Tự
do và định mệnh
Con
người thường tin vào định
mệnh khi mất tự tin ở khả
năng của bản thân mình hoặc khi
thấy mình quá nhỏ bé đối
với sự vĩ đại của thiên
nhiên, đối với xã hội
muôn vàn phức tạp, đối
với sự vô tận của không
gian và thời gian.
Niềm tin vào định
mệnh thường đem lại sự
an ủi cho con người đứng
trước những khó khăn vô
vàn trong đời sống hàng ngày,
đứng trước những dục
vọng lớn lao không có cách nào
thỏa mãn được v.v…
Nhưng niềm tin vào
định mệnh cũng làm cho con người
dễ buông trôi theo dòng đời,
dễ rơi vào tình trạng mê tín
dị đoan. Ngày xưa, niềm tin vào
định mệnh đã làm cho nhiều
người tự từ bỏ những
tự do, những tài năng mà
thiên nhiên đã phú cho mình,
để đến nỗi tin rằng:
"Nhất ẩm nhất
trác giai do tiền định" nghĩa là
từ miếng ăn, ngụm nước
cũng đều do định mệnh! Ðáng
thương thay!
Tranh luận về vấn
đề có định mệnh hay không
thì hàng ngàn năm cũng chẳng
bao giờ phe này chịu thua phe kia, và
chỉ đưa tới sự lãng
phí thời giờ quý báu.
Nhưng nếu chúng ta nhìn định
mệnh dưới một khía cạnh khác,
chẳng hạn như chúng ta thử tìm
hiểu những động lực nào
đã thúc đẩy chúng ta hành
động hoặc có thái độ khác
biệt nhau. Phải chăng chính những
động lực đó đã góp
phần tạo ra định mệnh? và nếu
chúng ta tác động vào các
động lực đó để thay
đổi định mệnh của bản thân
mình thì cũng giống như hành
động của người xưa: "đức
năng thắng số" nghĩa là những
hành động đạo đức
của bản thân có thể giúp chúng
ta thay đổi được định
mệnh của mình! Ngày nay có người
chủ trương dùng "trí năng" để
làm chủ định mệnh của mình
(Anthony Robbins - date with destiny). Chúng ta thường
thấy "đức năng" có tính
cách siêu hình, không có mối
dây liên hệ khoa học rành mạch,
và đôi khi bị thực tế phủ
nhận một cách phũ phàng, chẳng
hạn như khi chúng ta thấy những
kẻ ăn gian nói dối, tham nhũng hối
lộ thì lại được giầu
sang, sung sướng hơn những người
lương thiện. Ngược lại, "trí
năng" có tính cách thực tiễn,
khoa học và chúng ta có thể lượng
giá sự đóng góp của chúng
ta trong sự thay đổi định mệnh
của chính mình.
Ngày nay với
sự phát triển của kiến thức
loài người, người ta cho
rằng mọi hành động hay thái
độ của chúng ta đều bị
hai động lực chi phối, đó
là "tránh đau khổ" và "tìm
khoái lạc" (Anthony Robbins). Những nhà
đạo đức giả chắc chắn
sẽ phản đối dữ dội: "làm
gì có chuyện đó, tôi không
bao giờ nghĩ đến khoái lạc,
tôi chỉ hy sinh đời mình cho mọi
người, cho dân tộc, cho tôn giáo,
cho xã hội v.v…".
Dù ý thức
hay không thì hai động lực "tránh
đau khổ" và "tìm khoái lạc"
luôn luôn chi phối mọi thái độ,
mọi hành động của con người.
Hai động lực này thường
bị che khuất bởi những đặc
tính cá nhân về văn hoá, về
phong tục, về niềm tin v.v…và chính
cá nhân đó lại thường
không để ý tới. Vì thường
ở tiềm ẩn trong phần vô thức
của mỗi cá nhân nên ảnh hưởng
của hai động lực này cũng
giống như định mệnh:
Ma đưa
lối, qủy đưa đường
Cứ tìm
lấy lối đoạn trường mà
đi
(Kiều)
Thực ra đó
là lối do động lực "tìm
khoái lạc" hoặc "tránh đau khổ"
dẫn đường:
"Ðau" đưa
lối, "khoái" đưa đường
Cứ tìm
lấy lối đoạn trường mà
đi
Chúng ta thử bàn
sâu hơn về hai động lực này.
1. Ðộng lực
"tránh đau khổ"
Chữ "đau khổ"
ở đây bao gồm mọi sự
đau khổ về thể chất và tinh
thần. Tìm cách tránh sự đau
khổ là một bản năng thiên nhiên
của con người. Ðau khổ thể
chất bao gồm:
- cơ thể bị
tổn thương, chẳng hạn như bị
đánh đập, tra tấn, bị tai nạn
gẫy xương, sất da, chảy máu v.v…
- đói không
có thực phẩm để ăn
- khát không có
nước uống
- chỗ ở chật
chội
- thiếu thốn phương
tiện vệ sinh
- lạnh nhưng không
có quần aó ấm
- nóng bức
- việc làm nặng
nhọc quá sức chịu đựng
- không khí ô
nhiễm
- ngửi mùi
hôi thối chung quanh
- nhìn thấy những
cái xấu xa
- nghe thấy những
điều chướng tai
- ăn phải đồ
ăn hư thối
- v.v…
Ðau khổ tinh thần
bao gồm:
- sự ghen tức
với người khác
- cảm giác thù
hận
- cảm giác giận
hờn
- cảm giác buồn
bã
- cảm giác lo âu
- cảm giác sợ
hãi
- sự thất bại
- thiếu tình yêu
- ị khinh khi
- ị xỉ nhục
- dọa
- niềm tin bị xúc
phạm
- va chạm phong tục,
văn hoá
- ngần ngại bị
người khác từ chối
- mặc cảm tự
ti
- mặc cảm tự
tôn
- hối hận
- tiếc nuối
- mất quê hương
- mất văn hoá
- mất tình yêu
- mất người
thân
- mất bạn bè
- v.v…
Xã hội càng
phát triển thì những đau khổ
tinh thần càng phong phú, đa dạng.
Tìm cách tránh sự đau khổ
là một bản năng thiên nhiên của
chúng ta. Vì vậy mọi thái độ,
mọi hành động của chúng ta thường
được não bộ chúng ta sàng
lọc một cách ý thức hay vô
thức để tránh cho bản thân
ta sự đau khổ thể chất hay tinh
thần. Quá lo lắng về việc tránh
những đau khổ, con người
có thể trở thành bi quan yếm
thế. Có người tìm cách
tránh sự đau khổ bằng cách
xuống tóc đi tu. Hành động
quá khích nhất của sự tránh
đau khổ là hành động tự
tử.
Những hình
thức đau khổ liệt kê ở
trên đều có hai tính chất
sau đây:
- Tính chất tổng
quát, nghĩa là ai ai cũng có thể
cảm nhận sự đau khổ.
- Tính chất cá
biệt, nghĩa là cường độ
đau khổ tùy thuộc tình trạng tâm
lý, tùy thuộc văn hoá, phong tục,
niềm tin v.v…của từng cá nhân.
Chẳng hạn như cảnh sinh tử lão
bệnh làm cho nhiều người lo âu,
mất ăn mất ngủ; nhưng đối
với một số ít thì đó
là những quy luật tất yếu của
thiên nhiên, con người không bao
giờ tránh khỏi và càng cuống
cuồng tìm cách thoát thì càng
cảm thấy bị bao vây siết chặt
hơn.
Quan sát sự
tác động của động lực
"tránh đau khổ" trên mọi thái
độ và hành động của chính
mình, chúng ta dần dần hiểu được
thái độ và hành động
của người khác. Từ đó
chúng ta có thể quan sát vô số
người vì muốn tránh sự
đau khổ mà lại lao vào bể khổ.
Chẳng hạn như một người có
cường độ sợ hãi sự
đau khổ quá cao, luôn luôn ái
ngại sự thất vọng sẽ đem
lại những đau đớn về
tâm lý, trở thành cực kỳ
bi quan, thấy hiện tượng thiên nhiên
hay xã hội nào cũng tìm được
cớ để than thở, để
lo âu, để sợ hãi. Người
đó tưởng rằng thái độ
của mình sẽ giúp cho tránh được
những đau khổ vì thất vọng.
Nhưng thực ra người đó
đã tự gây những đau
khổ vô ích cho chính bản thân
mình bằng những sự bất mãn,
lo âu, sợ hãi.
2. Ðộng lực
"tìm khoái lạc"
Có nhiều người
gắn liền ý niệm "khoái lạc"
với sự ích kỷ, sự xấu
xa, có khi vì sự đạo đức
giả, có khi vì sự lầm lẫn
về những trách nhiệm, bổn phận,
những phong tục, tập quán v.v… Thực
ra mọi thái độ và hành động
của con người, nếu không phải
để tránh sự đau khổ thì
sẽ là để tìm kiếm sự
khoái lạc. Ðó là một bản
năng của con người.
Sự "khoái lạc"
bao gồm:
- sự thỏa mãn
những nhu cầu sinh lý chẳng hạn
như ăn, ngủ v.v…
- sự thỏa mãn
những nhu cầu vật chất, chẳng
hạn như xe cộ, nhà cửa, phương
tiện di chuyển v.v…
- sự thỏa mãn
những nhu cầu tâm lý, chẳng
hạn như cần tình yêu, mái ấm
gia đình, tình quê hương, du lịch
v.v…
- sự đam mê
- sự sáng tạo
- sự từ
bi, bác ái
- sự văn minh
- sự tiến bộ
- sự xây dựng
- sự đóng
góp
- v.v…
Xã hội càng
phát triển thì sự "khoái lạc"
càng phong phú, đa dạng.
Những hình
thức khoái lạc liệt kê ở
trên đều có hai tính chất
sau đây:
- Tính chất tổng
quát, nghĩa là ai ai cũng có thể
cảm nhận mọi sự khoái lạc ấy.
- Tính chất cá
biệt, nghĩa là cường độ
khoái lạc tùy thuộc tình trạng
tâm lý, tùy thuộc văn hoá,
phong tục, niềm tin v.v… của từng cá
nhân. Trong những trường hợp
đặc biệt, con người có thể
biến sự khoái lạc thành sự
đau khổ, chẳng hạn như một người
ghiền thuốc lá, sau khi cai được,
có thể sẽ thấy hút thuốc
lá là một hình thức nô
lệ vào thuốc lá, mất tự
do v.v…
Những bản tính
cá nhân đó ảnh hưởng
trên các loại khoái lạc, chẳng
hạn như một người đã
từng trải nhiều khó khăn về
việc kiếm miếng ăn nên trong phần
vô thức của não bộ đã
đưa sự ăn là khoái lạc
cao nhất, vì vậy khi nghe nói đến
ăn là người đó đã
thấy phấn khởi, khi làm việc
gì xong được ăn là thấy
hăng hái làm. Trái lại, kẻ
khác, vì có tình trạng tâm lý
khác, lại cho rằng sự ăn làm
cho mình bị mập, đem đến nhiều
chất mỡ trong máu v.v… nên cho chuyện
ăn là khoái lạc thấp nhất,
nghe ai tham ăn là coi người đó
như một kẻ dại dột; mỗi lần
ăn hơi thái quá đã cho là
mình phạm lỗi lầm đối với
bản thân mình!
Quan sát sự
tác động của động lực
"tìm khoái lạc" trên mọi thái
độ và hành động của chính
mình, chúng ta dần dần hiểu được
thái độ và hành động
của người khác. Từ đó
chúng ta có thể quan sát vô số
người vì muốn tìm khoái
lạc mà lại lao vào bể khổ. Chẳng
hạn như một người chỉ biết
đến khoái lạc trước mắt
mà không nghĩ đến hậu quả
lâu dài về sau, đã trở
thành nghiện ngập, trụy lạc, mất
cả phẩm chất con người. Người
đó tưởng rằng thái độ
và hành động của bản thân
sẽ đem lại khoái lạc, nhưng sau
những giây phút kích động
ngắn ngủi là những thời
gian dài mệt mỏi chán chường
và tuyệt vọng. Cũng có người
tìm thấy sự khoái lạc trong những
công việc ích quốc lợi dân,
trong những hành động từ
bi bác ái. Bề ngoài những
công việc này có thể đem đến
sự bận rộn, sự mệt mỏi về
thể chất ; nhưng bề trong có thể
đem lại những khoái lạc vô
bờ bến vì những hành
động đó thỏa mãn những
nhu cầu tâm lý cấp cao của con người.
Sự khoái lạc này có những
tác dụng vô cùng thuận lợi
cho thể chất và tinh thần của người
đó.
3. Mâu thuẫn
giữa hai động lực "tránh đau
khổ" và "tìm khoái lạc"
Một thí dụ cụ
thể, một người thích chơi
cờ bạc, suốt tuần đi làm
chỉ mong cuối tuần được nghỉ
để đi casino chơi; có lúc chỉ
nghĩ đến thú cờ bạc là
đã thấy tâm thần bấn loạn,
tay chân run rẩy. Cái "khoái lạc" chơi
bạc là động cơ thúc đẩy
mạnh người đó, làm cho
kẻ đó mất tự chủ, sẵn
sàng làm mọi chuyện để thỏa
mãn nhu cầu đánh bạc. Dù có
nhận thức được đôi
chút thế lực vũ bão của
kẻ nội thù này người đó
cũng đành buông tay, tự an ủi
là do định mệnh!
Nhưng sau khi bị mất
mát quá nhiều, mất nhà, mất
xe, mất cả gia đình v.v… người
đó thức tỉnh và chừa
được sự đam mê cờ
bạc, mặc dầu đã quá muộn!
Chừa bỏ được là nhờ
sự đau đớn cũng là
yếu tố chính trong định mệnh,
vì mọi hành động của con người
đều nhằm vào một trong hai mục
đích: tìm khoái lạc hoặc tránh
đau đớn. Sự tránh đau
đớn đã trởû thành
động cơ thúc đẩy người
đó thắng được những
đòi hỏi cờ bạc của bản
thân.
Như vậy cái
định mệnh đưa đẩy người
đó thoát được bệnh
cờ bạc chẳng qua chỉ là kết
quả của cuộc đấu tranh trong nội
tâm của người ấy giữa
hai động cơ "tìm khoái lạc" và
"tránh đau khổ ".
Nói một cách
khác, chúng ta có thể xếp loại
các nguyên do thúc đẩy mọi hành
động của con người: hoặc là
do "tìm khoái lạc", hoặc là do "tránh
đau khổ", hoặc là kết quả đấu
tranh trong nội tâm mỗi người giữa
hai động cơ động cơ đó.
Dĩ nhiên "tìm khoái lạc" và
"tránh đau khổ " lại tùy thuộc
từng cá nhân. Người anh
hùng thì có thể khoái lạc cao
nhất là giúp đỡ người
khác, kẻ tiểu nhân thì có thể
ăn cắp của người khác
là một niềm vui. Người từ
bi thì xót xa khi thấy người
khác đau đớn, kẻ ác
thì khoái chí khi thấy người
khác bị hoạn nạn.
Quan niệm cá nhân
về "tìm khoái lạc" cũng như "tránh
đau khổ" và cuộc đấu tranh không
ngừng trong nội tâm từng người
chính là yếu tố quyết định
mọi hành động.
Nhận thức và
phân tích cái nguyên nhân ẩn
tàng sau mỗi hành động của
con người, chúng ta có thể thấy
tính chất tương đối của
những nguyên nhân ấy, có thể
giúp chúng ta tránh được
những thái quá trong việc "tìm
khoái lạc" cũng như "tránh đau
khổ", có thể giúp cho chúng ta xét
lại cả những nguyên nhân sâu
xa hơn. Chẳng hạn như trong nền văn
hoá "trọng nam khinh nữ" thì sinh con
trai là một khoái lạc lớn lao,
mặc dầu vấn đề ấy có
khi chẳng nghĩa lý gì trong một nền
văn hoá khác! nhất là nếu
trong xã hội có nạn gái thiếu
trai thừa thì cái khoái lạc đó
có khi bị coi là một sự ngu xuẩn!
Những khoái
lạc vật chất nhiều khi có tính
chất tạo ghiền, làm cho người
trong cuộc càng ngày càng bị lệ
thuộc và dần dần biến thành
nạn nhân của những cái khoái
lạc đó, chẳng hạn như những
người nghiện rượu hay nghiện
cờ bạc. Hành động của những
người đó luôn luôn tùy
thuộc vào cuộc đấu tranh trong nội
tâm giữa những cảm giác
khoái lạc và những cái đau
khổ do "cờ bạc, rượu chè"
đem lại. Hễ có đấu tranh thì
bên nào mạnh hơn sẽ thắng, nhưng
cuộc đấu tranh trong nội tâm thì
sự phân biệt giữa hai bên tương
đối khó khăn hơn, vì bên
nào thì cũng chính là bản
thân người trong cuộc. Vì vậy
nhiều người cần sự trợ
giúp của người khác để
chiến thắng được chính bản
thân họ.
Ngày xưa, trong nền
văn hoá của Trung Quốc và Việt
Nam, tuyệt đại đa số người
ta tin vào số phận. Niềm tin này
có tác động tiêu cực trên
hành động của con người.
Vì vậy những người tích
cực chủ trương "đức năng
thắng số", nghĩa là hành động
đạo đức của một người
có thể thấu đến trời
cao để cho số phận của mình được
sửa lại tốt hơn. Họ thường
nói rằng cần phải "tận nhân
lực" rồi mới "quy thiên số",
nghĩa là làm hết sức mình
rồi mới chờ số trời
định đoạt.
Bác bỏ đơn
thuần những nhận xét của người
xưa không mang lại cho chúng ta những
bài học quý báu của cha ông
để lại. Chúng ta thử tìm
hiểu những nguyên do khoa học của
hiện tượng "đức năng
thắng số".
Những người
có niềm tin rằng "đức năng
thắng số" thì thường hạn
chế sự tìm kiếm khoái lạc
trong vòng đạo đức. Vì
vậy về phương diện xác suất,
những người này sẽ ít
bị kẻ khác thù hận hơn, có
nhiều người có cảm tình
hơn. Nói một cách khác, nếu
người đó gặp những
sự không may thì không bị kẻ
thù nhấn chìm luôn và có
hy vọng được người khác
giúp đỡ hơn ; khi gặp may mắn
thì người đó sẽ thành
công lớn hơn vì không có
kẻ thù phá hoại và có những
người có cảm tình ủng hộ.
Như vậy hành động hạn chế
sự tìm kiếm khoái lạc trong vòng
đạo đức có thể giúp
người đó có một cuộc
sống tốt đẹp hơn. Một thí
dụ cụ thể, một người hạn
chế khoái lạc xác thịt trong vòng
hôn nhân lễ giáo thì dễ tìm
được hạnh phúc gia đình
hơn một kẻ tự cho phép khoái
lạc xác thịt bừa bãi.
Niềm tin sắt đá
vào "đức năng thắng số"
cũng làm tăng cường rất
nhiều sức mạnh của những
người có niềm tin đó,
làm cho họ luôn luôn cảm thấy
có chính nghĩa trong mọi hành động,
luôn luôn cảm thấy có sức
mạnh thần thánh giúp họ trong mọi
cuộc đấu tranh v.v… Sức mạnh đó
giúp cho họ xoay chiều được
mọi tình thế khó khăn, hay nói
một cách khác là họ đã
thắng được định mệnh.
Quan điểm "đức
năng thắng số" có lẽ không
còn phù hợp với thời
đại văn minh hiện tại. Sự nhận
thức và phân tích các động
cơ "tránh đau khổ" và "tìm khoái
lạc" là những phương tiện để
hiểu được những nguyên
nhân của "số phận" và từ
đó con người có thể tự
đấu tranh để thắng "số phận".
Những người đã lỡ
rơi vào vòng lệ thuộc chẳng hạn
như ghiền rượu, ghiền thuốc
phiện thường không còn khả
năng đểâ nhận thức và
phân tích và thường cần
đến sự hỗ trợ của
người khác để thắng được
bản thân mình.
4. Tự do và
định mệnh.
Chúng ta không thể
phủ nhận ảnh hưởng lớn
lao của các hiện tượng thiên
nhiên và xã hội khách quan đối
với một cá nhân, những
ảnh hưởng này cũng có
tính cách định mệnh, chẳng hạn
như một thanh niên sinh ra trong thời chiến
tranh, bị cưỡng bức ra chiến
trường rồi bị chết dưới
bom đạn, dù đã tìm đủ
mọi cách để bảo tồn sinh mạng
nhưng cũng đều thất bại.
Mỗi người
được sinh ra và lớn lên
trong những hoàn cảnh thiên nhiên
và xã hội khác nhau. Ðó là
những điều kiện khách quan. Chính
những hoàn cảnh đó đã
tạo ra những quan niệm của mỗi
cá nhân về hai động cơ "tránh
đau khổ" và "tìm khoái lạc".
Chính những động cơ này
quyết định mọi hành động
của con người, giống như là
mệnh lệnh của định mệnh.
Trong cùng một hoàn
cảnh vật chất, có người
sống trong hạnh phúc, có kẻ lại
thấy khổ sở chính là vì
sự khác biệt quan điểm về
"đau khổ" và "khoái lạc" của
mỗi người.
Nhưng ai ai cũng có
thể thay đổi những quan điểm
đó của bản thân mình, chẳng
hạn quan niệm "ăn nhậu và đánh
bạc là những thứ vui tuyệt
vời" được thay bằng quan
điểm " ăn nhậu và đánh
bạc chẳng qua chỉ là những thú
vui cấp thấp, những người
trở thành ghiền chẳng qua vì
sự phát triển tâm lý thiếu
lành mạnh".
Con người là
sản phẩm mầu nhiệm nhất của
thiên nhiên. Ai ai cũng có khả năng
tự nhận biết sự hiện hữu
của chính mình, ai ai cũng có thể
vận dụng hoàn cảnh chung quanh để
thoả mãn những nhu cầu sinh lý,
vật chất và tâm lý. Nói một
cách khác, ai ai cũng đã được
trang bị để có tự do trong sự
quyết định hành động của
bản thân mình. Dĩ nhiên mức
độ trang bị của mỗi người
khác nhau vì sự di truyền, vì
sự học tập, vì kinh nghiệm, vì
văn hoá v.v…
Ai ai cũng có thể
dùng khả năng mà thiên nhiên
đã ban cho để sáng tạo ra chính
cuộc đời mình. Nói tóm
lại trong bất cứ hoàn cảnh nào,
con người vẫn có thể có
cái tự do chọn lựa, phó mặc
cho dòng định mệnh cuốn trôi
hay cưỡi trên những làn
sóng của định mệnh để
hưởng được cái khoái
lạc tuyệt vời: sáng tạo ra chính
cuộc đời mình.
Phó Thường
Dân
Tháng 11 năm 2002
|