thống Nhất, lãnh thổ bất khả phân
Ðiều 1- Chương I Hiệp Ðịnh về
Chấm Dứt Chiến Tranh và Lập Lại Hòa Bình ở Việt Nam (27/1/1973):
Hoa Kỳ và các nước khác tôn
trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ của nước Việt Nam như Hiệp Ðịnh Giơ-ne-vơ năm một
ngàn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đã công nhận.
[Câu này cho thấy Hiến Pháp 1956 của VNCH không được
công nhận giá trị pháp lý]
Chúng ta có thể bắt đầu và kết
thúc trò chơi chữ nghĩa để nhìn lại một cuộc chiến mà
theo những điều khoản long trọng cam kết bảo đảm, thi hành
bên trên về MỘT NƯỚC VIỆT NAM BẤT KHẢ PHÂN – Tức có
nghĩa mặc nhiên công nhận những điều sau:
-
Nước (gọi là) Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hoà bị một nước khác (gọi là) Hoa Kỳ xâm lăng, đánh
bom, phá đê điều Miền Bắc mà không tuyên chiến; đổ quân
vào Miền Nam không xin phép.
-
Quân Ðội Nước (gọi là) Việt Nam
Dân Chủ Cọng Hòa hoàn toàn không có mặt dưới Vĩ Tuyến
thứ 17 - Vì lẽ: Ðiểm b/ của Ðiều 3/Chương II của Hiệp
Ðịnh Paris có quy định: Các lực lượng vũ trang của "hai
bên Miền Nam Việt Nam" sẽ ở nguyên vị trí của mình.
-
Quân Ðội Nước (gọi là) Việt Nam
Cộng Hòa không hiểu vì một lý do gì không được đồng
minh của mình (Hoa Kỳ) cho phép hành quân Bắc Vĩ Tuyến 17
- Bằng cách không yểm trợ phi, pháo (không cung cấp pháo tầm
xa 175 ly ở những căn cứ Nam Sông Bến Hai: máy bay F5E không
có khả năng tác chiến Bắc vĩ tuyến 17.v.v). Nếu một ai
có ý định mở hành quân ra Bắc Vĩ Tuyến 17 thì bị kết
án là "diều hâu"; "hiếu chiến".
-
Quân Ðội Nước (gọi là) Việt Nam
Cộng Hòa và Hoa Kỳ luôn luôn tôn trọng khu Phi Quân Sự Nam
Vĩ Tuyến 17 mặc dù không ký vào Hiệp Ðịnh Genève năm 1954.
Ngược lại, phía ký kết là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa thì lại cho mình toàn quyền đi qua đường ranh giới kia,
bởi thủ đắc Quyền Dân Tộc Tự Quyết và Toàn Vẹn Lãnh
Thổ do hiệp định kia quy định.
Những điều bất cập và quái đản
về chữ nghĩa (so với thực tế) trong những văn kiện đã
được long trọng ký kết trước cộng đồng thế giới, lại
được hai Ủy Ban Kiểm Soát Quốc Tế (ICC;1954); và Ban Kiểm
Soát Giám Sát Hội Nghị Quốc Tế (ICCS; 1973) giám sát thi hành
là một truyện dài chính trị thảm hại lẫn tai họa không
thể nói gọn trong một bài viết nên chúng tôi tạm ngưng
nới đây để đi qua một lãnh vực gần sát với tiêu đề
bài viết nầy về cuốn sách..
Thành ngữ "Tháo Chạy" gợi
đến tình cảnh liên hệ với chiến tranh, cuộc chiến. Tiêu
đề cuốn sách lập lại nhận định cay đắng của Ðại
Sứ Martin được báo New York Times nhắc lại trong dịp
mười năm mất miền Nam (1985): "Rút cuộc, chúng ta chỉ
lo tháo chạy. Ý chí dân tộc của Hoa Kỳ đã sụp đỗ"(30).
Nhưng bởi chúng tôi vốn người thuộc giới quân sự nên
có nhận định cụ thể: Chính phủ, quân đội, quần chúng
Hoa Kỳ "tháo chạy" vì một điều gì khác không xẩy ra ở
Việt Nam – Chiến tranh Việt Nam chỉ làm điều "tháo
chạy " kia bộc lộ cụ thể hơn, rõ ràng hơn qua cuộc
Hành Quân Gió Cuốn khai diễn ngày 29-30 tháng Tư, 1975 nơi Sài
Gòn, ở Việt Nam.
Chúng tôi xin dẫn chứng số liệu
về tù binh: Theo Ðiều 8/Chương III (việc Trao Trả Nhân Viên
Quân Sự Bị Bắt..).. Việc trao trả những nhân viên quân
sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của
các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không
chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong Ðiều 5 (Sáu-mươi
ngày kể từ 27/1/1973). Tính đến ngày 28 tháng 3 của thời
hạn 60 ngày, phía VNCH nhận về 4956 quân nhân bị bắt giữ;
trả lại cho phía cộng sản 26, 508 cán binh, bộ đội cộng
sản; phía Mỹ nhận về 585 người trong đó có một lính Ðại
Hàn, và hai nhân viên phi hành đoàn Thái Lan (Sách KÐMTC có
số liệu là 595; vì thêm 10 người ở Lào). (31) Chúng ta hãy
làm so sánh giữa các số liệu tù binh: 26,508; 4956; và 585
sẽ tìm ra ngay lời giải "AI ÐÃ THẮNG AI" tại chiến trường.
Tạm gác lại so sánh giữa các bên
quân đội hai bên người Việt, trong tổng số 595 tù binh Mỹ
phần đông nếu không nói là hầu hết là "nhân viên phi
hành, hoặc phi hành đoàn" của những phi cơ bị bắn rơi
trên vùng trời phía Bắc vĩ tuyến 17 – Hoàn toàn không có
một tù binh thuộc các đơn vị Bộ Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp,
Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Kích Mỹ – Tóm lại không
có một lính bộ chiến nào của Mỹ bị bắt giữ khi giao
tranh, trên chiến trường. Ðiều nầy phản ảnh một điều
giản dị: Bộ đội cộng sản né tránh đến mức tối đa
giao tranh với quân lực Mỹ bởi không chịu nổi hỏa lực
phi, pháo yểm của quân bộ chiến Mỹ. Mặt trận Khe Sanh năm
1968 chưa hề xẩy ra cuộc tấn công cường tập của bộ binh
Bắc Việt vào căn cứ phòng thủ chính của Thủy Quân Lục
Chiến Mỹ. Các cuộc đụng độ chỉ xẩy ra trên những vùng
đồi ngoại vi căn cứ chính do cấp đại đội TQLC Mỹ; Nhảy
Dù; Biệt Ðộng Quân/VNCH trấn giữ, và các Trại Lực Lượng
Ðặc Biệt gồm lính sắc tộc. Ngày 26/6/68 binh đội phòng
thủ rời bỏ Khe Sanh, và Mỹ xử dụng B52 trải thảm tiêu
diệt gọn Sư Ðoàn 325 cộng sản BắcViệt, đơn vị bao vây
căn cứ. Ước tính phía bộ đội Miền Bắc tổn thất từ
10,000 đến 15,000.(32) Hành quân qua Campuchia năm 1970; Hạ Lào
1ù971 hoàn toàn không có bôä binh Mỹ tham chiến huống gì
năm 1972.. Vậy quân đội Mỹ "không thể tháo chạy vào
thời điểm 1975". Cũng bởi họ đã hoàn toàn vắng mặt
tại Việt Nam từ thời điểm sau sáu–mươi ngày ký kết
"Hiệp định Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam" đã quy
định. Họ "chạy" từ , vì những lý do khác - Tại nước
Mỹ. Nếu Tổng Thống Kennedy không chết thì quân đội
Mỹ không phải vào Việt Nam, mà đã ra khỏi Việt Nam từ
1965 (33) (Những người theo chủ trương thuyết âm mưu thường
đặt câu hỏi biết đâu đây là lý do khiến gây nên vụ
ám sát ngày 22 tháng 11, 1963 tại Dallas mà đến giờ nầy cũng
không biết được là tại sao? Do đâu? Ai đã bắn chết một
Tổng Thống Mỹ?)
Cuối cùng, chỉ còn lại những
người Việt Nam với bài toán đơn giản nhưng cao thượng
gồm ba vế - Quyền lợi quốc gia; Quyền lợi cá nhân; Ðịa
vị chính trị - mà ông Nguyễn Văn Thiệu viết ra cùng
Cố Vấn Nguyễn Tiến Hưng sau lệnh rút bỏ Pleiku (17 tháng
Ba, 1975) Theo tác giả KÐMTC thì "ông (NVThiệu) đang làm một
tính toán để đi tới một hành động nào đó"(34). Và
cũng theo ông Hưng, thì ông Thiệu (có vẻ) chọn vế Số 1.
Nhưng, chúng tôi thì có nhận xét:
Ông Nguyễn Văn Thiệu
đã không chọn vế Số 1 đó. Hơn thế nữa, ông đặt
bài toán quá đỗi muộn màng. Ðáng lẽ phải đặt ra từ
1965 (từ khi TQLC Mỹ đổ bộ vào Ðà Nẵng), hoặc cận lắm
phải là 1968. Cuối cùng cũng phải bắt đầu ở 1972. Ðể
sau 1973, và bấy giờ đến tháng 4, 1975 thì quá trễ Không
thể "chạy"
đâu được nữa.
Chỉ còn lại vế số 2: Ông
Thiệu "chạy" qua Ðài Loan rồi qua Bri-tên, và 10 năm
sau, qua Mỹ, khi thời hiệu để truy tố theo dân luật Mỹ
đã hết hạn.
Các ông Trần Thiện Khiêm, Nguyễn
Cao Kỳ và nhiều người khác "tháo chạy" qua Mỹ; chỉ
có chút trở ngại là 16 tấn vàng không "tháo chạy"
theo được.
Ðại đa số những người lính
VNCH thì được lệnh "tháo chạy" từ Pleiku, BMT, Quảng
Trị, Huế, Ðà Nẵng, v.. v.. về miền Nam, và rồi cuối cùng
là "chạy" vào các "Trại Cải Tạo".
Cũng cần đặt thêm một vấn đề:
Ai là "Ðồng Minh" mà tác giả NTHưng muốn nói? Người
Mỹ ư? Chúng tôi thấy thật không ổn - Chẳng bao giờ người
Mỹ là "Ðồng Minh" của VNCH – Họ khai sinh ra nhà nước
VNCH, là ông chủ lớn ("Big Boss") của các phe nhóm cai thầu
chống Cộng và cai thầu chiến tranh. Tiến Sĩ Hưng hẳn biết
rõ hơn ai hết. Ðiều nầy trải dài khắp cuốn sách.
Còn những người Việt giữ vai
trò cầm đầu được đánh giá như thế nào? Các nhà lãnh
đạo Mỹ thường coi các nhà lãnh đạo VNCH như "ngựa [horses]"
hay "boys." Báo cáo của Tướng Westmoreland cũng đầy những
chi tiết cười ra nước mắt tủi nhục về các cấp Tướng
lãnh VNCH. Ngoài thiểu số cai thầu chống Cộng và cai thầu
chiến tranh, đại đa số người Việt - Những Người Lính,
cho dầu nắm giữ chức vụ chỉ huy thuộc cả hai phe -thì
chẳng khác những con chốt qua sông, hay những bè lục bình
nổi trôi theo lửa đạn và bạo lực. Chúng ta biết rõ được
điều nầy sau những năm ở Mỹ, và chứng kiến cách "chạy
vạy xin xỏ" của những người cầm quyền ở Hà Nội đối
với chính phủ Mỹ – "Tên đế quốc sừng sõ bị họ
đánh tháo chạy" theo cách gọi của Tiến Sĩ Hưng.
Một ý nghĩ cuối cùng của người
đọc: Ở cương vị một kinh tế gia, có nhiều kinh nghiệm
hợp tác với cả hai chế độ VNCH và CSVN, nếu Tiến sĩ Hưng
đào sâu trong lãnh vực chuyên môn của mình, giúp đồng bào,
và độc giả được đọc thêm những nghiên cứu nghiêm túc
của ông về tình trạng kinh tế của Việt Nam từ 1945, 54..
tới nay; hoặc ít nữa thì cũng là những sơ thảo về cái
gọi là "Nền kinh tế thị trường, định hướng Xã Hội
Chủ Nghĩa" tại Việt Nam từ 1991 tới 2005. Những điều
mà hôm nay diễn đạt theo ngôn ngữ cộng sản trong nước
là một vấn đề "còn tiêu cực tồn tại, gây "bức xúc"..
Cũng đúng theo tinh thần đoạn phân tích: "Quân viện đã
nát. Kinh viện còn nát hơn" của KDMTC để thấy rõ một
điều:
Tất cả chẳng qua là vì đồng tiền. Một đồng,
một triệu, hay mười tỷ cũng chỉ là đồng tiền mà thôi.
Mùa Phục Sinh
Tháng Tư, 2006
Phan Nhật Nam
Ghi Chú:
(1) Nguyễn Tiến Hưng, KÐMTC,
Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, Ca, USA 2005
(2) Nguyễn Tiếân Hưng & Jerrold
L. Schecter, THE PALACE FILES, Harper & Row, NY, USA 1986
(3) Richard Nixon, The Memoires of Richard
Nixon; NY, A Touchston Book, 1990 p119.
(4) RN, op. cit., p126
(5) NTH, KÐMTC sđd trg41
(6) NTH, KÐMTC, sđd trg46-47
(7) NTH, KÐMTC, sđd trg36-37
[Ông
Bùi Diễm phủ nhận điều này. Xem hồi ký In the Jaws of History]
(8) Gabriel Kolko, Atomy of A War;
London, GB, Phoenix Press, 1985, p343
(9) GK, op. cit., p342
(10) NTH, KDMTC, sđd, trg66
(11) RN, op. cit., p209
(12) Henry Kissinger, Years of Upheaval;
Boston, US, Little, Brown and Co, 1982, p414
(13) NTH & JS, op. cit., p30
(14; 15; 16) RN op. cit., p369-340.
(17) NTH, KDMTC, trg68
(18) RN, op. cit., p609
(19) RN, op. cit., p600
(20) William Colby, Lost Victory,
Chicago, US, Contemporary Books, 1989, p341
(21) NTH & JS, op. cit., p31
(22) HK, op. cit., p679.
(23) NTH, KDMTC, sđd, trg 222-223
(24) NTH, KDMTC, sđd, trg 245
(25) Larry Berman, No Peace, No Honor;
NY, US A Touchston Book, 2001, p266
(26) Lewis Sorley, A Better War;
FL, US, A Harvest Book, 1999, p374
(27) RN, op. cit., p126-127
(28) NTH, KÐMTC, sđd trg100
(29) LS, op. cit., p360
(30) NTH, KÐMTC, sđd trg26
(31) Phan Nhật Nam, Tù Binh và Hòa
Bình; Sàigòn, VN, Hiện Ðại, 1974, trg167
(32) Spencer Tucker, The Encyclopedia
of VietNam War; CA, US, Oxford University Press, 1998, p206
(33) Seymour M. Hersh, The Dark Side
of Camelot;, US, Back Bay Books, 1998, p430
(34) NTH, KDMTC, sđd, trg 249
|