Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Việt kiều yêu


Huy sụt sùi, tấm tức,

- Số tao khốn nạn quá.

- Thôi nín đi mày, cán bộ mà lại khóc lóc kể lể mãi, Danh vừa nói vừa cười.

- Tại mày không ở hoàn cảnh của tao nên mày không hiểu, Huy vẫn sụt sùi.

- Gớm sao khi mày lý thuyết cách mạng nghe có vẻ anh hùng lắm mà sao bây giờ nhè như mít ướt vậy, Danh vừa cười vừa chọc thêm.

- Thằng Danh mày câm cái mồm mày lại, Khuy hơi giận vì thái độ của Danh, người ta đang đau khổ mà lại còn chọc phá thêm.

Huy đã bỏ ra rất nhiều tiền bạc và thời giờ làm đám cưới linh đình ở Hà Nội. Ðám cưới xong, Huy trở lại Canada để làm việc và làm giấy tờ cho vợ sang sau. Sau bao ngày tháng mòn mỏi đợi chờ, chuyến máy bay chở Nga (vợ mới cưới của Huy) vừa tới Pháp thì cô ta trốn ở lại xin tỵ nạn ở đó, Huy không hiểu sao đời lại quá phũ phàng, chỉ còn biết sụt sùi khóc lóc.

Huy, Danh, Khuy là những sinh viên từ miền nam Việt Nam sang du học tại Canada khoảng thập niên 1960, sau khi học xong, ở lại làm việc ở Canada, lập gia đình với dân bản xứ. Bọn Danh thường hay tụ tập ở nhà Vân để nấu nướng ăn các món ăn Việt Nam, để có dịp nói tiếng Việt với nhau, nói về kỷ niệm ở Việt nam v.v...

Sau mười mấy năm sống với người vợ đầm, Huy đã có được hai đứa con lai, không biết chút gì về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Có lần hai đứa con Huy đi cắm trại hè vài tuần, Huy vẫn đi làm, cô vợ đầm ở nhà một mình thấy buồn nên rủ ông hàng xóm độc thân sang tâm sự. Một hôm Huy để quên chìa khóa văn phòng ở nhà nên phải quay về nhà lấy; Huy tự mở cửa vào nhà mà không bấm chuông để gây sự ngạc nhiên cho vợ, nhưng người bị ngạc nhiên nhất lại là Huy, toàn thân cứng đơ như Từ Hải chết đứng, khi thấy cô vợ đầm đang làm tình với ông hàng xóm trong phòng ngủ của Huy! Và dĩ nhiên chuyện sau đó phải là:

Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi

Huy trở lại Hà Nội tìm người "nâng khăn sửa túi". Hồi đó ở Hà Nội, người dân cực kỳ thiếu thốn, nên một chuyên viên ở Canada được coi như người giầu nhất nước, được mọi người nể vì. Sự nể vì đó làm cho Huy quên đi rằng mình là một người vừa lùn vừa xấu trai, quên đi rằng tiền bạc không bao giờ mua được hạnh phúc, quên đi rằng chỉ có tâm hồn mới là giá trị thực của con người v.v... Lợi tức bình quân của người dân Việt Nam thời đó chỉ được vài đô la một tháng mà Huy bỏ ra hàng ngàn đô la để quà cáp cho gia đình Nga nên bố mẹ Nga quý hóa Huy lắm, nhất định ép Nga phải lấy Huy. Hoàn cảnh gia đình của Nga cũng là hoàn cảnh chung của nhân dân Việt Nam thời đó, với nền kinh tế "ngăn sông cấm chợ", cuộc sống của mọi gia đình đều phải lệ thuộc vào sự phân phối nhu yếu phẩm của nhà nước, đồng lương chưa đủ để mua quà ăn sáng. Cha mẹ Nga đã lỡ nhận quà của Huy nên Nga không thể nào từ chối được nữa. Nhưng nhìn thái độ kiêu ngạo của Huy, Nga tự nhủ không thể nào sống chung với Huy được, dù chỉ một ngày. Hôm đám cưới, Nga đã khóc sưng cả mắt cho thân phận mình.

Cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, một số thanh niên ở miền nam Việt Nam được sang Canada du học theo các chương trình viện trợ quốc tế, trong đó có bọn Danh. Chính quyền miền nam Việt Nam tuyển dụng những sinh viên mới nhập học đại học để gởi đi nước ngoài đào tạo chuyên viên để trở về phục vụ đất nước sau khi tốt nghiệp. Trên nguyên tắc thì phải là những sinh viên giỏi, nhưng trên thực tế thì một số lớn lại là những người con ông cháu cha, hoặc được cha mẹ chạy chọt ở hội đồng du học: khi có học bổng thì họ giấu nhẹm đi chỉ phổ biến hạn chế cho thân bằng quyến hữu. Những sinh viên khác khi biết đến thì đã hết hạn nộp đơn. Ngoài những người có học bổng, một số gia đình ở miền nam còn cố gắng tiết kiệm để gởi con đi bằng phương tiện tự túc, để vừa trốn lính, vừa có tương lai khi trở về sẽ làm "quan" cai trị nhân dân!

Chính quyền miền nam Việt Nam thời đó đã giúp đỡ thành phần du học bằng cách cho đổi ngoại tệ với giá đặc biệt. Ngân sách nhà nước để bù trừ vào việc chuyển đổi ngoại tệ này tương đương với ngân sách của cả bộ giáo dục ở miền nam, nghĩa là tiền học của vài ngàn sinh viên du học bằng tiền học của hàng triệu thanh niên ở miền nam! Sau khi học xong, đa số sinh viên du học ở lại nước ngoài vì trong nước có chiến tranh nên không dám về làm "quan!". Còn thanh niên ở trong nước, sau khi học xong hoặc sau khi bỏ học, thì phải tham gia cuộc chiến ý thức hệ của thế giới tư bản và thế giới cộng sản, dù muốn dù không! Nếu phe tư bản thắng thì các "ngài" du học sẽ về làm quan, nếu phe cộng sản thắng thì thanh niên trong nước sẽ thành "ngụy quân, ngụy quyền" đi tù cải tạo không biết ngày về!!! Nhưng đó chỉ là số phận của những thanh niên tương đối may mắn, nếu so sánh với những người chết trong bom đạn chiến trường, với những người thương phế binh kéo lê kiếp sống nhọc nhằn dưới sự kỳ thị tàn bạo của giai cấp thống trị mới, với những "người chết hai lần thịt da nát tan"!!!

Oái oăm hơn nữa là chính quyền miền nam càng giúp đỡ những sinh viên du học thì một số khá đông lại chống đối chính quyền miền nam, phản đối việc Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Những người ở miền nam thường không hiểu tâm lý của các sinh viên du học nên thường coi bọn Danh là những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản". Thực ra chính quyền miền nam dành đặc quyền đặc lợi cho các sinh viên du học là bởi vì đa số những người có thế lực trong chính quyền đều có con em đi du học, hy vọng con em mình sau khi học xong trở về làm "quan", cai trị nhân dân! Trong khi đó, chính quyền miền bắc, nắm vững được tâm lý của những sinh viên du học xa gia đình, xa quê hương nên đã phân công cho cán bộ phụ trách trí vận, tổ chức các trại hè, tổ chức các cuộc họp mặt của những người đồng hương, tạo tình cảm đoàn kết của những sinh viên du học nơi đất khách quê người, lập hội liên hiệp các người Việt ở bắc Mỹ (khoảng năm 1970). Sau khi đánh thức được tình cảm quê hương trong lòng các sinh viên du học, cán bộ trí vận tạo điều kiện để hướng dẫn quan điểm của thành phần du học về cuộc chiến ở Việt Nam, biến cuộc chiến ý thức hệ thế giới thành cuộc chiến "chống Mỹ cứu nước" của một dân tộc nhược tiểu, nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc. Với trình độ lý luận duy vật biện chứng pháp cao, với sự phân tích tâm lý từng người, với sự đi sâu đi sát, với tình cảm quê hương nơi đất khách quê người, các cán bộ trí vận miền bắc đã thành công trong việc vận động thành phần được ưu đãi của miền nam tham gia phong trào phản chiến ở Mỹ, chống chiến tranh Việt Nam, đòi hỏi Mỹ rút khỏi Việt Nam vô điều kiện.

Sự thành công của các cán bộ trí vận của miền bắc là do nắm vững tâm lý của thành phần du học ở miền nam. Vì mặc cảm chạy trốn trách nhiệm, không chịu trở về phục vụ quê hương, vì mặc cảm trốn nghĩa vụ quân sự, vì mặc cảm xuất thân từ một nước nhược tiểu v.v..., trước khi hội liên hiệp được cán bộ trí vận thành lập, những người đi du học sống trong cô đơn; trốn tránh tòa đại sứ của chính quyền miền nam vì sợ bị bắt về Việt Nam tham gia chiến tranh. Khi được tham dự các trại hè, được gặp gỡ những người đồng hương, lại được cán bộ trí vận ca ngợi là những Việt Kiều yêu nước nên đa số hết sức phấn khởi. Sự gia nhập hội liên hiệp để vận động đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam vô điều kiện làm cho họ xóa bỏ được những mặc cảm tự cho mình là hèn nhát, trốn tránh trách nhiệm đối với quê hương. Hơn thế nữa họ còn mang được trong tâm hồn một ảo tưởng rằng mình là kẻ yêu nước, sẽ trở về xây dựng lại quê hương khi đã sạch bóng quân thù!!!

Cũng có những kẻ như Khuy, chẳng nghĩ gì đến trách nhiệm đối với quê hương, nhưng lại có mặc cảm đối với những người vượt biên, vì sống lâu ngày xa quê hương không hiểu được tâm tư tình cảm của người trong nước. Khuy tưởng rằng mọi người vượt biên là những kẻ bần cùng, liều mạng vượt biên chẳng qua vì muốn một cuộc sống vật chất như Khuy. Phương, anh ruột của Khuy cũng đã đến được châu Mỹ sau những ngày vượt biên gian khổ. Nhưng vì mặc cảm bệnh hoạn đó nên khi có ai hỏi đến Phương là mặt Khuy lại đỏ bừng, trả lời khe khẽ:

- Nó không phải dân du học, nó vượt biên sang đây!

Gọi anh ruột mình bằng "nó" thì còn gì là văn hóa Việt Nam!

Là những hội viên của hội liên hiệp, Danh và Cécile (vợ Danh) hoạt động tích cực cho phong trào phản chiến của Mỹ. Gia đình Danh, sau khi chạy chọt cho Danh đi du học, lại chủ trương "bắt cá hai tay", giấu giếm cán bộ nằm vùng để lật đổ chính quyền miền nam. Cha Danh lại là người có thế lực ở chính quyền miền nam nên việc che giấu càng có kết quả lớn. Gió chiều nào thì cha Danh theo chiều đó, phe nào chiến thắng thì cha Danh cũng là người có công trạng!

Nhưng cha Danh đã lầm to, việc gởi Danh đi du học chỉ là một sự mất mát, tốn kém vô ích. Ngày mẹ Danh chết, Danh cũng chẳng về Việt Nam tiễn đưa mẹ về bên kia thế giới! Sau tháng tư năm 1975, bao nhiêu công trạng che giấu cán bộ, cha Danh vẫn bị coi là ngụy, phần thưởng của bao nhiêu năm đóng góp chỉ là không bị bắt đi tù! Cuộc sống gia đình cha Danh vô cùng khó khăn, mấy đứa em gái Danh, người thì vượt biên đi tìm tự do, kẻ treo cổ tự tử chết. Cha Danh vô cùng ân hận chuyện mình đã làm nên chỉ còn biết tìm quên trong tiếng kinh sám hối.

Sau tháng tư năm 1975, một số người trong hội liên hiệp vẫn lầm lẫn hoặc vô tình lầm lẫn (vì sự thay thế mặc cảm trốn trách nhiệm bằng ảo tưởng yêu nước) giữa chiến tranh ý thức hệ và cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc nên đã trở về nước với thiện tâm là đóng góp xây dựng lại quê hương. Nhưng vài năm sau thì họ mới thấy là toàn thể xã hội đang tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc về thời kỳ đồ đá, thấy sự trở về của họ là một lầm lẫn lớn lao, nên đã tìm đường vượt biên.

Nhưng bọn Danh, Huy thì quỷ quái hơn, chỉ xin về thăm Việt Nam để hưởng thụ, để xung xinh áo gấm về làng! Hồi cuối thập niên 1970, cả nước thiếu thốn ăn độn, Danh và Huy về Hà Nội được đón tiếp như những nhà trí thức yêu nước. Sau khi đi họp với các trí thức xã hội chủ nghĩa, trở về khách sạn ở thì Huy phát giác là phòng ngủ bị công an lục xét, cả gói "áo mưa" Huy chuẩn bị sẵn để hành lạc ở Việt Nam đều bị công an cắt rách rồi cất lại trong vali!

Từ đó Danh không dám nghĩ đến chuyện dâm đãng khi ở Việt Nam. Năm sau, Danh rủ Bình đi Thái Lan chơi vì nghe Vân kể thì ở Thái Lan ăn chơi thỏa thích cũng chẳng tốn bao nhiêu. Bình lúc thường cũng hay ghen ghét với Danh nên nhân dịp đi Thái Lan, Bình lấy máy chụp hình của Danh chụp lén Danh trong khi Danh đang say sưa làm tình với một cô gái Thái. Khi trở lại Canada, Danh cũng chẳng hay biết gì chuyện đó nên đưa mấy cuộn phim cho Cécile đi rửa.

Vừa đi làm về, Danh không hiểu sao mặt Cécile hầm hầm, hỏi ra thì mới thấy tấm hình làm tình với cô gái Thái ! Vài năm sau thì Danh và Cécile lại ca bản

Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi

Trong đám Danh thì Huy tự xưng là mác xít, ca tụng Stalin giống như Tố Hữu. Khi làn sóng người Việt Nam vượt biên đến tỵ nạn ở Canada khá đông, Huy đã từng tuyên bố:

- Ðứa nào chửi Stalin gặp tao, tao sẽ đấm vỡ mặt!

Huy vừa lùn, vừa xấu, vừa bé nhỏ mà đòi đánh đấm nên mọi người chỉ coi Huy như một thằng khùng! Cộng đồng Việt Nam gọi Huy là thằng Huy Việt cộng để phân biệt với những người khác cũng tên Huy. Khôi, em trai Huy lớn lên ở Sàigòn. Sau tháng tư năm 1975, Khôi đã có dịp thưởng thức tài ba "kinh bang tế thế" của các "đỉnh cao trí tuệ" đưa cả nước tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc về thời kỳ đồ đá. Sau nhiều lần vượt biên thất bại, Khôi được Huy bảo lãnh sang Canada. Mặc dù là em ruột của Huy, nhưng Khôi không thể chấp nhận lập trường ích kỷ, phản bội quê hương, dân tộc của Huy nên gặp ai trong cộng đồng, Khôi cũng nói:

- Anh chớ chơi với thằng cha Huy, hắn là Việt cộng đó.

Vì vậy Huy không bao giờ dám tham dự các tổ chức ngày tết của cộng đồng. Còn Danh thì ham mê chơi bời, cờ bạc nên ai tổ chức thì cũng tham gia cả; ở hội Liên Hiệp thì Danh kể công đã tham gia biểu tình chống Mỹ can thiệp vào Việt Nam, ở các lễ lạt của cộng đồng thì Danh nói về chuyện vượt biên của cô em gái.

Vân cũng là thành phần tích cực của hội Liên Hiệp. Vân tự cho mình là con người có lý tưởng nhưng trên thực tế thì Vân lầm lẫn quyền lợi cá nhân với lý tưởng. Vì là thành phần tích cực, Vân được ở trong tổ chức độc quyền gửi quà và tiền về Việt Nam vào khoảng những năm 1980. Vừa được lợi vật chất vừa được mang ảo ảnh có lý tưởng nên Vân đóng vai quá khích, xa lánh tất cả các tổ chức ngày tết của cộng đồng người Việt địa phương.

Tưởng rằng sự tham gia biểu tình đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam, tưởng rằng sự ủng hộ mù quáng Stalin là có công với cách mạng, Huy hy vọng sẽ được chính quyền ở Việt Nam trọng dụng; nhưng mọi cố gắng của Huy chẳng đem lại lợi ích gì cho bản thân. Ðến khoảng đầu thập niên 1990, thấy phong trào cộng sản quốc tế sụp đổ, Huy định thừa cơ kiếm tý danh vọng, tham gia phong trào đòi hỏi chế độ đa nguyên. Nhưng vừa bước chân xuống phi trường ở Hà Nội thì Huy đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam ngay. Phản ứng của nhà cầm quyền giúp Huy thức tỉnh, giúp Huy hiểu được một phần thực chất của cuộc chiến tranh ý thức hệ thế giới, giúp Huy hiểu được thế nào là địch vận, thế nào là trí vận. Huy hối hận những việc đã làm trước kia thì than ôi đã quá muộn!

Trước kia Huy nghĩ là chính quyền miền nam Việt Nam chẳng qua chỉ là những tay sai của thực dân Pháp. Cuộc chiến tranh của toàn dân Việt Nam chống thực dân Pháp cũng làm nhiều người hiểu lầm như Huy. Bị hoa mắt bởi sự chiến thắng của phe cộng sản ở nhiều nơi trên thế giới, bị sức thu hút của triết lý duy vật biện chứng, những người như Huy không phân biệt nổi đâu là chiến tranh giải phóng dân tộc, đâu là sự áp đặt của chủ nghĩa cộng sản trên các nước còn nghèo nàn lạc hậu. Họ không biết rằng sự áp đặt đó đi ngược lại ngay cả chủ nghĩa Mác, nền tảng của chủ nghĩa cộng sản.

Vì hoàn cảnh lịch sử, không những một số tay sai của thực dân Pháp mà còn có một số lớn những người bắt cá hai tay như cha Danh lại là những người có thế lực trong chính quyền miền Nam Việt Nam. Họ đã lợi dụng thế lực đó để đưa con cái ra nước ngoài trốn nghĩa vụ quân sự, để làm giầu trên xương máu nhân dân miền nam. Người Mỹ muốn chặn đứng làn sóng cộng sản thế giới nên đã nhẩy vào giúp đỡ nhân dân miền nam Việt Nam. Sự can thiệp của người Mỹ đã bị phe cộng sản thế giới xuyên tạc là xâm chiếm Việt Nam để vận dụng chiêu bài giải phóng dân tộc, lừa gạt nhân dân tham gia chiến tranh ý thức hệ mà lại tưởng lầm rằng mình là người yêu nước. Nhiều người Việt Nam vì đặt tình yêu dân tộc cao hơn tình nhân loại, thấy người Mỹ không giống người Việt Nam, không nhận định rõ được tại sao người Mỹ lại tới Việt Nam, đã rơi vào vòng cạm bẫy dưới chiêu bài giải phóng dân tộc.

Toàn thể nhân dân miền nam cũng như miền bắc Việt Nam đều là nạn nhân của cuộc chiến tranh ý thức hệ, ngoại trừ một số ít con ông cháu cha của những thành phần nắm quyền hạn ở hai miền là được đứng ngoài cuộc chiến tàn bạo, giết mất khoảng ba triệu người Việt Nam vô tội. Thanh niên miền nam bị cưỡng bách đi quân dịch, thanh niên miền bắc bị cưỡng bách tham gia chiến tranh dưới chiêu bài "tình nguyện chống Mỹ cứu nước". Một số thanh niên miền nam ý thức được cuộc chiến tranh ý thức hệ thế giới đã chiến đấu kiên cường để bảo vệ tự do cho mình, cho gia đình, cho dân tộc; rất nhiều thanh niên miền bắc bị tuyên truyền xuyên tạc tưởng lầm là chiến tranh giải phóng dân tộc, đã quên mình chiến đấu, đem lại chiến thắng cho phe cộng sản.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở đông Âu giúp cho người Việt Nam thấy rõ được mặt trái của những người cộng sản. Sự thay đổi chính sách kinh tế ở Tầu và ở Việt Nam cũng đánh thức được nhiều người trót lầm đường lạc lối. Vân cũng hối hận về những hành động trước kia nhưng đã quá muộn. Vân không còn về Việt Nam hàng năm như trước kia nữa, thấy ai về Việt Nam thăm thân nhân thì Vân còn chụp mũ người đó là Việt cộng !

Vân cũng tìm đọc quyển sách "Ðêm giữa ban ngày" của Vũ Thư Hiên để hiểu rõ hơn mặt trái của những người cộng sản. Sau khi đọc xong, Vân cho Huy mượn. Vì hãy còn trung thành một cách ngoan cố với tư tưởng lạc hậu lỗi thời, Huy không chịu trả lại cuốn sách đó cho Vân sau khi đọc xong để Vân không cho người khác mượn được, phải chăng là để bảo tồn bí mật!!

Sự bảo tồn bí mật ấu trĩ đó làm cho những người tiến bộ trong cộng đồng phải ôm bụng cười, vì trong cộng đồng ai ai mà không biết những mặt trái đó từ lâu rồi.

Thực ra đối với nhân dân Việt Nam, bọn Huy, Vân chẳng qua chỉ là những kẻ lầm đường lạc lối, chứ không phải là những tội phạm gây ra chiến tranh. Với truyền thống từ bi lâu đời, nhân dân Việt Nam có thể tha thứ cả những tội phạm chiến tranh khi họ biết buông dao đồ tể, trở về với dân tộc thì đối với những người như Huy, như Vân, như Danh dĩ nhiên là nhân dân Việt Nam có thể sẵn sàng tha thứ.

Những người đồng hương không còn gọi Huy là Huy Việt cộng nữa mà là "Việt Kiều Yêu" với ẩn ý là Việt kiều yêu tinh quỷ quái, vì quyền lợi cá nhân trốn tránh trách nhiệm đối với quê hương, ở nơi đó nhân dân lao động vất vả để những người như Huy được đi du học; vì quyền lợi cá nhân tiếp tay cho phe địch trong cuộc chiến ý thức hệ của thế giới, đi ngược lại quyền lợi của quê hương và dân tộc.

Bóng thần chết đã xa xa ló dạng, niềm ao ước của Huy, Vân, Danh không còn là những hư danh chính trị mà chỉ là sự tha thứ của quê hương của dân tộc để có thể một ngày nào đó đi về bên kia thế giới trong an bình.
 

Phó Thường Dân
Tháng tư, năm 2002


Trang bìa 
Ðầu trang