Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT

 Những Bài Viết Của
 Phan Nhật Nam

Bằng Hữu, Thật sống đủ ngay đây

Trong khoảng thời gian đằng đẵng giữa vũng tối tại những hầm giam đất Bắc Việt Nam, hoặc trong tình cảnh vắng lặng nơi chốn mông mênh tuyết đóng dầy vùng cực Bắc nước Mỹ, đêm thăm thẳm lái xe xuyên liên bang, tạm ghé vào một Rest Area nào đấy dọc đường I 10 hay I 5, I 35… Anh thường áp dụng một phương cách tự bảo vệ rất hiệu quả- Nói chuyện với mình, đặt bản thân vào trong một tình huống nào đó, tìm ra một giải pháp, xong phê phán giải pháp ấy… Quá trình "độc diễn" ấy ắt phải có tham dự của, với "mỗi người Bạn"- đơn vị cùng sống với anh suốt đời dài từ thuở anh bắt đầu có ý thức về mình vào một ngày niên thiếu, tháng 9, 1950 - thời điểm anh chính thức ra khỏi gia đình đến ngủ nhà người bạn gồm sáu anh em trai họ Cao. Với cách "sống-cùng-với-bạn" nầy cho đến hôm nay, gần số tuổi 60, anh đã rất nhiều lần bật kêu lên: Bạn đâu mà nhiều thế!! Trước tiên là bạn học, bởi theo học suốt Miền Nam, từ Huế vào Sài Gòn; bạn lính của đủ Bốn Vùng Chiến Thuật, hết thảy quân binh chủng Quân Lực Cộng Hòa, do lính Nhảy Dù tăng phái đi khắp các mặt trận, phối hợp với nhiều đơn vị bạn; tiếp, bạn viết báo không hề phân biệt"Nam, Trung, Bắc Kỳ"; bạn văn khoa cử, nghiêm túc như Ông Cả Doãn, lẫn văn giang hồ như "Võ Sư" Hồng Lĩnh, Sa Giang Trần Tuần Kiệt múa kiếm bằng… đủa; bạn hảo thủ quanh bàn rượu, vì đã sáng tạo những câu "danh ngôn" rất được tán thưởng: "Ðời là cuộc say dài!!" Và cuối cùng, bạn…tù- mà khi leo lên vùng núi ở Perth, nơi Châu Úc heo hút năm 1996 , vào căn nhà có treo tấm ảnh "vô thượng sư", đã có một ông nhảy ra ôm chầm khóc nức… "Anh Nam ơi tôi ở trại 12 Hoàng Liên Sơn với anh đây".

Mỗi Người trong đám đông đảo kể trên, qua dài nửa thế kỷ - đã chiếm một vị trí riêng biệt, nhất định trong đời sống bản thân anh – mà không phải chỉ riêng đối với những nhân sự quá đổi thân thiết, gần gũi như Nguyễn Bá Trạc, Vũ Ngự Chiêu; hoặc những người đã cùng anh chia sẻ qua một thời điểm sống-chết, như Nguyễn Lô ở Nhẩy Dù, hoặc Nguyễn Xuân Hoàng chiều ngày 29 tháng 4, 1975. Nhưng anh hằng nhớ ngay bây giờ- Viên Linh với lông mi nổi gồ, tóc dài, chiếc xe Lambretta hai mầu xanh, trắng ở một nhà in đường Nguyễn Trải, năm 1972. Anh thấy rõ trước mặt Lê Tất Ðiều với ánh mắt đen hóm hỉnh, tinh quái trước tiệm phở đường Võ Tánh 1973 trong phòng tối trại giam Thanh Cẩm, và lạ thay, anh nhớ câu kết luận: "đôi guốc khóc nấc lên, xong quăng mình theo giòng nước" trong tập truyện ngắn Những Giọt Mực, nhưng quên hẳn bạn tên là gì?! Và cũng chẳng cần phải là những người thường trực giao tiếp, chuyện trò nầy… Năm 1998 mới đây, chỉ cần vừa thoáng thấy một anh chàng dong dỏng cao, đội chiếc mũ nồi đỏ là lạ bước vào nhà một người quen - anh nhớ ngay- sống lại đủ - giây phút phiền phiền bực bực của tình cảnh đang mặc áo lính nhẩy dù, đội mũ đỏ giữa một đám trẻ tuổi phóng túng ở quán cà-phê đường Nguyễn Thông, khu Văn Khoa, Sài Gòn 1967, 68… Những người trẻ tuổi kia là Quỳnh "lõi", Trung "sữa", mà anh chàng cao gầy nét mặt khinh bạc chua chát ấy chính là "người lạ rất quen" đêm nay, tên gọi Bùi Ngọc Tuấn, lần đầu tiên mới biết sau hơn ba mươi năm - Hơn ba mươi năm chỉ là một chớp mắt cực ngắn khi anh sống cùng người - với mỗi người bạn.

22 Tháng Sáu, 1975 anh vào trại tù với những hình ảnh, ấn tượng thương tâm, tàn khốc của chính gia đình, bản thân, bằng hữu, của mỗi con người gọi là người Việt ở Miền Nam mà anh đã chứng kiến, sống cùng từ ngày vỡ mặt trận Ban Mê Thuộc 10 tháng Ba, 1975- Nhưng bằng bặt thắm thiết, rõ nét hơn tất cả là ánh mắt lạc thần của Tạ Ký suốt buổi rượu nhạt lạnh im nín nơi quán cóc đường Trần Quý Cáp; của Mai Thảo mang chiếc túi vải đi mua thức ăn ở chợ Thái Bình, anh đứng nhìn những trái cà chua đỏ trên tay với tròng mắt không cảm giác, và Trần Tuấn Kiệt ngồi xao xác giữa một đống sách vỡ ngỗn ngang trên lề đường Lê Lợi… Anh hiểu ra điều kỳ diệu cảm động: Mỗi con người đồng có phần sống và chết chung cùng nhau dù cách biệt không, thời gian, giới tính, tuổi tác, phẩm chất tâm lý lẫn vật chất. Riêng những Bạn Văn, Bằng Hữu tham dự đủ với anh từ Chữ, với danh tính, toàn thể con Người của họ - Bởi, TẤT CẢ CHỈ LÀ MỘT.

Có một điều tưởng như thừa nhưng cũng cần phải nói ra. Những đoạn viết ngắn sau hoàn toàn không do cảm tính "yêu, ghét", cũng không là đánh giá về "văn nghiệp" của những huynh đệ, bằng hữu, mà chỉ là nét đúc kết đầu tiên - cuối cùng về phản ảnh của họ trong anh, qua hiện thực thuần thành chính xác nhất - chữ viết của chính họ.

Anh "viết" những đoạn ngắn nầy trên đầu ngón tay.

Viết lại và bỗ sung thêm nơi Minnesota,
22 Tháng Chín, 2000.


Tháng, Ngày chung của l, m, n

Phan Nhật Nam

1-
Ông nuôi Bầy Thỏ chờ Sinh Nhật,
Tháng Giêng chưa mưa Cỏ không mọc
Mang Chúc Thư leo Ngọn ÐỉnhTrời
Ðành ra Ngỏ Sau, mở chai cô-nhắc.

2-
Ðêm Mưa Cuối Năm vuốt tóc mai,
Sợi ngắn, sợi dài....
Sợi thương ai,
Sống...Viết,
Biết đâu về Viễn Phố,
Ðàn ông... Ðàn bà,
Ðàn lai rai.

3-
Mong Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử,
Hòa Bình chưa kịp Nghĩ,
Ði tù!!
Ba Lính Nhẩy Dù còn lâm nạn,
Huống gì mỗi thân Kỳ Hoa Tử.

4-
Yêu xong hãy làm Loạn,
Kiếm tiền về Bà Om
Cô Tuyết hết Ðất Sống,
Chú Ðạt đành trôi sông.

5-
Rồi thả đời bay như Khói Sóng,
Ngồi chờ Tự Do, Lý tất Thắng,
Ba mẫu đất cằn bên sông tạnh,
Gió gờn trăng lạnh,
Ông trồng... bông!!

6-
Anh trải chiếc Chiếu Ðiều,
Bên Giòng Sông Ðịnh Mệnh,
Quyết tắt Lửa Ba Sinh,
Hành Thiền, Gìn Giữ Ngọc.
Nào...
Ði tới đất hứa,
Bè Bà Chúa nát vỡ
Còn mỗi Con Kỳ Lân,
Nhìn Rừng Lau lệ ứa.

7-
Người đứng trên sông Ðàn Ngang Cung
Người ngồi trong tù vá chiếc quần
Người đi tập trung dáng sừng sững
Sau… Trước,
Người giữ chốt Chưởng Môn.

8-
Ai biết... Ta về,
Ai ra đón?!
Tưởng chết đâu trên Chiều Phá Tam Giang,
Còn chăng tiếng dế nơi bờ lạch,
Âm vọng Tàu Ði ngỡ sóng xa,
Ngoài Trường Sa,
Ðâu ngoài Trường Sa...

9-
Bạn đã mang tiếng Kẻ Tà Ðạo,
Cho Ði Trên Mây cũng chưa cao,
Hãy Ngồi Lên Cỏ Nhà Mái Ðỏ,
Bất Cứ Lúc Nào...
Bụi, Rác,
Và thấy đau.

10-
Nằm hầm Tre Gai mười bảy năm,
Ðào trăm Cái Hố,
Hốt vạn tấn phân,
Một khắc nhập Cơn Sốt vỡ óc,
Thấy kiến Qua Cầu leo Con Dốc.

11-
Quyết vì Tình Yêu cô liều Chết,
Cầm lòng nhảy hết Bản Tango
Như Nghề Làm Vua đâu phải dễ
Con Mắt không Tím, cũng lên Kinh.

12-
Người Ði Qua Ðời Tôi,
Rồi người đi trở lại,
Ðêm khua khoắt Tạ Từ
Nào Ðâu lần Vĩnh cửu?!

13-
Lội qua Sông Côn gặp Nước Lũ,
Lội lại Sông Côn Mùa Biển Ðộng
Nó cắt tai ai... Cắt gì của ông?
Ði Ðường Một Chiều hãy cẩn thận.

14-
Bác lên Núi cao đánh chiếc Khánh
Bác xuống Ruộng sâu nghiệp Viết văn
Dụng văn xong làm báo
Bàn thấu chuyện sao xanh.

15-
Cậu chẳng đi Di Cư
Sao Nhức Ðầu Vừa Phải
Bứt một Ngọn Cỏ Bồng
Khóc nức như Cơn Mưa.

16-
Nhìn qua Khe Cửa,
Tiếp Cánh Ðồng...
Thấy Khánh nhảy dù dài ngó mông
Vẫn biết Hợp Lưu là nghĩa đúng
Hai giòng chảy ngược khó lưu thông.

17-
Một tay hốt Tuyết
Tay cào Cỏ
Tay kia nặn Bột
Tay này mần Vua
Chẳng biết tìm chi trong Tiếng Nói
Cùng đành Ðổi Mới
Chữ và Thơ.

18-
Anh về Miền Ðông, chạy thổ mộ
Thị Trấn ẩm buồn khói Phoenix
Một độ Hóa Thân táng biển lớn
Chìm sâu đáy thảm Thủy Mộ Quan.

19-
Ngày Thơ, Tình Thơ cô cất tiếng hát
Chớp Mắt Một Thời chị Nghe Ðại Bác
Phượng Ðỏ làm chi, đỏ cả Sài Gòn
Thắt Giải Khăn Sô, bà cười hay khóc?!

20-
Lờ vờ danh xưng Ký Giả Hạng Bét
Thư từ Miền Ðông ngày ngày viết miết
Hết tập thứ nhất, đến tập thứ tư
Bão cứ thổi vùi… Trúc, tre không bứt.

21-
Mở toang cửa sổ ngóng Mặt Trời
Ðêm tối… Hởi Liên nào Tìm Thấy?!
Dọc Ðường đi dài, Không Cô Ðơn
Mặc khổ vác nứa ở Yên Báy.
Lấm sâu Cát Lầy, chịu cơn Ung Thư
Tôi gọi tên tôi
Với Thơ,
Nơi Bếp Lửa.

22-
Quyết xây Tình Thương,
mặc áo lính Dù
Cho Mây Bão nỗi, Gió Mùa mưa
Quanh Vòng Ðai Xanh, Bóng Ðêm chìm khuất
Trông giòng Sông Cửu gợi buồn xưa.

23-
Gió cứ nổi, còi ông cứ khởi
Ông viết Thơ cố Lớn Dậy Con Người
Mấy thuở căng thân nơi Phú Quốc
Cây Tùng Trước Bão chẳng lung lay.

24-
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Khi tôi sống, nầy ngực đây hãy chém
Ðời ở Phương Ðông hay đời Cali
Chạy đâu thoát…
Cũng phải quàn đường Beach.

25-
Vây quanh hằng hằng Vòng Tay Lửa
Mối đau chất ngất trang sử cũ
Ðậu bằng thấp, xong đậu cấp cao
Nẽo về Chính Ðạo Nguyên vần Vũ.

26-
Cậu ngồi tầng Cao viết bài thơ
Mân mê kỷ Tờ Chứng Chỉ
Phá Núi không xong xoay đẻo guốc
Nửa đời sau còn dăm Giọt Mực.

27-
Chàng mang dáng vóc con kỳ lân
Lập Ðộng Hoa Vàng bên Gia Ðịnh
Chẳng hiểu cớ sao lên non, từ quan
Hóa ra cố cầm tay cô Ngọ.

28-
Bão Thời Ðại thổi qua
Ngã xạm mầu râu tóc
Bão Rớt tới Thành Phố
Lạnh thấm tận chiếu chăn
Hút một hơi ống vố
Tuổi đã quá Ba mươi
Ðời nhạt thách không vợ
Tác phẩm bày bán son

29-
Vác Ngà Voi cho lắm
Nuôi nào nỗi thằng Loan
Qua được Tám Cửa Ngục
Tiếp ngặt giòng Kinh Ðen
Bầy Ruồi Xanh khuấy nhặng
Gác chật, lụn tim đèn

30-
Bây giờ, là Ðoạn Trường
Chìm hoàng hôn phía trước,
Giữa Cồn Lá Hoa xưa
Nghe Mưa Nguồn chớp bể
Hỏi… Quê nào, họ, tên?
Thân rạn rày nẽo chợ
Nhìn quanh ruộng dâu xanh
Ðập tan tròng kính vỡ
Trừng trừng dõi nơi mô.

31-
Nỗ tiếng rền lựu đạn
Ở Lại với mối Sầu
Ký thác cõi thiên đường
Chúa, Phật, cao không thấy!!

32-
Bác xuôi đò ngang Ðêm Trừ Tịch
Hớp ngụm cà-phê ngỡ mùi máu dính
Mài mực, phóng bút… tràn hơi sương Thu
Hãy trôi đi… trôi như bình Sinh…

33-
Khôn đến thế là cùng
Ðỗ xong mới đặt Yến
Mai Phương nào… nơi đâu?
Hãy báo về Người Việt.

34-
Anh dạo Cung Trầm…
Tưởng vớ bở
Thơ viết Hai Tay mãi chưa đủ
Ði gì qua Tây, đến xứ Paris
Ở đấy,
Tình Ca bằng tiền một ly rượu đỏ.

35-
Bạn leo Cây Bông đọc Lời Thơ
Vươn Vải những chữ nghĩa đau đớn
Thãm bạc Sa Giang rầu tận Hồng Lĩnh
Tuấn Kiệt Trần thế loạn võ trường.

36-
Bạn tôi viết thơ không ai hay
Bạn tôi dạy học không kẻ biết
Tuấn, Ngọc… hiếm hoi sao buổi sáng
Bùi ngùi ngồi quanh quất quạnh hiu

37-
Hà trường… Hà trường nào Hà Tường?
Cát bão dậy mờ lung ngờm ngợp
Cùm tay không sợ, cùm thêm chân
Ghê thay Kẽ Sĩ thậm dũng lược!!

38-
Nơi Sông Mã, ông xưng Ngô Vương
Ðã Toại lòng chưa…
Hóa ra lãnh búa!
Chúng đập đầu ông
Chúng bắn bụng ông
Thoát chết
Diễn Ðàn ông nói tợn.

39-
Trần trùng trục lội ngang sông Lam
Giang hồ Quán Chùa, "Bảy-lăm" lâm nạn
Vất xe Honda, bỏ trường Trí Ðức
Qua Mỹ, khóc vùi như nhà chịu tang

40-
Cô bay lên theo Ngàn Cánh Hạc
Vượt Sóng Trùng Dương tìm chỗ Sống
Mưa đi… mưa đi… mưa mãi không vừa
Ðất xứ lạ vẫn Chưa giọt Thấm.

41-
Cậu Hai khai sinh lão Ðốc Nô
Già Móng, Gã Thâm gọi bằng bố
Anh em cùng vợ Công Tử Hà Ðông
Chuyên hút Lucky hai hàng số
Ðôi bận căng thân nơi thành Hồ
Còn trái Tạc Ðạn cứ cho Nỗ!!

Ừ thôi,
Vũ Nữ về Bến Cỏ
Sài Gòn mất bặt dáng Kiều Giang…

42-
Thầy tuốt gươm chém gẫy chân cầu
Thần Tháp Rùa tứa máu bật gào đau
Vạch ngực, nghiến răng, ghìm nắm đấm
Thành Cát Tư Ðại Hãn giờ tìm đâu?!

43-
Ông "ÚT" Uyên bác , thông Thao lược
Cỡi ngọn Sóng Thần dâng lớp lớp
Vận nghiệp tù…
Hỡ ông, sao không rõ?!

44-
Tạm kết với bản thân
Tôi ngồi đây vây dầy bóng đêm
Lưng Dựa lạnh ngắt với Nỗi Chết
Nghe ngoài kia Mùa Hè đã hết
Lửa đời lịm tắt cõi Trần Gian
Nào trời phương Nam
Nào người phương Nam…

Trang bìa
Ðầu trang