Việt
kiều yêu
Huy sụt sùi, tấm tức,
- Số tao khốn nạn quá.
- Thôi nín đi mày,
cán bộ mà lại khóc lóc kể
lể mãi, Danh vừa nói vừa
cười.
- Tại mày không ở
hoàn cảnh của tao nên mày không
hiểu, Huy vẫn sụt sùi.
- Gớm sao khi mày lý
thuyết cách mạng nghe có vẻ anh hùng
lắm mà sao bây giờ nhè như
mít ướt vậy, Danh vừa cười
vừa chọc thêm.
- Thằng Danh mày câm cái
mồm mày lại, Khuy hơi giận vì
thái độ của Danh, người
ta đang đau khổ mà lại còn chọc
phá thêm.
Huy đã bỏ ra rất
nhiều tiền bạc và thời giờ
làm đám cưới linh đình
ở Hà Nội. Ðám cưới
xong, Huy trở lại Canada để làm
việc và làm giấy tờ cho vợ
sang sau. Sau bao ngày tháng mòn mỏi đợi
chờ, chuyến máy bay chở Nga
(vợ mới cưới của Huy)
vừa tới Pháp thì cô ta
trốn ở lại xin tỵ nạn ở
đó, Huy không hiểu sao đời
lại quá phũ phàng, chỉ còn
biết sụt sùi khóc lóc.
Huy, Danh, Khuy là những
sinh viên từ miền nam Việt Nam sang du
học tại Canada khoảng thập niên 1960, sau
khi học xong, ở lại làm việc ở
Canada, lập gia đình với dân bản
xứ. Bọn Danh thường hay tụ
tập ở nhà Vân để nấu
nướng ăn các món ăn Việt
Nam, để có dịp nói tiếng Việt
với nhau, nói về kỷ niệm ở
Việt nam v.v...
Sau mười mấy năm
sống với người vợ
đầm, Huy đã có được
hai đứa con lai, không biết chút
gì về ngôn ngữ và văn
hóa Việt Nam. Có lần hai đứa
con Huy đi cắm trại hè vài tuần,
Huy vẫn đi làm, cô vợ đầm
ở nhà một mình thấy buồn
nên rủ ông hàng xóm độc
thân sang tâm sự. Một hôm Huy để
quên chìa khóa văn phòng ở
nhà nên phải quay về nhà lấy;
Huy tự mở cửa vào nhà
mà không bấm chuông để gây
sự ngạc nhiên cho vợ, nhưng người
bị ngạc nhiên nhất lại là Huy,
toàn thân cứng đơ như Từ
Hải chết đứng, khi thấy cô
vợ đầm đang làm tình với
ông hàng xóm trong phòng ngủ của
Huy! Và dĩ nhiên chuyện sau đó
phải là:
Anh đi đường
anh, tôi đi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta
có thế thôi
Huy trở lại Hà Nội
tìm người "nâng khăn sửa
túi". Hồi đó ở Hà Nội,
người dân cực kỳ thiếu
thốn, nên một chuyên viên ở
Canada được coi như người
giầu nhất nước, được
mọi người nể vì. Sự nể
vì đó làm cho Huy quên đi rằng
mình là một người vừa
lùn vừa xấu trai, quên đi rằng
tiền bạc không bao giờ mua được
hạnh phúc, quên đi rằng chỉ có
tâm hồn mới là giá trị
thực của con người v.v... Lợi
tức bình quân của người
dân Việt Nam thời đó chỉ
được vài đô la một
tháng mà Huy bỏ ra hàng ngàn đô
la để quà cáp cho gia đình
Nga nên bố mẹ Nga quý hóa Huy lắm,
nhất định ép Nga phải lấy
Huy. Hoàn cảnh gia đình của Nga cũng
là hoàn cảnh chung của nhân dân
Việt Nam thời đó, với
nền kinh tế "ngăn sông cấm chợ",
cuộc sống của mọi gia đình đều
phải lệ thuộc vào sự phân
phối nhu yếu phẩm của nhà nước,
đồng lương chưa đủ để
mua quà ăn sáng. Cha mẹ Nga đã
lỡ nhận quà của Huy nên Nga không
thể nào từ chối được
nữa. Nhưng nhìn thái độ kiêu
ngạo của Huy, Nga tự nhủ không thể
nào sống chung với Huy được,
dù chỉ một ngày. Hôm đám
cưới, Nga đã khóc sưng cả
mắt cho thân phận mình.
Cuối thập niên 1950 và
đầu thập niên 1960, một số thanh
niên ở miền nam Việt Nam được
sang Canada du học theo các chương trình
viện trợ quốc tế, trong đó
có bọn Danh. Chính quyền miền nam
Việt Nam tuyển dụng những sinh viên
mới nhập học đại học để
gởi đi nước ngoài đào
tạo chuyên viên để trở về
phục vụ đất nước sau khi
tốt nghiệp. Trên nguyên tắc thì
phải là những sinh viên giỏi,
nhưng trên thực tế thì một
số lớn lại là những người
con ông cháu cha, hoặc được
cha mẹ chạy chọt ở hội đồng
du học: khi có học bổng thì họ
giấu nhẹm đi chỉ phổ biến hạn
chế cho thân bằng quyến hữu.
Những sinh viên khác khi biết đến
thì đã hết hạn nộp đơn.
Ngoài những người có học
bổng, một số gia đình ở
miền nam còn cố gắng tiết kiệm
để gởi con đi bằng phương
tiện tự túc, để vừa
trốn lính, vừa có tương
lai khi trở về sẽ làm "quan" cai trị
nhân dân!
Chính quyền miền nam Việt
Nam thời đó đã giúp
đỡ thành phần du học bằng
cách cho đổi ngoại tệ với
giá đặc biệt. Ngân sách nhà
nước để bù trừ vào
việc chuyển đổi ngoại tệ này
tương đương với ngân
sách của cả bộ giáo dục ở
miền nam, nghĩa là tiền học của
vài ngàn sinh viên du học bằng tiền
học của hàng triệu thanh niên ở
miền nam! Sau khi học xong, đa số sinh viên
du học ở lại nước ngoài
vì trong nước có chiến tranh
nên không dám về làm "quan!". Còn
thanh niên ở trong nước, sau khi
học xong hoặc sau khi bỏ học, thì phải
tham gia cuộc chiến ý thức hệ
của thế giới tư bản và
thế giới cộng sản, dù muốn
dù không! Nếu phe tư bản thắng
thì các "ngài" du học sẽ về
làm quan, nếu phe cộng sản thắng thì
thanh niên trong nước sẽ thành
"ngụy quân, ngụy quyền" đi tù
cải tạo không biết ngày về!!!
Nhưng đó chỉ là số phận
của những thanh niên tương đối
may mắn, nếu so sánh với những
người chết trong bom đạn chiến
trường, với những người
thương phế binh kéo lê kiếp sống
nhọc nhằn dưới sự kỳ
thị tàn bạo của giai cấp thống
trị mới, với những "người
chết hai lần thịt da nát tan"!!!
Oái oăm hơn nữa
là chính quyền miền nam càng giúp
đỡ những sinh viên du học
thì một số khá đông lại
chống đối chính quyền miền
nam, phản đối việc Mỹ can thiệp
vào nội bộ Việt Nam. Những người
ở miền nam thường không
hiểu tâm lý của các sinh viên
du học nên thường coi bọn Danh là
những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ
ma cộng sản". Thực ra chính quyền
miền nam dành đặc quyền đặc
lợi cho các sinh viên du học là
bởi vì đa số những người
có thế lực trong chính quyền
đều có con em đi du học, hy vọng
con em mình sau khi học xong trở về làm
"quan", cai trị nhân dân! Trong khi đó,
chính quyền miền bắc, nắm vững
được tâm lý của những
sinh viên du học xa gia đình, xa quê
hương nên đã phân công cho
cán bộ phụ trách trí vận, tổ
chức các trại hè, tổ chức
các cuộc họp mặt của những
người đồng hương, tạo
tình cảm đoàn kết của những
sinh viên du học nơi đất khách
quê người, lập hội liên hiệp
các người Việt ở bắc
Mỹ (khoảng năm 1970). Sau khi đánh
thức được tình cảm quê
hương trong lòng các sinh viên du học,
cán bộ trí vận tạo điều
kiện để hướng dẫn quan điểm
của thành phần du học về cuộc
chiến ở Việt Nam, biến cuộc chiến
ý thức hệ thế giới thành
cuộc chiến "chống Mỹ cứu nước"
của một dân tộc nhược tiểu,
nạn nhân của chủ nghĩa đế
quốc. Với trình độ lý
luận duy vật biện chứng pháp cao,
với sự phân tích tâm lý
từng người, với sự
đi sâu đi sát, với tình
cảm quê hương nơi đất khách
quê người, các cán bộ trí
vận miền bắc đã thành công
trong việc vận động thành phần
được ưu đãi của miền
nam tham gia phong trào phản chiến ở
Mỹ, chống chiến tranh Việt Nam, đòi
hỏi Mỹ rút khỏi Việt Nam vô
điều kiện.
Sự thành công của
các cán bộ trí vận của miền
bắc là do nắm vững tâm lý
của thành phần du học ở miền
nam. Vì mặc cảm chạy trốn trách
nhiệm, không chịu trở về phục
vụ quê hương, vì mặc cảm trốn
nghĩa vụ quân sự, vì mặc cảm
xuất thân từ một nước
nhược tiểu v.v..., trước khi
hội liên hiệp được cán
bộ trí vận thành lập, những
người đi du học sống trong cô
đơn; trốn tránh tòa đại
sứ của chính quyền miền nam
vì sợ bị bắt về Việt Nam
tham gia chiến tranh. Khi được tham dự
các trại hè, được gặp
gỡ những người đồng
hương, lại được cán bộ
trí vận ca ngợi là những
Việt Kiều yêu nước nên đa
số hết sức phấn khởi.
Sự gia nhập hội liên hiệp để
vận động đòi Mỹ rút khỏi
Việt Nam vô điều kiện làm cho
họ xóa bỏ được những
mặc cảm tự cho mình là hèn
nhát, trốn tránh trách nhiệm đối
với quê hương. Hơn thế nữa
họ còn mang được trong tâm
hồn một ảo tưởng rằng mình
là kẻ yêu nước, sẽ trở
về xây dựng lại quê hương
khi đã sạch bóng quân thù!!!
Cũng có những kẻ
như Khuy, chẳng nghĩ gì đến trách
nhiệm đối với quê hương,
nhưng lại có mặc cảm đối
với những người vượt
biên, vì sống lâu ngày xa quê
hương không hiểu được
tâm tư tình cảm của người
trong nước. Khuy tưởng rằng
mọi người vượt biên là
những kẻ bần cùng, liều mạng
vượt biên chẳng qua vì muốn
một cuộc sống vật chất như Khuy.
Phương, anh ruột của Khuy cũng đã
đến được châu Mỹ
sau những ngày vượt biên gian
khổ. Nhưng vì mặc cảm bệnh hoạn
đó nên khi có ai hỏi đến
Phương là mặt Khuy lại đỏ
bừng, trả lời khe khẽ:
- Nó không phải dân
du học, nó vượt biên sang đây!
Gọi anh ruột mình bằng
"nó" thì còn gì là văn hóa
Việt Nam!
Là những hội viên
của hội liên hiệp, Danh và Cécile
(vợ Danh) hoạt động tích cực
cho phong trào phản chiến của Mỹ.
Gia đình Danh, sau khi chạy chọt cho Danh đi
du học, lại chủ trương "bắt cá
hai tay", giấu giếm cán bộ nằm vùng
để lật đổ chính quyền
miền nam. Cha Danh lại là người
có thế lực ở chính quyền
miền nam nên việc che giấu càng có
kết quả lớn. Gió chiều nào
thì cha Danh theo chiều đó, phe nào
chiến thắng thì cha Danh cũng là
người có công trạng!
Nhưng cha Danh đã lầm
to, việc gởi Danh đi du học chỉ là
một sự mất mát, tốn kém
vô ích. Ngày mẹ Danh chết, Danh cũng
chẳng về Việt Nam tiễn đưa mẹ
về bên kia thế giới! Sau tháng
tư năm 1975, bao nhiêu công trạng che giấu
cán bộ, cha Danh vẫn bị coi là ngụy,
phần thưởng của bao nhiêu năm
đóng góp chỉ là không bị
bắt đi tù! Cuộc sống gia đình
cha Danh vô cùng khó khăn, mấy đứa
em gái Danh, người thì vượt
biên đi tìm tự do, kẻ treo cổ
tự tử chết. Cha Danh vô cùng
ân hận chuyện mình đã làm
nên chỉ còn biết tìm quên trong
tiếng kinh sám hối.
Sau tháng tư năm 1975, một
số người trong hội liên hiệp
vẫn lầm lẫn hoặc vô tình lầm
lẫn (vì sự thay thế mặc cảm
trốn trách nhiệm bằng ảo tưởng
yêu nước) giữa chiến tranh
ý thức hệ và cuộc kháng
chiến giải phóng dân tộc nên
đã trở về nước với
thiện tâm là đóng góp xây
dựng lại quê hương. Nhưng vài
năm sau thì họ mới thấy là
toàn thể xã hội đang tiến nhanh
tiến mạnh tiến vững chắc về
thời kỳ đồ đá, thấy
sự trở về của họ là
một lầm lẫn lớn lao, nên đã
tìm đường vượt biên.
Nhưng bọn Danh, Huy thì quỷ
quái hơn, chỉ xin về thăm Việt
Nam để hưởng thụ, để
xung xinh áo gấm về làng! Hồi cuối
thập niên 1970, cả nước thiếu
thốn ăn độn, Danh và Huy về
Hà Nội được đón tiếp
như những nhà trí thức yêu
nước. Sau khi đi họp với
các trí thức xã hội chủ
nghĩa, trở về khách sạn ở
thì Huy phát giác là phòng ngủ
bị công an lục xét, cả gói "áo
mưa" Huy chuẩn bị sẵn để hành
lạc ở Việt Nam đều bị công
an cắt rách rồi cất lại trong vali!
Từ đó Danh không
dám nghĩ đến chuyện dâm đãng
khi ở Việt Nam. Năm sau, Danh rủ Bình
đi
Thái Lan chơi vì nghe Vân kể thì
ở Thái Lan ăn chơi thỏa thích
cũng chẳng tốn bao nhiêu. Bình lúc
thường cũng hay ghen ghét với
Danh nên nhân dịp đi Thái Lan, Bình
lấy máy chụp hình của Danh chụp
lén Danh trong khi Danh đang say sưa làm tình
với một cô gái Thái. Khi trở
lại Canada, Danh cũng chẳng hay biết gì
chuyện đó nên đưa mấy cuộn
phim cho Cécile đi rửa.
Vừa đi làm về,
Danh không hiểu sao mặt Cécile hầm
hầm, hỏi ra thì mới thấy tấm
hình làm tình với cô gái
Thái ! Vài năm sau thì Danh và Cécile
lại ca bản
Anh đi đường
anh, tôi đi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta
có thế thôi
Trong đám Danh thì Huy
tự xưng là mác xít, ca tụng
Stalin giống như Tố Hữu. Khi làn
sóng người Việt Nam vượt
biên đến tỵ nạn ở Canada
khá đông, Huy đã từng
tuyên bố:
- Ðứa nào chửi
Stalin gặp tao, tao sẽ đấm vỡ
mặt!
Huy vừa lùn, vừa
xấu, vừa bé nhỏ mà đòi
đánh đấm nên mọi người
chỉ coi Huy như một thằng khùng! Cộng
đồng Việt Nam gọi Huy là thằng
Huy Việt cộng để phân biệt với
những người khác cũng tên
Huy. Khôi, em trai Huy lớn lên ở
Sàigòn. Sau tháng tư năm 1975, Khôi
đã có dịp thưởng thức
tài ba "kinh bang tế thế" của các
"đỉnh cao trí tuệ" đưa cả
nước tiến nhanh tiến mạnh tiến
vững chắc về thời kỳ
đồ đá. Sau nhiều lần vượt
biên thất bại, Khôi được
Huy bảo lãnh sang Canada. Mặc dù là
em ruột của Huy, nhưng Khôi không thể
chấp nhận lập trường ích
kỷ, phản bội quê hương, dân
tộc của Huy nên gặp ai trong cộng đồng,
Khôi cũng nói:
- Anh chớ chơi với
thằng cha Huy, hắn là Việt cộng đó.
Vì vậy Huy không bao giờ
dám tham dự các tổ chức
ngày tết của cộng đồng. Còn
Danh thì ham mê chơi bời, cờ
bạc nên ai tổ chức thì cũng
tham gia cả; ở hội Liên Hiệp thì
Danh kể công đã tham gia biểu tình
chống Mỹ can thiệp vào Việt Nam, ở
các lễ lạt của cộng đồng
thì Danh nói về chuyện vượt
biên của cô em gái.
Vân cũng là thành
phần tích cực của hội Liên
Hiệp. Vân tự cho mình là con người
có lý tưởng nhưng trên thực
tế thì Vân lầm lẫn quyền
lợi cá nhân với lý tưởng.
Vì là thành phần tích cực,
Vân được ở trong tổ
chức độc quyền gửi quà
và tiền về Việt Nam vào khoảng
những năm 1980. Vừa được
lợi vật chất vừa được
mang ảo ảnh có lý tưởng
nên Vân đóng vai quá khích,
xa lánh tất cả các tổ chức
ngày tết của cộng đồng người
Việt địa phương.
Tưởng rằng sự
tham gia biểu tình đòi Mỹ rút
khỏi Việt Nam, tưởng rằng sự
ủng hộ mù quáng Stalin là có
công với cách mạng, Huy hy vọng
sẽ được chính quyền ở
Việt Nam trọng dụng; nhưng mọi cố
gắng của Huy chẳng đem lại lợi
ích gì cho bản thân. Ðến khoảng
đầu thập niên 1990, thấy phong trào
cộng sản quốc tế sụp đổ,
Huy định thừa cơ kiếm tý
danh vọng, tham gia phong trào đòi hỏi
chế độ đa nguyên. Nhưng vừa
bước chân xuống phi trường
ở Hà Nội thì Huy đã bị
trục xuất ra khỏi Việt Nam ngay. Phản
ứng của nhà cầm quyền giúp
Huy thức tỉnh, giúp Huy hiểu được
một phần thực chất của cuộc
chiến tranh ý thức hệ thế giới,
giúp Huy hiểu được thế nào
là địch vận, thế nào là
trí vận. Huy hối hận những việc
đã làm trước kia thì than
ôi đã quá muộn!
Trước kia Huy nghĩ
là chính quyền miền nam Việt Nam chẳng
qua chỉ là những tay sai của thực
dân Pháp. Cuộc chiến tranh của toàn
dân Việt Nam chống thực dân Pháp
cũng làm nhiều người hiểu
lầm như Huy. Bị hoa mắt bởi sự
chiến thắng của phe cộng sản ở
nhiều nơi trên thế giới, bị
sức thu hút của triết lý duy
vật biện chứng, những người
như Huy không phân biệt nổi đâu
là chiến tranh giải phóng dân tộc,
đâu là sự áp đặt
của chủ nghĩa cộng sản trên các
nước còn nghèo nàn lạc
hậu. Họ không biết rằng sự
áp đặt đó đi ngược
lại ngay cả chủ nghĩa Mác, nền
tảng của chủ nghĩa cộng sản.
Vì hoàn cảnh lịch
sử, không những một số tay
sai của thực dân Pháp mà còn
có một số lớn những người
bắt cá hai tay như cha Danh lại là những
người có thế lực trong chính
quyền miền Nam Việt Nam. Họ đã
lợi dụng thế lực đó
để đưa con cái ra nước
ngoài trốn nghĩa vụ quân sự,
để làm giầu trên xương
máu nhân dân miền nam. Người
Mỹ muốn chặn đứng làn
sóng cộng sản thế giới nên
đã nhẩy vào giúp đỡ
nhân dân miền nam Việt Nam. Sự can
thiệp của người Mỹ đã
bị phe cộng sản thế giới xuyên
tạc là xâm chiếm Việt Nam để
vận dụng chiêu bài giải phóng
dân tộc, lừa gạt nhân dân
tham gia chiến tranh ý thức hệ mà
lại tưởng lầm rằng mình
là người yêu nước.
Nhiều người Việt Nam vì đặt
tình yêu dân tộc cao hơn tình nhân
loại, thấy người Mỹ không
giống người Việt Nam, không nhận
định rõ được tại sao
người Mỹ lại tới Việt
Nam, đã rơi vào vòng cạm bẫy
dưới chiêu bài giải phóng
dân tộc.
Toàn thể nhân dân
miền nam cũng như miền bắc Việt
Nam đều là nạn nhân của cuộc
chiến tranh ý thức hệ, ngoại trừ
một số ít con ông cháu cha của
những thành phần nắm quyền
hạn ở hai miền là được
đứng ngoài cuộc chiến tàn
bạo, giết mất khoảng ba triệu người
Việt Nam vô tội. Thanh niên miền nam
bị cưỡng bách đi quân dịch,
thanh niên miền bắc bị cưỡng
bách tham gia chiến tranh dưới chiêu
bài "tình nguyện chống Mỹ cứu
nước". Một số thanh niên miền
nam ý thức được cuộc
chiến tranh ý thức hệ thế giới
đã chiến đấu kiên cường
để bảo vệ tự do cho mình,
cho gia đình, cho dân tộc; rất nhiều
thanh niên miền bắc bị tuyên truyền
xuyên tạc tưởng lầm là chiến
tranh giải phóng dân tộc, đã
quên mình chiến đấu, đem lại
chiến thắng cho phe cộng sản.
Sự sụp đổ của
chủ nghĩa cộng sản ở đông
Âu giúp cho người Việt Nam thấy
rõ được mặt trái của
những người cộng sản. Sự
thay đổi chính sách kinh tế ở
Tầu và ở Việt Nam cũng đánh
thức được nhiều người
trót lầm đường lạc lối.
Vân cũng hối hận về những
hành động trước kia nhưng
đã quá muộn. Vân không còn
về Việt Nam hàng năm như trước
kia nữa, thấy ai về Việt Nam thăm
thân nhân thì Vân còn chụp mũ
người đó là Việt cộng
!
Vân cũng tìm đọc
quyển sách "Ðêm giữa ban ngày"
của Vũ Thư Hiên để hiểu
rõ hơn mặt trái của những
người cộng sản. Sau khi đọc
xong, Vân cho Huy mượn. Vì hãy còn
trung thành một cách ngoan cố với
tư tưởng lạc hậu lỗi thời,
Huy không chịu trả lại cuốn sách
đó cho Vân sau khi đọc xong để
Vân không cho người khác mượn
được, phải chăng là để
bảo tồn bí mật!!
Sự bảo tồn bí
mật ấu trĩ đó làm cho những
người tiến bộ trong cộng đồng
phải ôm bụng cười, vì trong
cộng đồng ai ai mà không biết
những mặt trái đó từ
lâu rồi.
Thực ra đối với
nhân dân Việt Nam, bọn Huy, Vân chẳng
qua chỉ là những kẻ lầm đường
lạc lối, chứ không phải là
những tội phạm gây ra chiến tranh.
Với truyền thống từ bi lâu
đời, nhân dân Việt Nam có
thể tha thứ cả những tội
phạm chiến tranh khi họ biết buông dao
đồ tể, trở về với
dân tộc thì đối với những
người như Huy, như Vân, như Danh
dĩ nhiên là nhân dân Việt Nam
có thể sẵn sàng tha thứ.
Những người đồng
hương không còn gọi Huy là Huy
Việt cộng nữa mà là "Việt
Kiều Yêu" với ẩn ý là
Việt kiều yêu tinh quỷ quái, vì
quyền lợi cá nhân trốn tránh
trách nhiệm đối với quê
hương, ở nơi đó nhân
dân lao động vất vả để
những người như Huy được
đi du học; vì quyền lợi cá
nhân tiếp tay cho phe địch trong cuộc
chiến ý thức hệ của thế
giới, đi ngược lại quyền
lợi của quê hương và dân
tộc.
Bóng thần chết đã
xa xa ló dạng, niềm ao ước của
Huy, Vân, Danh không còn là những
hư danh chính trị mà chỉ là sự
tha thứ của quê hương của
dân tộc để có thể một ngày
nào đó đi về bên kia thế
giới trong an bình.
Phó Thường Dân
Tháng tư, năm 2002
|