ÐI
VỀ PHÍA MẶT TRỜI
Dẫn nhập
Do vận động của Ðỗ
Thông Minh, Người Bạn Ðông
Kinh từ hai thập niên qua của giới
báo chí truyền thông, sinh hoạt văn
hóa, văn nghệ của cộng đồng
người Việt hải ngoại, tiếp
theo lần tìm gặp, tiếp xúc chạy
vòng từ đông-tây, dọc theo
trục nam-bắc nước Mỹ qua trung
gian của Dương Phục (Ðài Phát
Thanh Sài Gòn- Houston, Texas), và Huỳnh
Lương Thiện (Báo Mõ, San Francisco, CA)..
Cuối cùng, người bạn kiếm
ra anh nơi hẻm hóc, chốn giá lạnh,
nóc nhà nước Mỹ để
giao nhiệm vụ - Ði về phía Ðông,
đến nói cùng người Nhật
và thế giới Ký Ức
về Chiến Tranh Việt Nam - Công việc
mà tự thân anh đã tình
nguyện gánh vác dài theo hơn bốn
mươi năm của đời người,
từ đầu thập niên 60, lúc
chọn nghiệp lính vào năm thanh xuân
17 tuổi.
Người Lính-Viết
Văn không có một nhiệm vụ nào
khác- Phải nói, viết cho đến
tận cùng - Bởi Nỗi Ðau nầy
luôn là Nỗi Ðau chung.
Cách đây hai mươi
năm, ngày 7 tháng 9, 1981, nơi Trại
Lam Sơn, Thanh Hóa bắc Việt Nam, bắt
đầu lần kiên giam đợt
thứ hai, anh bước vào căn
hầm kín cửa dài hai thước,
rộng một thước, cao ba thước,
sau bốn lớp cửa gỗ bọc
tôn thiếc, ngăn cách khu kiên giam
với khu giam giữ tù nhân; nhưng
nếu tính với xã hội bên
ngoài, miền đất phương Nam xa
xôi, thế giới của những
quốc gia văn minh, dân chủ - Khu kiên
giam nầy, nơi giam tù cấm cố, hoặc
tử tội chờ ngày đem đi
bắn, cách biệt đủ 10 cánh cửa
- bằng số cửa địa ngục
Dante mô tả trong The Inferno. Người Lính-viết
văn nhìn lên ô cửa thông
hơi rộng hơn gang tay chắn lưới
sắt, tự hỏi: "Con người
có thể đối xử với
nhau như thế nầy hay không? Người
có thể bị kết tội từ những
chữ viết mà quả thật không
hề là một đe dọa, xúc phạm
đối với bất cứ ai?!"
Trong nỗi bi phẫn khốn cùng ấy,
quả thật anh thấy được chết
dễ dàng hơn phải sống - Tuy nhiên
anh không hề tuyệt vọng.
Anh không tuyệt vọng bởi
vững tin: Sẽ có một ngày (nếu
như không phải bức tử), anh
được quyền nói lên tình
cảnh bi thảm nầy. Bởi, tình cảnh
đau thương mà anh phải hứng
chịu, chứng kiến, sống cùng,
đã và đang trải qua không của
riêng cá nhân anh; cũng không phải
chỉ là hậu quả thua trận của một
quân đội; và cũng không là
tác động có giới hạn đối
với những công dân của
chế độ cộng hòa phần đất
phía Nam nước Việt. Không phải
như thế - Nỗi Ðau không từ
một ai, xuyên suốt theo cùng Lịch Sử,
rung động tự thâm sâu vận mệnh
Dân Tộc Việt.
Người Lính-Viết
Văn không có một nhiệm vụ nào
khác- Phải nói, viết cho đến
tận cùng - Bởi Nỗi Ðau nầy
luôn là Nỗi Ðau chung.
Qua hai vòng thế giới,
xuyên suốt khắp đại lục Bắc
Mỹ từ ngày anh ra khỏi nước
(5 tháng 11, 1993), hơn bốn mươi lần
anh đi đến nơi những cộng
đồng Người Việt, ngày 14
tháng Giêng, 2002, Lễ Thành Nhân
cổ truyền của Nhật, nơi diễn
đàn vinh hạnh, trước hiện
diện của những Người Bạn
trung thực, thêm một lần, ước
vọng sâu xa dài hơn phần tư thế
kỷ nay đã trở thành hiện
thực. Anh cám ơn Bằng Hữu
Thế Giới và Ðất Nước
Nhật Bản - Nơi đi lên của Mặt
Trời, biểu hiện bất diệt Con Người
- Sự Sống. Và anh bắt đầu
bản tường trình dài dường
như không hề chấm dứt về
những con người của một quê
hương khắc nghiệt bi thảm, nhưng không
thiếu phần siêu việt kỳ diệu
- Người và Khổ Nạn Việt Nam.
Chiến tranh nhìn từ
nhiều phía
Buổi sinh hoạt được
tổ chức tại Trường Ðại
Học Ngoại Ngữ, Học Viện Ngoại
Giao Tokyo vào Ngày Lễ Thành Nhân
(14 tháng 1 Dương Lịch) của truyền
thống Nhật. Ngày lễ đánh dấu
buổi con người từ tuổi thiếu
niên nên trưởng thành, khởi
đầu giai đoạn mới - giai đoạn
quyết định- từ đấy người
tự lập, chủ động cuộc sống
riêng mình. Buổi sinh hoạt không vô
cớ chọn ngày, tháng, thời
điểm ý nghĩa sâu xa nầy - ý
hẳn ban tổ chức muốn truyền
đạt một thông điệp - Từ
đây, chúng ta nhìn lại cuộc chiến
không chỉ tác động riêng đối
với người và xã hội
Việt Nam, nhưng liên hệ đến nhiều
sắc dân, quân đội của những
chế độ chính trị khác nhau -
những nước đã từng
tham dự cuộc chiến mà hậu quả
đến hôm nay vẫn còn sâu xa
ảnh hưởng. Hội chứng Việt
Nam hiện tại vẫn hằn sâu lên
tâm lý giới cầm quyền, điều
hành nước Mỹ, cũng như
hệ lụy Ðệ Nhị Thế Chiến,
phần đau thương của nước
Nhật gây nên tự quân đội
Nhật (đối với các nước
vùng Ðông -Nam Á, Trung Hoa, Ðại
Hàn, Việt Nam), hoặc nhân dân Nhật
hứng chịu hôm nay vẫn hằng (được
và phải) nhắc lại. Nhắc lại
để tránh những lỗi lầm
của quá khứ, nhắm đến
tương lai - Thiên niên kỷ Thứ
Ba của nhân loại mà Châu Á-Thái
Bình Dương sẽ là diễn trường
quyết định với vai trò quan
trọng hàng đầu của Nhật Bản.
Nước Nhật hẳn đang chuẩn
bị cho tương lai hiện thực nầy.
Thế nên, buổi sinh hoạt chắc đã
hình thành không do những lý
do tùy tiện, ngẫu nhiên.
Sau phần giới thiệu
của ban tổ chức gồm có các
Giáo Sư Susumu Fugita, Minoru Iwasaki, và Imai Akio
của học viện, các thuyết trình
viên lần lượt trình bày
nội dung chủ đề mà ban tổ chức
đã thông báo, chỉ định
từ tháng 11 năm 2001. Người
thuyết trình xử dụng ngôn ngữ
của quốc gia mình, thông dịch sang
Nhật ngữ do những giáo sư,
sinh viên đang giảng dạy, hoặc theo học
các học trình tiến sĩ chuyên
khoa ngôn ngữ của quốc gia đó.
Theo chương trình dự
định, Bảo Ninh, tác giả Nỗi
Buồn Chiến Tranh (đã được
dịch sang Nhật ngữ), và Thân
Phận Tình Yêu (những cuốn
sách nói về mất mát, đau
thương của tuổi trẻ miền Bắc
Việt Nam trong chiến tranh) phát biểu trước.
Nhưng vào tuần lể đầu tiên
của tháng 1, 2002, tác giả nầy thông
báo không tham dự buổi hội thảo
được vì lý do "trở
ngại giấy tờ hành chánh", nên
anh gởi một bản văn đến
ban tổ chức hội thảo. Văn bản
nầy được dịch ngay sang tiếng
Nhật, và được phổ biến
vào giờ khai mạc. Sự kiện
Bảo Ninh vắng mặt sẽ được
đề cập lại trong phần hậu từ
của bản tường trình nầy.
Người thay thế Bảo Ninh, Nguyễn
Minh Tuấn, nguyên biên tập viên, chuyên
bình luận kinh tế của Báo Ðại
Ðoàn Kết, Hà Nội, hiện là
giảng viên tiếng Việt của trường
từ năm 2000, di dân qua Nhật theo diện
gia cảnh (do kết hôn cùng cô Keiko
Watanabé, biên tập viên Báo Yomiuri,
nhật báo lớn nhất của Nhật)
bắt đầu buổi hội thảo. Nguyễn
Minh Tuấn khởi đầu phần trình
bày với tư thế: "..Năm 1975,
tôi mới mười-lăm tuổi,
nên dẫu đã khai thêm hai tuổi
để đang ký vào quân đội
thì cũng chỉ đi lính được
một ngày, và miền Nam đã được
"giải phóng".. Tất cả ký ức
về chiến tranh của tôi là những
ngày sơ tán tại miền Bắc Việt
Nam để tránh bom Mỹ.. Những
hoàn cảnh cực khổ và dễ
sợ." Tuấn có những nhận
xét trong phần kết luận: "Hiện tại
ở Việt Nam, hầu hết mọi người
hình như không ai muốn nói về
chiến tranh. Hằng năm, vào những
ngày lễ lớn như "giải phóng
miền Nam 30 tháng Tư", ngày Quốc Khánh
2 Tháng 9, chỉ những tờ báo
nhà nước (Báo Nhân Dân,
Quân Ðội Nhân Dân, Công An..)
mới nhắc lại những chiến
thắng quân sự. Còn phần đông
dân chúng chỉ chú trọng vào
đời sống, lo toan sinh kế vật
chất. Và đời sống xã
hội, thị trường tài chính,
kinh tế thì bị nạn tham nhũng hoành
hoành, hiện tượng áp bức
tràn khắp.. với thành phần
nạn nhân đầu tiên chính là
những người đã dựng
nên những chiến thắng kể trên."
Nguyễn Minh Tuấn cũng không "ngạc
nhiên" về sự kiện Bảo Ninh vắng
mặt. Qua kinh nghiệm làm báo ở
Việt Nam, anh đã quá quen với
những lý do "trở ngại giấy
tờ hành chánh" nầy, bởi
chính bản thân anh cũng đã
là nạn nhân của những lý
do tương tự đôi ba phen. Phần
phát biểu của Nguyễn Minh Tuấn được
chuyển sang Nhật Ngữ bởi Giáo
Sư Odaka Tai, Giảng Viên Khoa Quan Hệ Quốc
Tế, Ðại Học Daitobunka.
Tiếp đến phần
trình bày của Người Lính-viết
văn. Trái với người bạn
đến từ miền Bắc Việt
Nam kia, anh đã chứng kiến, chịu
đựng chiến tranh từ thuở
thơ ấu, khi chưa đến tuổi lên
mười trong những vùng gọi
là chiến khu (địa phương
thuộc quyền kiểm soát của lực
lượng Việt Minh trong giai đoạn chiến
tranh 1945-1954) suốt một đời dài
cho tới hôm nay, sắp đến tuổi
60. Anh chịu đựng với chính
thân xác mình, nghe bằng tai, thấy
tận mắt, hít thở thấm đẫm
hơi người chết, đầm đìa
khắc khoải tiếng kêu thương tâm
của vạn, triệu cảnh đời
khốn cùng, đau đớn oan khốc
diễn ra qua từng ngày, từng giờ
trên suốt giải quê hương - không
chỉ giới hạn nơi những xóm
làng, đồng ruộng, thị trấn
miền Nam, nhưng đến tận đầu
nguồn biên giới, vùng núi
non cực bắc đối diện lãnh
thổ Trung Quốc, hoặc nước Lào
ở phía Tây. Tình cảnh anh không
phải là trường hợp đơn
lẻ, cá biệt, nhưng là cảnh huống
điển hình của toàn dân tộc
khổ nạn. Anh chỉ là một con người
sống tận cùng với khổ nạn
Việt Nam. Anh không nói quá lời
mà sợ rằng không đủ tiếng
lời để nói. Và không
chỉ trong ba mươi phút ấn định,
nhưng nếu có thể với ba mươi
giờ vẫn chưa đủ để
kể hết toàn cảnh xót xa khắc
nghiệt kéo dài hơn nửa thế
kỷ, từ ngày Mặt Trận Việt
Minh (do đảng cộng sản Việt Nam ẩn
danh lãnh đạo) khởi đầu
cuộc chiến, 19 tháng 12, 1946, đến
khi mặc áo lính, 1960-61, cho đến ngày
tàn cuộc 30 tháng tư, 1975, tiếp lần
vào trại tập trung sau đó, chuyển
ra giam cấm cố ở miền Bắc,
1976, và cho đến tận hôm nay - Dấu
vết, ký ức chiến tranh vẫn
còn nguyên độ sắc. Anh sống
đủ đời với của
cuộc chiến và hứng trọn hệ
quả của nó dẫu hôm nay tạm lìa
bỏ quê hương.
Nầy đây, hãy anh
kể lại: "Chỉ trong vòng bốn mươi
tám giờ kể từ khi bắt
đầu cuộc hành quân trực
thăng vận của ngày 20 tháng 8, 1964,
từ phi trường Bến Tranh xuống
một ngôi làng Quận Bình Ðại,
tỉnh Kiến Hòa.. Ði sau hai người
khinh binh, tôi bước e dè, nhọc
mệt, do tiểu đoàn đã đụng
nặng từ lúc xuống trực thăng,
thêm việc nhặt những xác chết
của đơn vị bạn, người
tôi lao đao trong cảnh trận địa
nguy khốn, mùi hôi tanh từ máu
người lẫn hơi bùn xông
lên ngây ngây ngật ngật. Ðến
ngày thứ hai thì nỗi thảm hại
trong lòng càng thêm độ sắc,
bởi đám tàn binh cộng sản
bị thiệt hại của ngày hôm trước
nay không đường thoát thân,
phải chui vào đụn rơm, ao bèo
lẫn trốn. Tôi kéo ra một gã
du kích.. Chỉ là một thiếu niên
mặt mày ngơ ngẫn do quá sợ
hãi, mồm ngậm búng cơm. Tôi
nhìn kỹ vào mắt hắn ta, tự
hỏi: Ðây là kẻ thù của
mình sao? Ðây là "chiến sĩ
giải phóng", đầu mối tai họa,
kiệt cùng khổ nạn Việt Nam? Thêm
một ngày nơi trận địa, cảnh
tượng bi thảm càng thêm nặng
nề, vây bọc, siết cứng lại..
Tôi đi vào khu vực Nhà Thờ
Công Giáo xã Bình Ðại, ngôi
nhà thờ đẹp đẽ đã
trở nên đống gạch đổ
nát giữa hàng rừng dừa
ngã nghiêng trốc gốc bốc khói
xanh. Khi cúi xuống nhặt bàn tay gãy
của tượng thiên thần, tôi
khám phá ra năm xác chết. Ðấy
là gia đình người giữ
nhà thờ, hai vợ chồng, ba đứa
con. Năm người chết từ đâu
ngày hôm trước. Chết không
biết do đạn của bên nào? Những
xác chết còn "tươi" do sức
nổ gây hơi ép, nét mặt in dấu,
vẻ kinh hoàng, chết ở vị thế
ngồi dưới bàn thờ Chúa.
Năm xác người được
kéo ra nằm trên sân đá lạnh,
nắng dọi xuống gây gây im lặng
vàng khô. Nhìn lên hàng rào,
chiếc áo tím của cô con gái
đầu lòng bay dật dờ như
nỗi oan khuất không nói ra.
Tiếp ngày hôm sau, quân
đi vào một khu vườn với
căn nhà đang cháy nghi ngút khói,
những cột gỗ cháy đỏ xiêu
lệch, nền gạch vỡ loang lỗ những
dấu đạn pháo.. Có người
đàn bà chưa đến tuổi
ba mươi, nét mặt đôn hậu,
trong sáng của người phụ nữ
miền Nam chưa phải chịu đời
khó khăn, vất vả. Chị ngồi
ngơ ngẩn trên thềm ngôi nhà
đang cháy dỡ. Tôi đi đến...
Không
biết đang có đánh nhau hay sao mà
chị lại ngồi đây? Im lặng,
chị ta đứng dậy, đưa chiếc
giỏ mây vào mặt tôi. Ðộng
tác nhanh gọn như người tập
thể dục. Tôi mở gói giấy
cột chặt bởi những vòng cao
su... Sợi giây chuyền vàng, đôi
bông tai, hai chiếc nhẫn và cái
kiềng. "Vàng, chắc hơn một lượng,
con mẹ nầy sợ quá hoá điên
rồi. Lấy đi thiếu úy, không
ai thấy, em cũng không nói cho ai biết
đâu.. Ê, đi đi.." Người
lính mang máy truyền tin thầm thì
bên vai tôi. Anh hươi mũi súng
đuổi chị đàn bà. Người
nầy bước đi với nét
mặt không cảm giác.
- Không được,
vàng của người ta, mình đâu
có quyền lấy. Nầy, chị trở
lui đi, tôi trả lại đây". Tôi
nói với theo. Người đàn
bà quay lại, cũng với bước
chân vô hồn không cảm giác.
Nhưng khi đưa tay đón lấy chiếc
giỏ, nét mặt chị ta bỗng nhiên
nhăn nhúm lại như đang phải chịu
cơn đau quá độ: Chị buông
thỏng hai tay, chiếc giỏ rơi xuống
đất.. Từ từ người
đàn bà đưa tay lên hàng
nút áo.. những ngón tay xoắn
giữ chặt, toàn thân run bần bật.
- Trời đất ơi!!
Tôi kêu lên tiếng nhỏ. Người
đàn bà có thể đã không
hiểu lời tôi do từ cách
phát âm giọng người miền
Trung pha âm Bắc, nhưng chắc rằng,
bởi đã sống trong vùng du kích
cộng sản kiểm soát, chịu sự
tuyên truyền dai dẵng dài lâu, nên
chị đã nhìn tôi như "một
gã lính hung bạo với áo quần
rằn ri, chuyên hiếp dâm, giết người,
cướp giật - như lời "tuyên
truyền giáo dục" thường trực
tác động sâu xa của cán bộ
chính trị cộng sản. Ðộng tác
trả vàng lại cho người đàn
bà cũng không phải là thái
độ, hành vi đạo đức
lớn, đấy chỉ là việc làm
nhỏ bé, bình thường của
một người "có giáo dục
tại Miền Nam"- Biết trọng người
và yêu thương đồng loại.
Sự hiểu lầm cay đắng của
người đàn bà đồng
thời chỉ cho tôi hiểu ra rằng:
Tính
ác độc tàn nhẫn của chiến
tranh, không chỉ làm cho người
trở nên "hai kẻ xa lạ", nhưng là
đầu mối, tai họa thống khổ
đối với nhau.
Tôi dẫn người
đàn bà ra bến sông qua Mỹ
Tho. Chị đi tới với bước
chân vô định.. Lai! Lai! Má đây
con ơi!! Một người nào dưới
sông kêu thất thanh, chị quay lại. Aùnh
mắt trống không. Vẫn bước
chân vô hồn, chị đi về chỗ
thuyền đậu chen chúc.. Má! Má,
nhà mình cháy rồi, cháy hết
rồi. Chị vẫn còn trong cơn mê
của sợ hãi. Chị vẫn chưa
phục hồi trí nhớ để nhận
ra rằng: "Mình đã được
gìn giữ, bảo vệ bởi gã
lính trẻ tuổi mà chị vừa
hiểu nhầm rằng y đòi lấy
của, muốn hiếp dâm". Tôi nói
với những người lính
đang đứng nhìn theo người
đàn bà: "Nhìn gì mấy cha,
đi lẹ lẹ còn qua phà, về Sài
Gòn cho kịp." Về Sàigòn lại
đứng đường, gác chợ
cứ như thằng ăn mày, sung sướng
gì mà ham về sớm thiếu úy
ơi!!
Ðơn vị xuống phà
qua Mỹ Tho để tiếp lên xe về
Sàigòn, nhận nhiệm vụ chống
biễu tình, giữ an ninh thủ đô..
Hai gã thiếu niên đi đầu đoàn
người căng biễu ngữ màu
vàng: "Cương quyết bảo vệ Ðạo
Pháp". Hai gã khác mang một tấm
khác có giòng chữ nguệch ngoạt,
"Hoan hô quân đội".. Ðám
đông la ó, những viên đá
ném tới.. Những viên đá
rơi trên nón sắt, thân áo giáp,
lời chưởi bới ào
ào nghiệt ngã:"..đ..má chúng
mầy ăn tiền mỹ-ngụy bao nhiêu
hỡ... Ai trả lương cho chúng mầy
giết thầy, hại đạo!!" Những
người lính chúng tôi chưa
kịp rửa đôi giày lấm bùn
của chiến trận ngày hôm qua, vết
cháy ở áo Hạ Sĩ Ty, máu
khô còn đóng trên mặt Binh Nhất
Thái, và chính tôi - mùi người
chết còn nguyên nơi miệng, lưỡi..
Tất cả chỉ vừa qua của bốn-mươi
tám bốn giờ từ một vùng
đất gọi là Bình Ðại, Tỉnh
Kiến Hòa. Bình Ðại- Sài Gòn
chỉ khoảng trăm cây số đường
chim bay."
"Câu chuyện kể tiếp
tục với cảnh tượng những
đứa trẻ sống sót trong ngôi
làng Xã Chánh Khoan, vùng Quận Phù
Cát, Tỉnh Bình Ðịnh. Làng trù
phú, vườn củ đậu xanh ngắt,
lúa chín vàng, chĩu nặng bông
trái nhưng không bóng người,
nhà nhà cửa đóng kín,
mùi tử khí âm âm.. Những
đứa bé được tìm
thấy từ căn nhà cha mẹ đã
chết vì dịch hạch. Bé kiệt sức
vì đói, rét do trời đang
ở cuối mùa Ðông 1966.
Câu chuyện tiếp tục
với hoạt cảnh xót xa im lặng nơi
vùng đất lửa hai tỉnh Quảng
Trị, Thừa Thiên, biên giới
cực bắc của miền Nam đối
diện với miền Bắc qua vùng
"Phi Quân Sự". Mùa Ðông năm
1967, hai giờ sáng từ Cửa
Việt, đơn vị anh, Tiểu Ðoàn
9 Nhảy Dù đưa quân lên hướng
Bắc sát sông Bến Hải. Trời
sáng dần để thấy lẫn sau
giải đụn cát, gò đất
có những "ngôi nhà" nhỏ.
Không biết đáng để gọi
là "nhà" hay chăng, vì thật
sự chỉ là những hầm hố,
trên đó người dân úp
lên một mui thuyền và cả gia đình,
những con người ngồi bó
gối sát vào nhau. Khi nhận ra những
người lính đang làm việc
lục soát, những con người
ngồi trong những căn nhà kia cử
động.. Họ bò ra. Vâng, những
"con người gọi là người
Việt Nam" kia bò ra bằng hai bàn tay
và đầu gối, như một loại
dã nhân tiền sử chưa đứng
thẳng được cột sống. Bao
đời nay, người đàn
bà ở hai tỉnh Quảng Trị-Thừa
Thiên, bất kể giai cấp xã hội
nào, theo phong tục kín đáo luôn
có thói quen luôn mặc áo dài,
dù áo dài cũ kỷ, rách vá,
hoặc đang làm việc nặng nhọc, lầm
than. Những chiếc áo dài rách
tay, độn vai bởi hàng chục miếng
vá, khác màu, khác vải. Nhưng
chiếc áo dài của người
đàn bà làng Diêm Hà Thượng
ở vùng giới tuyến không
còn chức năng của mục đích,
ý niệm ban đầu - Ðể bảo
vệ phẩm tính cao quý, thể hiện
phong cách kín đáo của người
nữ. Tất cả những danh, tỉnh
từ huênh hoang, tô vẻ mà những
kẻ lãnh đạo chiến tranh của
cả hai bên hằng nại đến để
chiếm đoạt "lý chính nghĩa"
đã trở nên vô dụng, mất
ý nghĩa đích thực, vì vạt
áo dài kia không được kéo
dài hơn, không đủ lành lặn
để thay thế chiếc quần che phần
hạ thể trong động tác bò lết."
Nhưng chiến tranh bên cạnh
chuỗi cảnh tượng thê thiết
dằng dặt kể trên vẫn có những
hoạt cảnh bi tráng mà mỗi người
lính, người dân miền Nam hằng
hiện thực qua từng ngày giờ
bão táp với cách thế chịu
đựng vô vàn kỳ lạ tưởng
chừng như không thật. Chúng ta hãy
chứng kiến những phận người
sống-chết qua lửa đạn.. "Ngày
25 tháng 6, 1972, Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn
I quyết định khai diễn chiến dịch
tái chiếm Quảng Trị. Khi đổ
quân xuống bãi cát nam Quận Hải
Lăng, trên trục tiến quân hướng
khu Nhà Thờ La Vang, mục tiêu cực
tây, vị trí giữ cạnh sườn
trông về hướng Trường
Sơn, những người lính thấy
những luồng hơi ong óng trên
mặt cát kia sao. Trời sáng dần,
quân tiến sâu vào vùng hơi
bốc lên kia thì họ khám phá
ra.. Luồng khí bốc lên ấy là
tàn hơi của một loại lửa
đặc biệt. Lửa được
cấu tạo không chỉ do vật chất
bị đốt cháy như gỗ, sắt,
thép của các loại súng đạn,
xe cộ, vật dụng chiến tranh; lửa
còn được tăng cường
nung nấu bởi áo quần, quang gánh,
giày dép...Và cuối cùng, lửa
được bền bỉ gìn giữ
bởi một chất liệu bất ngờ,
phí phạm và thực sự không
cần thiết - Những tế bào
hữu cơ của thân thể người
bị xé rách, vùi dập, thiêu
đốt cháy âm ỉ làm chảy
sênh sếâch mặt nhựa đường.
Loại lửa thuần túy "nhân tạo"
nầy đã tồn tại từ bao
ngày qua - từ ngày 29 tháng Tư,
1972, thời điểm những sư
đoàn Miền Bắc tấn công, cưỡng
chiếm thị xã Quảng Trị, phục
kích đoàn người di tản,
chạy loạn qua vùng đất 9 cây
số từ La Vang xuống Cầu Câu
Nhi Phường, nam Quảng Trị. Con người
nghe tiếng nổ cấp kỳ và thân
người tung xé bay bay lên với
lửa.. Họ "biết rõ" như thế
và chỉ biết giương tròng mắt
ngó trân..
Lửa! Lửa!
Lửa!
Lửa dậy từ
Hải Lăng
Giăng giăng triền cát
trắng
Lửa phần phật nung
rền
Ðỏ cọng cỏ đồi
sim.
Bao xác người
cháy đen
Dọc dài Ðường
số I
Xác mẹ chồng xác
con
Chập chờn màu
lửa nghẹn
Dòng "Ðá Chảy
Mồ Hôi"
Sôi sục hơi tử
khí
Ðồi"Thánh Mẹ
Sầu Bi"
Nhầy nhầy thây kinh
dị.
Thây thê thảm quắp
co
Ðặc quánh vũng
máu đỏ
Ðất sềnh sệch
thịt người
Lặng nở trời
nắng to...
Những cái chết kia
không chỉ một lần, vì cảnh tượng
thương tâm kia không chỉ riêng cho
ngày 29 tháng 4, mà được
lập đi lập lại suốt gần hai tháng
qua với đạn, bom cực độ
của cả hai bên, bên nầy lẫn
bên kia sông Bến Hải để tạo
nên một địa ngục lặng im dưới
trời sáng nắng, trên bãi cát
lây lất màu máu cặn. Nhưng loại
lửa nhân tạo kia lại không đủ
độ nóng cần thiết để
thiêu cháy toàn diện, nên những
xác người dù qua bao ngày chết
lâu dài vẫn còn nguyên vẹn
nét kinh hoàng của lần bức
tử, dẫu chỉ là khối xương
sọ nằm trơ bên hố bom kho cạn
nước, sênh sếch váng lớp
thịt xương, dạng thây người
chưa hoàn toàn tiêu hủy.
... Kẹt trong xích xe
tăng
Xác thân ai rây máu
Trời ơi đau Hải
Lăng
Hồn cào sôi bi phẫn.
Nhưng từ sâu khổ
nạn với cảnh chết tận cùng
kia, bỗng sáng chói điều kỳ
diệu như tia chớp của giữa
đêm đen giông bão. Khi những
người lính vượt tuyến
xuất phát, đội pháo vượt
qua vũng lửa Hải Lăng, Giáp Hậu,
La Vang thì trên đồng cháy xuất
hiện những bóng người thấp
thoáng xiêu lệch.. Họ chạy ngã
nghiêng, chập choạng như những bóng
ma nhập tràng vừa dựng dậy
từ đám xác chết. Và
như được hồi sinh bởi
một năng lực mầu nhiệm, đám
"ma người" đồng thất thanh kêu
lớn... Lính tới! Lính tới!
Lính cộng hoà tới! Và chắc
rằng chính tiếng kêu trong đáy
thẵm chết chóc của những người
dân nầy là tin cậy trao gởi cổ
vũ mãnh liệt nhất để những
người lính dựng nên kỳ
tích của trận chiến Mùa Hè
1972 ở mặt trận Quảng Trị trong
ngày 14 Tháng 9- Khi những chiến binh
của các Tiểu Ðoàn 1 và 6 TQLC
đồng khép chặt, diệt gọn ổ
kháng cự cuối cùng nơi Cổ
Thành Ðinh Công Tráng, dựng NGỌN
CỜ VÀNG lúc đúng Ngọ-
Giờ mặt trời lên thiên
đỉnh chiếu ánh sáng rực
rỡ uy nghi xuống Ba Vạch Ðỏ
thắm tươi thêm sắc máu của
những người hằng chết cho
một điều không bao giờ nói
nên lời: Con người luôn
sẵn chết vì TỰ DO - Những
người LÍNH vô danh, những
người DÂN không ai biết đến
- Dân và Lính Miền Nam. Của Quốc
Gia tên gọi VIỆT NAM CỘNG HÒA."
Câu chuyện vốn còn
rất dài, nhưng bởi thời
lượng không đủ, anh chấm
dứt phần trình bày với
kết luận: "Thượng đế ban
cho con người sự sống, và
kế hoạch hóa tình cảnh, thời
điểm từ giả cuộc đời
trần thế- Nhưng con người trong
chuỗi sinh tồn kia đã hiện thực
điều bi thiết vĩ đại của
mình - Người quyết định
lần chết cho chính bản thân. Người
trao gởi lại sau cái chết xác
thân một trị giá vinh diệu. Người
Việt Nam đã hiện thực điều
cao cả kia một cách tự nhiên trong
suốt đêm đen bất hạnh dài
theo thế kỷ, giữa vũng lửa
chiến tranh mà toàn dân tộc đang
gánh chịu một cách khắc kỷ-
Xem như một sự cùng đành.
Chúng tôi không nói điều tán
tụng với chữ nghĩa phù
phiếm, không nội dung- Chúng tôi xác
tín với giá máu của mỗi
người anh em đã, đang hằng
hằng lâu dài gánh chịu... Không
chỉ là những người lính
nơi trận điạ, mà là hằng
loạt tướng lãnh giữ chức
tư lệnh đại đơn vị, hoặc
sĩ quan cấp tá cao cấp: Thiếu Tướng
Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn
Tướng Trần Văn Hai, Lê Văn
Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Ðại Tá
Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông,
Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long...
Người không chỉ chết một
mình, mà với toàn gia đình
cùng một lần quyết tử- Chị
Nguyễn Thị Thàng, vợ một nghĩa
quân chết với chồng và đàn
con nơi chiếc đồn cô quạnh ở
vùng IV; Thiếu Tá Vĩnh, bào huynh
của gia đình niên trưởng
Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm
Xuân Ninh, Chủ Nhiệm Báo Tiền Tuyến)
chết cùng với cả nhà gồm
ba thế hệ: ông, cha, cháu; những
người lính Thủy Quân Lục
Chiến đồng tự sát nơi Bãi
Mỹ Khê, Ðà Nẵng cuối tháng
3, 1975; Trung đội Nhảy Dù của Huỳnh
Văn Thái cùng nỗ chung một lần
lựu đạn sáng 30 tháng Tư.
Ánh chớp thanh quang của anh hồn bao
người trung liệt kia hẳn đã
rung mờ nhật, nguyệt hiện thực
lần Núi Sông cùng khóc với
Con Người. Và Người cùng
một lần sống mãi với Quê
Hương."(*)
Phần trình bày của
anh đã được Giáo Sư
Nguyễn Ngọc Bích, Giám Ðốc
Ðài Phát Thanh Á Châu Tự
Do (RFA), Washington DC chuyển sang Anh Ngữ, bản
dịch quay ronéo để sẵn nơi cửa
phòng hội, cùng với văn bản
tiếng Việt, được tóm lược
qua Nhật Ngữ. Giáo Sư Nhật Văn,
Lê Văn Cừ, bạn cùng lớp
Trần Viết Ðại Hưng (San José,
CA) cựu học sinh Hàm Nghi, Huế, người
đã thấm hiểu, và chịu cơn
đau của sự kiện lực lượng
cộng sản tàn sát người
Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968; lần
chạy loạn oan khốc của ngày 29 tháng
4, 1972 nơi 9 cây số "Ðại Lộ Kinh
Hoàng", phiên dịch cho anh theo kỹ thuật
phiên dịch nghị trường qua phối
hợp với anh từ đêm
đầu tiên đến Nhật. Người
Lính-viết văn cũng chuẩn bị
sẵn ấn bản tiếng Anh "The Stories Must
Be Told", cuốn sách được huynh
đệ, bằng hữu khắp nơi giúp
hoàn thành trong một thời gian kỹ
lục trước ngày đi.
Tiếp theo, Cô Ku Sujeong, Hàn
Quốc (tên Mỹ Suzane; tên Việt, Trâm),
sinh viên học trình tiến sĩ sử
học trình bày chủ điểm, "Những
đơn vị Ðại Hàn có mặt
trong chiến tranh Việt Nam" (Các Sư Ðoàn
Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Thanh Long,
Bạch Mã, Bạch Hổ chịu trách nhiệm
vùng duyên hải Miền Trung từ
Quảng Ngãi đến Bình Thuận, 1965-1973).
Cô Sujeong được một sinh viên
người Ðại Hàn hiện theo học
tại học viện giúp phiên dịch.
Chu Kiên, người Trung
Hoa trình bày "Chiến tranh Việt Nam đối
với Mao Trạch Ðông". Với
những chứng liệu lịch sử
cận đại còn rất mới, diễn
giả người Hoa nầy minh xác ảnh
hưởng lý thuyết, lẫn kinh nghiệm
thực tiển của Mao Trạch động
đối với những quyết định
chiến lược, cũng như chiến
thuật của giới lãnh đạo
miền Bắc, đặc biệt đối
với Hồ Chí Minh. Diễn giả nầy
trình bày trực tiếp bằng Nhật
Ngữ.
Và cuối cùng, Ado Makoto,
thủ lãnh của phong trào phản chiến
Nhật trong suốt nhiều thập niên qua
những vận động đòi quân
đội Mỹ rút khỏi Okinawa, phản
đối Hiệp Ước An Ninh Nhật-Mỹ,
trình bày quan điểm "Nhật Bản
và Phong Trào chống Chiến Tranh" do
ông và các nhóm bạn đồng
quan điểm lãnh đạo, vận động,
thực hiện.
Sau lần trình bày của
Ông Ado Makoto, buổi hội thảo chuyển
qua phần thứ hai: Ðối thoại giữa
cử tọa và các diễn giả,
hoặc phần bổ túc giữa những
người thuyết trình. Khoảng bốn
trăm người tham dự, phần đông
thuộc lớp sinh viên trẻ tuổi (đang
theo học các phân khoa chính trị, lịch
sử của trường) hoặc những
người lớn tuổi có lòng
quan tâm đến thời cuộc, sinh
hoạt chính trị. Ðáng kể nhất
là các ký giả, phóng viên
Hara, Tabata, Oshima phụ trách trang tiếng Nhật
của tờ Mê-Kông do Hồ Thông
Minh chủ biên. Các anh Hà Ngọc Giao,
Lê Văn Xe, Trần Kiến Võ, chị
Hà Anh Võ, và những thanh niên,
thiếu nữ người Việt đến
Nhật từ lúc tuổi ấu, thiếu,
ở những nơi rất xa Tokyo (di chuyển
ở Nhật luôn là một vấn
đề khó khăn vì khoảng cách
quá xa, dân số quá lớn. Tokyo
là một trong những thành phố
đông dân nhất của thế giới
với 12 triệu người) đã
đến tham dự buổi nói chuyện.
Tuy nhân số ít nhưng các anh, chị,
các cháu trẻ tuổi đã theo
dõi với tất cả tấm lòng
của những người Việt hằng
thấm đau cảnh khổ. Các anh Lê
Văn Xê, Trần Kiến Võ thuộc
các khoá 19, 25 Trường Võ Bị
Ðà Lạt, anh Hà Ngọc Giao là
sĩ quan Hải Quân QLVNCH.
(*) Bản tường trình
đầy đủ "Nỗi Ðau Ðầy
Hơn Trí Nhớ" đã được
chuyển sang Anh ngữ trong "The Stories Must Be Told".
Sự Thật ở
đâu?
(Nếu lần phát biểu
được ban tổ chức điều
hành theo thứ tự kể trên,
sang đến phần đối thoại thì
thực hiện theo chiều ngược lại.
Và Bản Tường Trình chỉ ghi
lại những đối thoại của
hai diễn giả người Việt, và
những nội dung có liên hệ trực
tiếp đến người và việc
từ, của Việt Nam.)
Ông Ado với tinh thần
phản chiến cực đoan, đã
nhận định: "Chiến cuộc Việt Nam
là biểu hiện nhất quán của
chính sách "thực dân kiểu mới"
được Mỹ hóa (Americanized,
Ado lập lại nhiều lần) với
những phương tiện quân sự
khổng lồ, sức mạnh siêu đẳng
của nền kinh tế, tài chánh của
chủ nghĩa tư bản." Do quan niệm một
chiều nầy được diễn đạt
bằng tư thế trấn áp cơ hữu
của diễn giả qua cách phát âm
Nhật ngữ mạnh mẽ, với dẫn
chứng sự kiện quân lực
Mỹ đã từng tham chiến ở
Ðại Hàn, trấn đóng tại
Nhật trước khi có mặt ở
Việt Nam, nên từ phía cử tọa
đã có thắc mắc với
cô Sujeong (Ðại Hàn): "Phải chăng
lần tham dự của quân đội
Ðại Hàn có nguyên do từ
sự đe dọa của Bắc Hàn?"
Có thể do cô đã không chuẩn
bị cho câu hỏi thắc mắc nầy
(vì chỉ đặt trọng tâm vào
hoạt động quân sự của lực
lượng Ðại Hàn tại Nam Việt
Nam), nên Người Lính-viết văn
đã xin phép được phép
trả lời hộ, anh nói: "Chúng
tôi đã quả đã dự
tri cho câu hỏi nầy nên đem sẵn
theo đây một dĩa CD có 30 hình
ảnh về chiến tranh không phải chỉ
riêng với hoàn cảnh VN mà còn
của nhiều vùng đất, và những
sắc dân khác. Một của 30 bức
ảnh nầy là cảnh tượng người
Bắc Hàn vượt sông Naktong chạy
về phía nam vĩ tuyến 38 trong chiến
tranh 1950-1953 (cũng được trích
đăng trong phụ bản của The Stories Must
Be Told). Hình ảnh nầy đủ để
chứng minh sự kiện đe dọa của
lực lượng quân sự, chính
sách hà khắc chính trị của
phe cộng sản không chỉ xảy ra với
chiến tranh Việt Nam (mà chỉ do nguyên
cớ là tham dự của người
Mỹ như ôngAdo vừa kể ra)- Nhưng
đe
dọa mang tính danh cộng sản đã
có và hằng tác động lên
toàn cầu, nên đã xẩy ra cảnh
tượng như vừa kể trên
trong nam 1950ở Ðại Hàn; sự
kiện người lính Ðông Ðức
đào thoát qua bức tường
Bá Linh năm 1960; và hiện tượng
vạn, triệu người Việt chấp
nhận cái chết để thoát khỏi
tay người cộng sản ở Việt
Nam.. Di cư, vượt tuyến khỏi miền
Bắc sau tháng 10 năm 1954; chạy loạn
Mậu Thân 1968; chạy tỵ nạn năm 1972;
di tản tháng Ba, Tư năm 1975, và cuối
cùng đồng loạt (cả hai miền
Bắc, Nam) vượt biên suốt hơn
một thập niên sau 30 tháng Tư, 1975. Tóm
lại, không những chỉ có đe
dọa của Bắc hàn đối với
Ðại Hàn, của Ðông Ðức
đối với Tây Ðức,
của Bắc đối với Nam Việt
Nam- Nhưng đe dọa cộng sản là thực
tiển của tình hình chính trị-quân
sự toàn cầu trong suốt nửa
thế kỷ vừa qua. Tóm lại, chiến
tranh Việt Nam là chiến tranh hai miền Bắc-Nam,
giữa chế độ cộng sản Miền
Bắc và chế độ cộng hòa,
dân chủ Miền Nam - Chiến tranh nầy
khởi đi rất lâu trước
khi chính phủ Mỹ đổ quân vào
đến Việt Nam (mùa Hè 1965 tại
bãi Ðà Nẵng)- Ít nhất cũng
chính thức từ 19 tháng 12, 1960,
ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam theo nghị quyết của Ðại
Hội 3 Trung Ương Ðảng Lao Ðộng
(cộng sản), ngày 10 tháng 6, 1960 tại
Hà Nội. Và chiến tranh ấy vẫn
kéo dài sau khi quân nhân Mỹ hoàn
toàn rút khỏi Miền Nam (27 tháng
3, 1975), ngoại trừ một văn phòng
tùy viên quân lực (DAO) theo điều
khoản của Hiệp Ðịnh Paris. Có
một cán binh bộ đội nào đã
giao tranh với đơn vị chiến đấu
Mỹ trong khoản thời gian trước,
sau thời đoạn 1965-1973 ngắn ngủi
của cuộc chiến tưởng chừng
bất tận đau thương kia?
Một người khác
(mà anh đoán chừng phải là
người am hiểu rõ tình hình,
văn hóa Việt do chữ viết (Việt
ngữ) rất đều và đẹp)
đặt cho anh câu hỏi: 1/ Phải chăng
ở Miền nam có chánh sách cưỡng
ép người vào lính? 2/Ðời
sống vật chất của cấp sĩ quan
rất thoải mái bởi có mức
lương cao. 3/Chính sách giam giữ
của chính quyền miền Nam đối
với tù binh bộ đội cộng
sản? Anh có trả lời như sau: "Trong
một nước có chiến tranh thường
trực, lẽ tất nhiên phải có
chính sách tổng động viên nhân,
vật lực cho cuộc chiến. Tuy nhiên
như trường hợp anh, tự nguyện
vào lính năm 17 tuổi đã chứng
tỏ, miền Nam không thiếu những
thanh niên tình nguyện vào quân ngũ,
(không những chỉ tình nguyện vào
Trường Võ Bị mà còn phải
thi tuyển gắt gao). Hơn thế nữa,
đơn vị anh, binh chủng nhẩy dù
chỉ nhận người tình nguyện
- từ cấp binh sĩ đến hàng
tướng lãnh- và được
gia nhập vào binh chủng nầy là một
vinh dự lớn, mà người
sĩ quan khi tốt nghiệp trường võ
bị phải đậu thứ hạng cao,
hoặc thủ khoa khóa học mới có
quyền ưu tiên chọn lựa. Tuy nhiên,
hoàn toàn không phải phải vì
đồng lương mà người
thanh niên vào lính- bởi đây
là một nghề nghiệp có mức
sống thấp nhất của xã hội
miền nam- Số tiền lương của cấp
sĩ quan chỉ ngang chừng 10 Ðô-la
Mỹ, chứ đừng nói binh
sĩ, hạ sĩ quan. Anh dẫn chứng
với lời tự sự cá
nhân anh trong mục tiểu sử tác
giả của cuốn "Những Chuyện
Cần Ðược Kể Lại: Chưa
hề có một tài sản nào lớn
hơn 10 đô-la Mỹ, tài sản lớn
nhất có được là số
tiền Bộ Xã Hội Mỹ cấp phát
vào ngày nhập cư đất Mỹ
năm 1993". Anh cũng không quên kể
lại câu nói của người đàn
anh thương mến, Trung Tá Nguyễn Xuân
Phúc, Tiểu Ðoàn Trưởng
Tiểu Ðoàn 2 TQLC: "Tao mấy năm
làm tiểu đoàn trưởng chưa
hề cầm số tiền lớn hơn
100.000 đồng (thời giá năm
1970, khoảng 60 đô-la Mỹ)" Chương
"Người Lính Không Hề Chết"-
NCCDKL (sđd)". Về câu hỏi thứ
ba, tương tự như vấn nạn đối
với cô Sujoeng về vấn đề
"Mối đe dọa từ Bắc Hàn",
lần nầy anh cũng chuẩn bị đủ
đối với tình thế (dự
liệu) qua chương "Tù Binh, Anh đi về
đâu?" của cuốn sách viết
từ 1974, "Tù Binh và Hòa Bình".
Trong chương nầy anh đã viết
nên lời: "Ở trại giam Phú
Quốc do quân cảnh VNCH quản trị, người
tù cộng sản được bảo
vệ bởi những quy luật trại
giam theo Công Ước Quốc Tế Genève
về tù binh (cố vấn Mỹ của
đơn vị quân cảnh lại là
người giám sát nghiêm chỉnh
việc thi hành nầy). Và trái lại,
mối đe dọa nguy khốn đến từ
những "đồng chí" của họ
- Những cán bộ chính trị của
tập thể tù binh cộng sản. Và
khi ra khỏi nhà tù, trả về phía
cộng sản, họ tiếp tục bị đày
ải bởi nhà cầm quyền Miền
Bắc bởi tội danh "đã để
phía ngụy quân bắt cầm tù".
Anh đã không dự tri điều
hoang tưởng- Năm 1976, khi chuyển ra giam
giữ ở đất Bắc, anh gặp
lại đủ những người
mà anh đã trao trả về phía
cộng sản trong những tháng đầu
năm 1973 tại địa điểm trao trả
bên kia sông Thạch Hãn (Quảng Trị)".
Nhưng Nguyễn Minh Tuấn đã
không tin về câu trả lời trên,
anh cho rằng, sự hà khắc, độc
ác của chế độ giam giữ
của VNCH là một điều không thể
chối cải được, vì sự
kiện nầy đã bị chính các
nhân vật "hòa bình" ở Miền
Nam tố cáo. Vì thời giờ
không cho phép, hơn nữa vần đề
đã đẩy qua vùng chính trị
mà nếu muốn đề cập thì
phải dẫn chứng với nhiều
người, việc khác (thành phần
thứ ba, các phong trào hòa bình
ở Miền Nam, những nhân vật
phản chiến "ngụy danh" mà sau 1975 đã
hoàn toàn lộ mặt.. Những Lý
Chánh Trung, Nguyễn Thị Thanh Vân (vợ
Ngô Bá Thành), Huỳnh Tấn Nẫm..)
Và anh cũng đã dự tri chính
xác về những con người
nầy cùng cái gọi là "cuộc
cách mạng gọi là giải phóng
miền Nam" qua khẳng định đã
viết thành lời từ 30 năm
trước: "Rồi đây trận
chiến cuối cùng sẽ là giữa
chúng tôi với những sư đoàn
chính quy cộng sản Bắc Việt.. Lá
cờ ba mầu của mặt trận giải
phóng (Miền Nam), cùng những kẻ
múa rối ở Miền Nam sẽ bị
vất đi như một thứ phế phẩm!!
(TB& HB, Trang 411-417, ấn bản 1974, Hiện Ðại
Sàigòn)". Anh cũng không trả
lời câu hỏi có tính cách
"chiến thuật nầy" là cốt dùng
thì giờ còn lại để trả
lời về câu hỏi mấu chốt:
"Ông nghĩ thế nào về sự
kiện Hà Nội bị Mỹ dội bom".
Câu hỏi nầy do một thính giả
nêu ra nhưng Nguyễn Minh Tuấn chuyển
"gánh nặng" qua cho anh. Không chút bối
rối và ngạc nhiên, anh trả lời:
"Trước tiên tôi cực lực
phản đối việc Mỹ ném bom Hà
Nội, vì một lẽ rất giản dị:
Không
ai cam tâm muốn đất nước
mình bị tàn phá. Mà cũng
không hẳn như thế, tất cả những
con người có lương tri, lương
năng không ai hoan nghênh những vụ
tàn phá, tấn công bằng bom đạn.
Nhưng nói đi thì cũng phải nói
lại, trong dĩa CD sẵn mang theo hôm nay (nhưng
rất tiếc vì lý do kỹ thuật,
CD nầy đã không phóng chiếu
được. Anh đưa CD lên thêm
một lần) có hình ảnh phố Khâm
Thiên, khu dân cư Hà Nội bị dội
bom trong chiến dịch dội bom 12 ngày (Tháng
12, 1972) của chính quyền Mỹ. Nhưng
nếu đã kết án vụ việc
phi cơ Mỹ ném bom ở Khâm Thiên
thì cũng phải kết án những
vụ pháo kích của lực lượng
cộng sản vào những thành phố,
khu dân cư ở Miền Nam. Trong dĩa
CD nầy cũng như trong những cuốn
sách tôi trình bày trước
quý vị hôm nay (có những ảnh
do chính bản thân hoặc các phóng
viên chiến trường bạn hữu
tôi chụp trong trận chiến mùa Hè
1972), những ảnh nầy trình bày
đủ cảnh tượng thường
dân bị tàn sát trên 9 cây số
"Ðại Lộ Kinh Hoàng" nam Quảng Trị,
ngày 29 tháng 4, 1972; thị xã An Lộc
bị san thành bình địa, dân chạy
loạn về Chơn Thành, Bình Dương
bị tàn sát bởi cuộc pháo
kích tập trung đêm 12 tháng 4, 1972.
Trường Tiểu Học Cai Lậy, Ðịnh
Tường (vùng đồng bằng
Cửu Long) ngày 9 tháng 3, 1974 gây thương
vong 43 trẻ nhỏ, bị thương 70 em khác..
Những vụ giết người không
cần thiết và cực độ vô
nghĩa nầy phải một lần bị
lên án cùng lần với việc
phố Khâm Thiên Hà Nội bị dội
bom. Và trở lại vấn đề
dội bom thì thật ra mà nói- ba phần
tư số bom Mỹ với chất độc
khai quang là dội xuống Miền Nam- Thế
nên, nhân dân Miền Nam mới là
người có đủ toàn quyền
trước hết để nói lên
vấn nạn đau xót nầy. Phải,
chính chúng tôi - Người Miền
Nam mới là nạn nhân đầu
tiên và hứng chịu phần nặng
nề nhất của cuộc chiến. Hai trăm
ngàn dân, lính trong lần di tản Tây
Nguyên khởi từ 15 tháng Ba, 1975
kết thúc ngày 28 cùng tháng, chỉ
còn khoảng 60.000 con người đếm
được tại trại tiếp cư
đèo Rù Rì, Nha Trang, không có
một đơn vị quân đội nào
còn được khả năng chiến
đấu khi về đến vùng đồng
bằng. Biết bao nhiêu người đã
chết trong chiến tranh? Chỉ biết sau 1975,
trong hai triệu người Nam, Bắc vượt
biên ra khỏi nước đã có
600.000 ngàn người bỏ mạng trên
biển đông, nơi rừng già
biên giới Việt- Miên-Thái (thống
kê của Ủy Ban Tỵ Nạn Liên Hiệp
Quốc). Biết bao nhiêu người Việt
Nam đã chết trong chiến tranh? Biết
bao người Việt Nam đã chết
sau thống nhất, trong hòa bình? Anh hỏi
mình, hỏi cử tọa, hỏi người
bạn Nguyễn Minh Tuấn đến từ
miền Bắc, hỏi người phản
chiến Ado Makoto.. Người nào đã
chiến thắng, kẻ nào đã thua
trận? Phải chăng chỉ Dân Tộc Việt
Nam chịu nguồn uất hận dằng dặt
khôn nguôi!!
Còn có những câu
hỏi về việc Tướng Nguyễn
Ngọc Loan bắn tên đặc công ở
Chợ Lớn (1968); thái độ
đối với kẻ khủng bố
hiện tại? Nhưng anh có thể nói
gì thêm và nói gì hơn nữa
(dẫu cũng đã tiên liệu cho
những vấn đề nầy) ngoài
mối đau thương quá đỗi
lớn lao còn rất mới sau 26
năm gọi là hòa bình ở
Việt Nam.
Hậu từ
Tương tự như những
lần ở sông Thạch Hãn, Quảng
Trị sau những cuộc trao trả tù
binh đầu năm 1973, mỗi buổi chiều
trở về bờ sông phía nam,
phần đất kiểm soát của Thủy
Quân Lục Chiến VNCH, qua thành phố
đổ nát, hoang tàn, hậu quả của
lần tàn phá cực độ trong
suốt năm 1972.. Anh có cảm giác ngậm
ngùi, khắc khoải: Rồi đây
sẽ chẳng đi đến đâu,
tất cả chỉ là vô ích, những
nỗ lực của bản thân, bằng
hữu, chiến hữu trong cuộc chiến
nhiều thiên lệch, không cân sức,
bị xuyên tạc, ngộ nhận, mạ lỵ
từ nhiều phía- Cuộc chiến đấu
tự tồn của dân và lính
Miền Nam từ lâu nào đã
mấy ai hay, cho dù bậc đại trí,
đạo hạnh như Tổng Thư Ký Liên
Hiệp Quốc, Giáo Hoàng Vatican.. ?! Nay cũng
thế, dẫu anh đã nói đến
tận cùng, đã chuẩn bị thật
chu đáo, đã diễn dịch vô
vàn từ sự thật, nhưng làm
sao đẩy được khối đả
tảng "chiến tranh Việt Nam được
Mỹ hóa trong tất cả mọi tình
thế, mọi điều kiện" ra khỏi
quan niệm cố định của những
người phản chiến Nhật như
Ado Makoto? Và dẫu cho anh thật lòng tin
tưởng về tính trong sáng, trung
trực của thế hệ người
trẻ tuổi (điển hình qua số đông
của phòng hội), mà thái độ
nghiêm túc, cẩn mật của họ trong
suốt buổi hội thảo đã làm
anh cảm khích- nhưng phần đông
những người nầy đều
nhận quá trình huấn luyện, sưu
khảo từ học trình đại học
Việt Nam hiện tại - mà lý thuyết
xã hội chủ nghĩa vẫn là quan
điểm chủ đạo của tất cả
mọi công trình văn hóa, văn nghệ,
giáo dục, kể cả kinh tế. Từ
"thực tế- thực tế gọi là
xã hội xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam" nầy anh rơi vào một tình
trạng não nề với câu hỏi
nhói đau: "Nước Nhật chỉ
sau mười lăm năm (1945-1960), từ
hoang tàn đổ nát do hai trái bom
nguyên tử; danh dự, kiêu hãnh
dân tộc, quân đội bị xúc
phạm (Nhật Hoàng Hirohito tuyên cáo
đầu hàng, Mỹ thiết lập tòa
án Tokyo xử tội phạm chiến tranh);
cảnh cùng khổ, sa đọa xã hội
hiện ra cùng khắp (đến nổi
cảnh sát phải dùng đến biện
pháp truy quét mới dọn sạch được
cảnh sống lầm than của dân bụi
đời ở khu nhà ga Ueno, Tokyo
những năm sau 1945)- Nhưng chỉ đến
thập niên 60 Nhật đã là một
cường quốc kinh tế, và hiện
nay là đối thủ không khoan nhượng
của Mỹ trong tất cả mọi lĩnh
vực kinh tế, tài chánh, sản xuất.
Phép mầu nầy đến bao giờ
xuất hiện ở Việt Nam - Ðất
nước đang ở đầu thiên
niên kỷ thứ ba với chiến
lược kinh tế "nhất quyết tiến
lên xã hội chủ nghĩa dựa
trên cơ sở nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ". Hình thái phát
triển xã hội (và chỉ thực
hiện được) do dịch vụ tiêu
thụ và tệ nạn bàn giấy thông
qua thủ tục hối lộ. Hơn một phần
tư thế kỷ kể từ ngày thống
nhất đất nước số phận
người dân vẫn bị chi phối
và quyết định bởi Bộ Hình
Luật An Ninh Tổ Quốc- biến thái của
nghị quyết An Ninh Tổ Quốc từ
đại hội III năm 1960 của trung ương
đảng chuẩn bị lần xâm chiếm
Miền Nam bằng vũ lực - Công An
Bộ Nội Vụ toàn quyền bắt và
kết án người bằng biện
pháp tập trung cải tạo!! Linh Mục Nguyễn
Văn Lý (bạn đồng hành chung
chiếc cùm với người viết
trong lần chuyển trại 8 tháng 1, 1988 từ
Thanh Cẩm, Thanh Hóa ra trại Ba Sao, Hà Nam
Ninh) nay đang chịu thêm một án tù
thứ ba trong đời cũng chỉ
vì lý do "vi phạm an ninh tổ quốc".
Trong bữa cơm từ
giả tại nhà Nguyễn Minh Tuấn, anh
có kể cho chúng tôi nghe về nỗ
lực của báo giới Vệt Nam
hiện tại.. Báo Ðại Ðoàn
Kết của anh đã có công đầu
trong vụ án xét xử ông Nguyễn
An Trung, một Việt kiều mang tiền về
nước để phát triển ngành
giao thông, nhưng bị kết án tù
vì tội khai gian thuế, chịu án tù,
tịch thu tài sản và phạt vạ 1
triệu đô-la Mỹ; hoặc báo đã
làm sáng tỏ vụ công an bắn
chết một thanh niên trên cầu Chương
Dương Hà Nội, cướp tiền
của người nầy, xong vu oan nạn
nhân là kẻ cướp giật. Cha
nạn nhân đưa đơn thưa kiện
khắp nơi các cấp nhưng đều
bị chìm lấp vì hồ sơ (giả
tạo) của công an đã hoàn tất.
Nỗi oan uổng của người chết
chỉ được sáng tỏ khi báo
Ðại Ðoàn Kết (qua đều
tra của Nguyễn Minh Tuấn) đưa nội
vụ ra ánh sáng. Hoặc vụ một chị
đàn bà sắc tộc Tày bị
vu oan đã thiếu nợ 200.000 đồng
(khoản chừng 15 Mỹ Kim), bị kết
án 18 tháng tù trong tình trạng ung
thu bướu đang giai đoạn nguy kịch!!
Tuấn kết luận: "Báo chí phải
biết tránh né, muốn viết phải
nhắm vào, đánh tỉa từng
cá nhân- nhưng đừng bao giờ
đụng đến chính sách và
trung ương đảng!" Anh biết người
bạn nói điều thật lòng, và
can đảm thực hiện nghĩa vụ
báo chí - Nhưng anh nghĩ thầm: "Nếu
là một nước có kỹ cương
người dân có bao giờ lâm
cảnh nguy biến đến như thế?
Và anh biết có hỏi người
bạn chăng nữa thì mối xót
xa nầy vẫn giữ nguyên độ
sắc nên anh đành im lặng. Và
anh chợt hiểu ra: Tại sao Bảo Ninh không
được tham dự buổi hội thảo
- Hẳn những người cầm
quyền ở Việt Nam e ngại về tiếng
nói của một người viết
văn trung trực.
Từ nhà Tuấn, anh
cùng Ðỗ T. Minh và Ng. Thủy đi
bộ ra đường đón taxi, ngang
qua cơ sở chính của Hãng Sony,
nhìn lên, chỉ là một tấm bảng
đơn giản ghi tên hiệu của cơ
quan nắm giữ quyền lực, khả
năng kinh tế - kỹ thuật toàn cầu.
Anh hỏi thầm thêm một lần.. Biết
đến bao giờ ở Việt Nam.
Về đến Mỹ, tin tức đầu
tiên anh đọc được: "Những
người cầm quyền ở Hà
Nội đang chuẩn bị thông qua đạo
luật về biên giới và lãnh
hải ký với Bắc Kinh trong những
năm 1999 và 2000- Theo đó Việt Nam
chỉ còn 53, 23% vùng biển chủ quyền
và Trung Quốc chiếm 46, 77%. Và công
an thành phố Sàigòn tìm cách
phá đám tang Hòa Thượng
Thích Ðức Nhuận.
Anh chờ đợi
gì nơi những người cầm
quyền Hà Nội, hôm nay đang lập
lại lần đê nhục của Mạc
Ðăng Dung ở thế kỷ 16, nhưng
với lý do thậm tệ đốn
hèn hơn - chỉ để củng cố
vị thế chính trị của cá nhân
và tổ chức của họ.
Hóa ra, những kẻ
có tội luôn ở tình trạng
sợ hãi. Họ sợ Anh Linh Con Người
dẫu đã chết và quỳ lạy
loại xác ma hủy hoại hư thối.
Phan Nhật Nam
17 tháng 1, 2002.
Ðể nhớ ngày
ký kết "Hiệp Ðịnh Tái Lập
Hòa Bình ở Việt Nam"
hai-mươi chín năm
trước tại Paris. |