Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT


.

Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Tự do và định mệnh

Con người thường tin vào định mệnh khi mất tự tin ở khả năng của bản thân mình hoặc khi thấy mình quá nhỏ bé đối với sự vĩ đại của thiên nhiên, đối với xã hội muôn vàn phức tạp, đối với sự vô tận của không gian và thời gian. 

Niềm tin vào định mệnh thường đem lại sự an ủi cho con người đứng trước những khó khăn vô vàn trong đời sống hàng ngày, đứng trước những dục vọng lớn lao không có cách nào thỏa mãn được v.v… 

Nhưng niềm tin vào định mệnh cũng làm cho con người dễ buông trôi theo dòng đời, dễ rơi vào tình trạng mê tín dị đoan. Ngày xưa, niềm tin vào định mệnh đã làm cho nhiều người tự từ bỏ những tự do, những tài năng mà thiên nhiên đã phú cho mình, để đến nỗi tin rằng: 

"Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định" nghĩa là từ miếng ăn, ngụm nước cũng đều do định mệnh! Ðáng thương thay! 

Tranh luận về vấn đề có định mệnh hay không thì hàng ngàn năm cũng chẳng bao giờ phe này chịu thua phe kia, và chỉ đưa tới sự lãng phí thời giờ quý báu. Nhưng nếu chúng ta nhìn định mệnh dưới một khía cạnh khác, chẳng hạn như chúng ta thử tìm hiểu những động lực nào đã thúc đẩy chúng ta hành động hoặc có thái độ khác biệt nhau. Phải chăng chính những động lực đó đã góp phần tạo ra định mệnh? và nếu chúng ta tác động vào các động lực đó để thay đổi định mệnh của bản thân mình thì cũng giống như hành động của người xưa: "đức năng thắng số" nghĩa là những hành động đạo đức của bản thân có thể giúp chúng ta thay đổi được định mệnh của mình! Ngày nay có người chủ trương dùng "trí năng" để làm chủ định mệnh của mình (Anthony Robbins - date with destiny). Chúng ta thường thấy "đức năng" có tính cách siêu hình, không có mối dây liên hệ khoa học rành mạch, và đôi khi bị thực tế phủ nhận một cách phũ phàng, chẳng hạn như khi chúng ta thấy những kẻ ăn gian nói dối, tham nhũng hối lộ thì lại được giầu sang, sung sướng hơn những người lương thiện. Ngược lại, "trí năng" có tính cách thực tiễn, khoa học và chúng ta có thể lượng giá sự đóng góp của chúng ta trong sự thay đổi định mệnh của chính mình. 

Ngày nay với sự phát triển của kiến thức loài người, người ta cho rằng mọi hành động hay thái độ của chúng ta đều bị hai động lực chi phối, đó là "tránh đau khổ" và "tìm khoái lạc" (Anthony Robbins). Những nhà đạo đức giả chắc chắn sẽ phản đối dữ dội: "làm gì có chuyện đó, tôi không bao giờ nghĩ đến khoái lạc, tôi chỉ hy sinh đời mình cho mọi người, cho dân tộc, cho tôn giáo, cho xã hội v.v…". 

Dù ý thức hay không thì hai động lực "tránh đau khổ" và "tìm khoái lạc" luôn luôn chi phối mọi thái độ, mọi hành động của con người. Hai động lực này thường bị che khuất bởi những đặc tính cá nhân về văn hoá, về phong tục, về niềm tin v.v…và chính cá nhân đó lại thường không để ý tới. Vì thường ở tiềm ẩn trong phần vô thức của mỗi cá nhân nên ảnh hưởng của hai động lực này cũng giống như định mệnh: 

Ma đưa lối, qủy đưa đường 
Cứ tìm lấy lối đoạn trường mà đi 
(Kiều) 
Thực ra đó là lối do động lực "tìm khoái lạc" hoặc "tránh đau khổ" dẫn đường: 
"Ðau" đưa lối, "khoái" đưa đường 
Cứ tìm lấy lối đoạn trường mà đi 
Chúng ta thử bàn sâu hơn về hai động lực này. 

1. Ðộng lực "tránh đau khổ"

Chữ "đau khổ" ở đây bao gồm mọi sự đau khổ về thể chất và tinh thần. Tìm cách tránh sự đau khổ là một bản năng thiên nhiên của con người. Ðau khổ thể chất bao gồm: 

- cơ thể bị tổn thương, chẳng hạn như bị đánh đập, tra tấn, bị tai nạn gẫy xương, sất da, chảy máu v.v… 

- đói không có thực phẩm để ăn 

- khát không có nước uống 

- chỗ ở chật chội 

- thiếu thốn phương tiện vệ sinh 

- lạnh nhưng không có quần aó ấm 

- nóng bức 

- việc làm nặng nhọc quá sức chịu đựng 

- không khí ô nhiễm 

- ngửi mùi hôi thối chung quanh 

- nhìn thấy những cái xấu xa 

- nghe thấy những điều chướng tai 

- ăn phải đồ ăn hư thối 

- v.v… 

Ðau khổ tinh thần bao gồm: 

- sự ghen tức với người khác 

- cảm giác thù hận 

- cảm giác giận hờn 

- cảm giác buồn bã 

- cảm giác lo âu 

- cảm giác sợ hãi 

- sự thất bại 

- thiếu tình yêu 

- ị khinh khi 

- ị xỉ nhục 

- dọa 

- niềm tin bị xúc phạm 

- va chạm phong tục, văn hoá 

- ngần ngại bị người khác từ chối 

- mặc cảm tự ti 

- mặc cảm tự tôn 

- hối hận 

- tiếc nuối 

- mất quê hương 

- mất văn hoá 

- mất tình yêu 

- mất người thân 

- mất bạn bè 

- v.v… 

Xã hội càng phát triển thì những đau khổ tinh thần càng phong phú, đa dạng. Tìm cách tránh sự đau khổ là một bản năng thiên nhiên của chúng ta. Vì vậy mọi thái độ, mọi hành động của chúng ta thường được não bộ chúng ta sàng lọc một cách ý thức hay vô thức để tránh cho bản thân ta sự đau khổ thể chất hay tinh thần. Quá lo lắng về việc tránh những đau khổ, con người có thể trở thành bi quan yếm thế. Có người tìm cách tránh sự đau khổ bằng cách xuống tóc đi tu. Hành động quá khích nhất của sự tránh đau khổ là hành động tự tử. 

Những hình thức đau khổ liệt kê ở trên đều có hai tính chất sau đây: 

- Tính chất tổng quát, nghĩa là ai ai cũng có thể cảm nhận sự đau khổ. 

- Tính chất cá biệt, nghĩa là cường độ đau khổ tùy thuộc tình trạng tâm lý, tùy thuộc văn hoá, phong tục, niềm tin v.v…của từng cá nhân. Chẳng hạn như cảnh sinh tử lão bệnh làm cho nhiều người lo âu, mất ăn mất ngủ; nhưng đối với một số ít thì đó là những quy luật tất yếu của thiên nhiên, con người không bao giờ tránh khỏi và càng cuống cuồng tìm cách thoát thì càng cảm thấy bị bao vây siết chặt hơn. 

Quan sát sự tác động của động lực "tránh đau khổ" trên mọi thái độ và hành động của chính mình, chúng ta dần dần hiểu được thái độ và hành động của người khác. Từ đó chúng ta có thể quan sát vô số người vì muốn tránh sự đau khổ mà lại lao vào bể khổ. Chẳng hạn như một người có cường độ sợ hãi sự đau khổ quá cao, luôn luôn ái ngại sự thất vọng sẽ đem lại những đau đớn về tâm lý, trở thành cực kỳ bi quan, thấy hiện tượng thiên nhiên hay xã hội nào cũng tìm được cớ để than thở, để lo âu, để sợ hãi. Người đó tưởng rằng thái độ của mình sẽ giúp cho tránh được những đau khổ vì thất vọng. Nhưng thực ra người đó đã tự gây những đau khổ vô ích cho chính bản thân mình bằng những sự bất mãn, lo âu, sợ hãi. 

2. Ðộng lực "tìm khoái lạc" 

Có nhiều người gắn liền ý niệm "khoái lạc" với sự ích kỷ, sự xấu xa, có khi vì sự đạo đức giả, có khi vì sự lầm lẫn về những trách nhiệm, bổn phận, những phong tục, tập quán v.v… Thực ra mọi thái độ và hành động của con người, nếu không phải để tránh sự đau khổ thì sẽ là để tìm kiếm sự khoái lạc. Ðó là một bản năng của con người. 

Sự "khoái lạc" bao gồm: 

- sự thỏa mãn những nhu cầu sinh lý chẳng hạn như ăn, ngủ v.v… 

- sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất, chẳng hạn như xe cộ, nhà cửa, phương tiện di chuyển v.v… 

- sự thỏa mãn những nhu cầu tâm lý, chẳng hạn như cần tình yêu, mái ấm gia đình, tình quê hương, du lịch v.v… 

- sự đam mê 

- sự sáng tạo 

- sự từ bi, bác ái 

- sự văn minh 

- sự tiến bộ 

- sự xây dựng 

- sự đóng góp 

- v.v… 

Xã hội càng phát triển thì sự "khoái lạc" càng phong phú, đa dạng. 

Những hình thức khoái lạc liệt kê ở trên đều có hai tính chất sau đây: 

- Tính chất tổng quát, nghĩa là ai ai cũng có thể cảm nhận mọi sự khoái lạc ấy. 

- Tính chất cá biệt, nghĩa là cường độ khoái lạc tùy thuộc tình trạng tâm lý, tùy thuộc văn hoá, phong tục, niềm tin v.v… của từng cá nhân. Trong những trường hợp đặc biệt, con người có thể biến sự khoái lạc thành sự đau khổ, chẳng hạn như một người ghiền thuốc lá, sau khi cai được, có thể sẽ thấy hút thuốc lá là một hình thức nô lệ vào thuốc lá, mất tự do v.v… 

Những bản tính cá nhân đó ảnh hưởng trên các loại khoái lạc, chẳng hạn như một người đã từng trải nhiều khó khăn về việc kiếm miếng ăn nên trong phần vô thức của não bộ đã đưa sự ăn là khoái lạc cao nhất, vì vậy khi nghe nói đến ăn là người đó đã thấy phấn khởi, khi làm việc gì xong được ăn là thấy hăng hái làm. Trái lại, kẻ khác, vì có tình trạng tâm lý khác, lại cho rằng sự ăn làm cho mình bị mập, đem đến nhiều chất mỡ trong máu v.v… nên cho chuyện ăn là khoái lạc thấp nhất, nghe ai tham ăn là coi người đó như một kẻ dại dột; mỗi lần ăn hơi thái quá đã cho là mình phạm lỗi lầm đối với bản thân mình! 

Quan sát sự tác động của động lực "tìm khoái lạc" trên mọi thái độ và hành động của chính mình, chúng ta dần dần hiểu được thái độ và hành động của người khác. Từ đó chúng ta có thể quan sát vô số người vì muốn tìm khoái lạc mà lại lao vào bể khổ. Chẳng hạn như một người chỉ biết đến khoái lạc trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả lâu dài về sau, đã trở thành nghiện ngập, trụy lạc, mất cả phẩm chất con người. Người đó tưởng rằng thái độ và hành động của bản thân sẽ đem lại khoái lạc, nhưng sau những giây phút kích động ngắn ngủi là những thời gian dài mệt mỏi chán chường và tuyệt vọng. Cũng có người tìm thấy sự khoái lạc trong những công việc ích quốc lợi dân, trong những hành động từ bi bác ái. Bề ngoài những công việc này có thể đem đến sự bận rộn, sự mệt mỏi về thể chất ; nhưng bề trong có thể đem lại những khoái lạc vô bờ bến vì những hành động đó thỏa mãn những nhu cầu tâm lý cấp cao của con người. Sự khoái lạc này có những tác dụng vô cùng thuận lợi cho thể chất và tinh thần của người đó. 

3. Mâu thuẫn giữa hai động lực "tránh đau khổ" và "tìm khoái lạc"

Một thí dụ cụ thể, một người thích chơi cờ bạc, suốt tuần đi làm chỉ mong cuối tuần được nghỉ để đi casino chơi; có lúc chỉ nghĩ đến thú cờ bạc là đã thấy tâm thần bấn loạn, tay chân run rẩy. Cái "khoái lạc" chơi bạc là động cơ thúc đẩy mạnh người đó, làm cho kẻ đó mất tự chủ, sẵn sàng làm mọi chuyện để thỏa mãn nhu cầu đánh bạc. Dù có nhận thức được đôi chút thế lực vũ bão của kẻ nội thù này người đó cũng đành buông tay, tự an ủi là do định mệnh! 

Nhưng sau khi bị mất mát quá nhiều, mất nhà, mất xe, mất cả gia đình v.v… người đó thức tỉnh và chừa được sự đam mê cờ bạc, mặc dầu đã quá muộn! Chừa bỏ được là nhờ sự đau đớn cũng là yếu tố chính trong định mệnh, vì mọi hành động của con người đều nhằm vào một trong hai mục đích: tìm khoái lạc hoặc tránh đau đớn. Sự tránh đau đớn đã trởû thành động cơ thúc đẩy người đó thắng được những đòi hỏi cờ bạc của bản thân. 

Như vậy cái định mệnh đưa đẩy người đó thoát được bệnh cờ bạc chẳng qua chỉ là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội tâm của người ấy giữa hai động cơ "tìm khoái lạc" và "tránh đau khổ ". 

Nói một cách khác, chúng ta có thể xếp loại các nguyên do thúc đẩy mọi hành động của con người: hoặc là do "tìm khoái lạc", hoặc là do "tránh đau khổ", hoặc là kết quả đấu tranh trong nội tâm mỗi người giữa hai động cơ động cơ đó. Dĩ nhiên "tìm khoái lạc" và "tránh đau khổ " lại tùy thuộc từng cá nhân. Người anh hùng thì có thể khoái lạc cao nhất là giúp đỡ người khác, kẻ tiểu nhân thì có thể ăn cắp của người khác là một niềm vui. Người từ bi thì xót xa khi thấy người khác đau đớn, kẻ ác thì khoái chí khi thấy người khác bị hoạn nạn. 

Quan niệm cá nhân về "tìm khoái lạc" cũng như "tránh đau khổ" và cuộc đấu tranh không ngừng trong nội tâm từng người chính là yếu tố quyết định mọi hành động. 

Nhận thức và phân tích cái nguyên nhân ẩn tàng sau mỗi hành động của con người, chúng ta có thể thấy tính chất tương đối của những nguyên nhân ấy, có thể giúp chúng ta tránh được những thái quá trong việc "tìm khoái lạc" cũng như "tránh đau khổ", có thể giúp cho chúng ta xét lại cả những nguyên nhân sâu xa hơn. Chẳng hạn như trong nền văn hoá "trọng nam khinh nữ" thì sinh con trai là một khoái lạc lớn lao, mặc dầu vấn đề ấy có khi chẳng nghĩa lý gì trong một nền văn hoá khác! nhất là nếu trong xã hội có nạn gái thiếu trai thừa thì cái khoái lạc đó có khi bị coi là một sự ngu xuẩn! 

Những khoái lạc vật chất nhiều khi có tính chất tạo ghiền, làm cho người trong cuộc càng ngày càng bị lệ thuộc và dần dần biến thành nạn nhân của những cái khoái lạc đó, chẳng hạn như những người nghiện rượu hay nghiện cờ bạc. Hành động của những người đó luôn luôn tùy thuộc vào cuộc đấu tranh trong nội tâm giữa những cảm giác khoái lạc và những cái đau khổ do "cờ bạc, rượu chè" đem lại. Hễ có đấu tranh thì bên nào mạnh hơn sẽ thắng, nhưng cuộc đấu tranh trong nội tâm thì sự phân biệt giữa hai bên tương đối khó khăn hơn, vì bên nào thì cũng chính là bản thân người trong cuộc. Vì vậy nhiều người cần sự trợ giúp của người khác để chiến thắng được chính bản thân họ. 

Ngày xưa, trong nền văn hoá của Trung Quốc và Việt Nam, tuyệt đại đa số người ta tin vào số phận. Niềm tin này có tác động tiêu cực trên hành động của con người. Vì vậy những người tích cực chủ trương "đức năng thắng số", nghĩa là hành động đạo đức của một người có thể thấu đến trời cao để cho số phận của mình được sửa lại tốt hơn. Họ thường nói rằng cần phải "tận nhân lực" rồi mới "quy thiên số", nghĩa là làm hết sức mình rồi mới chờ số trời định đoạt. 

Bác bỏ đơn thuần những nhận xét của người xưa không mang lại cho chúng ta những bài học quý báu của cha ông để lại. Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên do khoa học của hiện tượng "đức năng thắng số". 

Những người có niềm tin rằng "đức năng thắng số" thì thường hạn chế sự tìm kiếm khoái lạc trong vòng đạo đức. Vì vậy về phương diện xác suất, những người này sẽ ít bị kẻ khác thù hận hơn, có nhiều người có cảm tình hơn. Nói một cách khác, nếu người đó gặp những sự không may thì không bị kẻ thù nhấn chìm luôn và có hy vọng được người khác giúp đỡ hơn ; khi gặp may mắn thì người đó sẽ thành công lớn hơn vì không có kẻ thù phá hoại và có những người có cảm tình ủng hộ. Như vậy hành động hạn chế sự tìm kiếm khoái lạc trong vòng đạo đức có thể giúp người đó có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một thí dụ cụ thể, một người hạn chế khoái lạc xác thịt trong vòng hôn nhân lễ giáo thì dễ tìm được hạnh phúc gia đình hơn một kẻ tự cho phép khoái lạc xác thịt bừa bãi. 

Niềm tin sắt đá vào "đức năng thắng số" cũng làm tăng cường rất nhiều sức mạnh của những người có niềm tin đó, làm cho họ luôn luôn cảm thấy có chính nghĩa trong mọi hành động, luôn luôn cảm thấy có sức mạnh thần thánh giúp họ trong mọi cuộc đấu tranh v.v… Sức mạnh đó giúp cho họ xoay chiều được mọi tình thế khó khăn, hay nói một cách khác là họ đã thắng được định mệnh. 

Quan điểm "đức năng thắng số" có lẽ không còn phù hợp với thời đại văn minh hiện tại. Sự nhận thức và phân tích các động cơ "tránh đau khổ" và "tìm khoái lạc" là những phương tiện để hiểu được những nguyên nhân của "số phận" và từ đó con người có thể tự đấu tranh để thắng "số phận". Những người đã lỡ rơi vào vòng lệ thuộc chẳng hạn như ghiền rượu, ghiền thuốc phiện thường không còn khả năng đểâ nhận thức và phân tích và thường cần đến sự hỗ trợ của người khác để thắng được bản thân mình. 

4. Tự do và định mệnh. 

Chúng ta không thể phủ nhận ảnh hưởng lớn lao của các hiện tượng thiên nhiên và xã hội khách quan đối với một cá nhân, những ảnh hưởng này cũng có tính cách định mệnh, chẳng hạn như một thanh niên sinh ra trong thời chiến tranh, bị cưỡng bức ra chiến trường rồi bị chết dưới bom đạn, dù đã tìm đủ mọi cách để bảo tồn sinh mạng nhưng cũng đều thất bại. 

Mỗi người được sinh ra và lớn lên trong những hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội khác nhau. Ðó là những điều kiện khách quan. Chính những hoàn cảnh đó đã tạo ra những quan niệm của mỗi cá nhân về hai động cơ "tránh đau khổ" và "tìm khoái lạc". Chính những động cơ này quyết định mọi hành động của con người, giống như là mệnh lệnh của định mệnh. 

Trong cùng một hoàn cảnh vật chất, có người sống trong hạnh phúc, có kẻ lại thấy khổ sở chính là vì sự khác biệt quan điểm về "đau khổ" và "khoái lạc" của mỗi người. 

Nhưng ai ai cũng có thể thay đổi những quan điểm đó của bản thân mình, chẳng hạn quan niệm "ăn nhậu và đánh bạc là những thứ vui tuyệt vời" được thay bằng quan điểm " ăn nhậu và đánh bạc chẳng qua chỉ là những thú vui cấp thấp, những người trở thành ghiền chẳng qua vì sự phát triển tâm lý thiếu lành mạnh". 

Con người là sản phẩm mầu nhiệm nhất của thiên nhiên. Ai ai cũng có khả năng tự nhận biết sự hiện hữu của chính mình, ai ai cũng có thể vận dụng hoàn cảnh chung quanh để thoả mãn những nhu cầu sinh lý, vật chất và tâm lý. Nói một cách khác, ai ai cũng đã được trang bị để có tự do trong sự quyết định hành động của bản thân mình. Dĩ nhiên mức độ trang bị của mỗi người khác nhau vì sự di truyền, vì sự học tập, vì kinh nghiệm, vì văn hoá v.v… 

Ai ai cũng có thể dùng khả năng mà thiên nhiên đã ban cho để sáng tạo ra chính cuộc đời mình. Nói tóm lại trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người vẫn có thể có cái tự do chọn lựa, phó mặc cho dòng định mệnh cuốn trôi hay cưỡi trên những làn sóng của định mệnh để hưởng được cái khoái lạc tuyệt vời: sáng tạo ra chính cuộc đời mình. 

Phó Thường Dân
Tháng 11 năm 2002


 
Trang Bìa 
Ðầu trang