Trẻ
thơ giữa hai lằn đạn
Hương đầu thai vào
một gia đình giầu có, sinh ra khoảng cuối thế chiến thứ
hai, bên trong một lũy tre làng ở miền bắc Việt Nam.
Thế chiến thứ hai chấm dứt,
nhân dân cả nước Việt Nam phấn khởi giành lại độc lập
từ tay Nhật Bản. Với chiêu bài giành độc lập cho dân tộc
để được sự ủng hộ của nhân dân, đảng cộng sản đã
cướp được chính quyền để chuẩn bị nền chuyên chính
vô sản, để xóa bỏ mọi thành phần xã hội không phù hợp
với xã hội trong trí tưởng tượng của họ. Vừa chập chững
biết đi, Hương không biết rằng mình đã là kẻ thù của
giai cấp vô sản đang nắm chính quyền.
Quân đội Pháp trở lại xâm chiếm
Việt Nam, thanh niên cả nước sôi sục tinh thần kháng chiến.
Trung, anh cả của Hương, tham gia trung đoàn bảo vệ thủ đô.
Trong cuộc giao tranh với quân đội Pháp, Trung bị thương,
bị đồng đội bỏ rơi vì thuộc thành phần địa chủ. Trung
bị mất liên lạc với gia đình nhưng may mắn gặp được
một bác sĩ ở Hà Nội chữa lành vết thương. Mấy năm sau
Trung tham gia quân đội của cựu hoàng Bảo Ðại.
Sau khi chiếm xong Hà Nội quân
Pháp tiến chiếm các tỉnh miền bắc Việt Nam. Người dân
Việt thuộc giai cấp trung lưu hoặc khá giả bị rơi vào tình
thế lưỡng nan, một bên là quân Pháp xâm lăng, một bên là
chủ nghĩa cộng sản bắt đầu ló dạng, chạy về phía Pháp
thì tự ái dân tộc bị thương tổn, ở lại phía cộng sản
thì bị xếp loại kẻ thù của giai cấp vô sản và tương
lai cực kỳ
đen tối: không những bản thân
có thể bị thủ tiêu bất cứ lúc nào mà đời con, đời
cháu cũng bị kỳ thị, đầy ải!
Có tin quân đội Pháp tiến về
làng, Việt cộng ra lệnh tiêu thổ kháng chiến, mọi người
dân phải tản cư khỏi làng, ai ở lại bị coi như là theo
giặc Pháp, có thể bị thủ tiêu. Gia đình Hương đứng trước
tình thế lưỡng nan, ở lại thì cũng án tử hình, tản cư
thì cũng án tử hình!
Trước cảnh tiến thối lưỡng
nan, gia đình Hương chia làm hai nhóm để may ra một nhóm thoát
có thể cứu nhóm còn lại trong tương lai. Lam, chú của Hương
là người đã từng được đi du học ở Pháp, rất sợ bị
Việt cộng thủ tiêu vì không những là địa chủ lại còn
bị nghi ngờ hợp tác với Pháp, tính chuyện ở lại để
tìm cách về Hà Nội. Cha mẹ Hương đem tất cả gia nhân và
một số con đi di tản, để lại vợ chồng Trí, Dũng và Hương.
Trí là anh của Hương, hơn Hương chừng một giáp; Dũng là
em Trí, hơn Hương hai tuổi. Sau khi nhóm của cha mẹ Hương
đi rồi, năm người ở lại: Lam, hai vợ chồng Trí, Dũng và
Hương rút lên trên lầu, đóng cửa sắt lại để tử thủ
với các vũ khí thô sơ như kiếm, chai đựng đầy nước.
Sáng sớm hôm sau, xa xa có tiếng
súng của đoàn quân Pháp viễn chinh, Lam hồi hộp đợi chờ.
Tiếng súng gần hơn, rồi lại xa dần, có lẽ đoàn quân đã
đổi hướng hành quân sang vùng khác, Lam bắt đầu lo âu,
sợ hãi. Trên lầu nhà Hương có để dành rất nhiều rượu
và củ đậu, Lam hồi hộp sợ Việt cộng đi kiểm soát từng
nhà xem có ai chưa đi di tản để thanh toán, uống rượu liên
tục để bớt sợ. Dũng và Hương là hai đứa trẻ chẳng
hiểu tình thế nhưng chỉ biết là mình đang đói khát. Vợ
Trí gọt củ đậu cho anh em Dũng Hương ăn thay nước uống.
Bị nhốt trên lầu đã lâu, vừa đói bụng, vừa khát nước
nên Dũng khóc. Vợ Trí tìm mọi cách để dỗ dành Dũng thôi
khóc. Hương tuy đói khát nhưng chỉ tò mò tìm hiểu vẻ mặt
trầm trọng của người lớn. Có tiếng Việt cộng gọi nhau
ơi ới để đi kiểm soát từng nhà. Lam càng sợ hãi, bỗng
nhiên Dũng lại lè nhè khóc tiếp. Lam sợ quá, hóa điên, rút
kiếm đe dọa Dũng:
- Im ngay không tao giết,
- Cháu lạy chú, cháu lạy chú,
vợ Trí hốt hoảng kêu lên, chú đừng giết em Dũng; em mà
chết thì cháu không còn mặt mũi nào nhìn lại mẹ cháu, cháu
lạy chú trăm lạy, nghìn lạy!!!
Dũng thấy vợ Trí quỳ lạy như
tế sao nên đâm sợ, không dám khóc thành tiếng nữa, chỉ
còn thút thít nấc nấc nho nhỏ mà thôi.
Hương còn nhỏ, không hiểu tại
sao Dũng lại bị đe dọa, chỉ biết im lặng cúi đầu chịu
đựng.
Ðến gần tối thì có tiếng gọi
ở dưới sân vọng lên lầu:
- Cậu Trí ơi, mở cửa, bà về
rồi.
- Suỵt, không ai được trả lời,
Lam ra lệnh.
- Thưa chú đúng giọng thằng Tiến,
Trí trả lời. Tiến là người giúp việc trong gia đình.
- Không được trả lời, Lam cương
quyết nói.
- Cậu Trí ơi, mở cửa, bà đang
chờ, Tiến gọi tiếp.
- Trí ơi, mở cửa cho mẹ mau,
chắc các em đói lắm rồi, mẹ Trí lên tiếng.
- Dạ, con xuống ngay, Trí mừng
rỡ trả lời mẹ rồi đi lấy chìa khóa.
Lam vẫn còn sợ nhưng không ngăn
cản vợ chồng Trí mở cửa sắt dẫn Dũng và Hương đi xuống.
- Tiến, mày đi nấu cháo cho các
em ăn, đói quá ăn cơm ngay có khi bị trúng thực, mẹ Trí
vừa đi vào nhà vừa nói.
Dũng và Hương vừa thoát nạn,
nhưng vì còn nhỏ tuổi nên cũng chẳng hiểu nhiều, chỉ mong
được ăn ngay mà thôi.
Cuộc chiến càng ngày càng lan
rộng, làng của Hương thuộc vùng xôi đậu, nay thì Việt
cộng kiểm soát, mai lại Tây kiểm soát. Mới hơn sáu tuổi
mà Hương đã nhiều lần chạy loạn. Hương rất hãnh diện
vì được khen chạy loạn giỏi, không khóc nhè, không cần
người cõng.
Ngày giỗ ông nội, nhà Hương
rất đông bà con đến tham dự. Bỗng nhiên nghe tiếng máy
bay, rồi tiếng súng đạn vang dội. Mọi người cuống quýt
tìm chỗ ẩn nấp. Mẹ Hương kéo con chui vội xuống gầm chiếc
gụ dầy gần hai tấc. Nằm dưới gụ, Hương nghe tiếng máy
bay gầm thét, tiếng đạn réo, tiếng bà con rú lên vì sợ
hãi!
Một lát sau tiếng máy bay xa dần,
mọi người lần lượt chui ra khỏi chỗ trú ẩn, vội vã
đi tìm nhau xem ai còn ai mất. Giống như một phép lạ, tất
cả bà con của Hương không ai bị thương cả, một viên đạn
xuyên qua được bức tường đá dầy của nhà Hương đến
sát mông em của Hương thì dừng lại; một trái bom rớt cạnh
nhà không nổ; vết đạn khắp nơi quanh nhà Hương. Mọi người
tin tưởng được ông bà tổ tiên phù hộ nên bốn chiếc
máy bay oanh tạc mà không có ai bị thương. Về sau gia đình
Hương mới được biết là vì máy bay thám thính thấy đông
người tụ tập tại nhà Hương, tưởng lầm là Việt cộng
nên gọi oanh tạc cơ đến giội bom.
Chiến tranh càng ngày càng khốc
liệt, nhưng còn thơ ấu, Hương vẫn sống vô tư. Từ trưa
ba mươi tết, anh em Dũng, Hương đã rộn ràng chuẩn bị sáng
ngày mồng một sẽ chơi đá banh với bà con. Ðến tối, mẹ
Hương giục con đi ngủ sớm để sáng mai dậy sớm đón xuân
sang.
Tiếng súng đạn ầm vang, chát
chúa, dìm quê hương nhỏ bé của Hương vào biển lửa. Trời
chưa rạng sáng mọi người tay xách tay mang vội vàng lên đường
chạy loạn. Hương còn đang tiếc chưa được ăn tết đã
phải chạy loạn. Ðang đi trên đường đê, Hương thấy ai
đẩy mình té xuống ruộng, một viên đạn bay vụt qua đầu
Hương. Hương chưa kịp thắc mắc thì Tiến bồng Hương lên,
vừa chạy vừa tránh né những viên đạn từ hướng đồn
Pháp bắn xối xả vào đám dân đang làm bia đỡ đạn cho
bộ đội Việt cộng ở phía sau!
Ra khỏi tầm đạn, gia đình Hương
đi về hướng Nam Ðồng, ở đó có gia đình nhà chồng của
Liễu, chị của Hương. Ðến lúc trời sáng rõ thì gia đình
Hương đến nhà Chuộng, một tá điền của cha Hương. Mọi
người đang ăn tết, trẻ con thì vui mừng nhận tiền mừng
tuổi, riêng Hương thì bắt đầu một cái tết tha hương.
Ðến trưa, chưa kịp ăn cơm thì có tiếng máy bay, mọi người
cuống quýt chạy trốn. Nhà Chuộng không có gụ để chui xuống
gầm tránh đạn, Hương ngồi trên chiếc giường nhỏ với
gia đình, lấy tấm chăn mỏng che cho đỡ sợ, chứ ai cũng
biết rằng chăn mỏng thì làm sao ngăn được những viên đạn
vô tình oan nghiệt. Mọi người chỉ còn biết rầm rì cầu
nguyện. Cũng may, máy bay chỉ bắn xuống chừng vài phút rồi
bỏ đi và không có ai bị trúng đạn.
Gia đình Hương bắt đầu cuộc
sống tỵ nạn ở gia đình nhà chồng của Liễu được ít
lâu thì quân đội Pháp lại tràn về càn quét khu vực này.
Lại nghe tiếng súng nổ, lại nghe tiếng kêu thét thất thanh.
Tất cả đàn bà con nít được tập trung lại để khám xét.
Tất cả thanh niên, đàn ông bị càn đem lên tầu.
Một tên lính Pháp thấy Trí ăn
mặc bảnh bao, bèn xét ví, không thấy có tiền, bèn bóp cò
súng! Số của Trí chưa chết nên súng không nổ! Sau đó Trí
bị dẫn giải lên tầu cùng với các thanh niên khác. Tiến,
thanh niên giúp việc nhà Hương có khuôn mặt hồng hào, lại
để tóc dài nên bọn lính Pháp tưởng là con gái, đè Tiến
xuống để hiếp. Sau khi phát giác là con trai, bọn lính đánh
Tiến mấy báng súng rồi bắt lên tầu.
Hương không biết là anh trai, anh
rể của mình đã bị quân đội Pháp bắt đi. Sau khi lính
Pháp rút đi, Hương thấy mọi người chạy ra lũy tre quanh
nhà. Tò mò, Hương cũng chạy ra, nhìn thấy một thanh niên
bị bắn xuyên từ tai ra mắt, nằm chết trên bờ ruộng. Quá
hãi hùng, Hương cuống quýt chạy vô nhà.
Ðêm ấy, Hương nằm ngủ cạnh
mẹ, hình ảnh người chết máu me loang lổ mà Hương nhìn
thấy hồi chiều còn ám ảnh Hương. Vừa sợ, vừa không ngủ
được, Hương nằm sát vào người mẹ.
- Nằm lui ra, nóng quá, mẹ Hương
gắt gỏng.
Hương vừa sợ vừa đau đớn,
không hiểu vì sao mẹ lại quá lạnh lùng với mình. Hương
không biết rằng mẹ đang lo không biết tính mạng của con
trai, con rể ra sao!
Hương không ngủ được vì không
thể nào quên được hình ảnh hãi hùng, đẫm máu của người
thanh niên bị giết hồi chiều. Trí óc thơ dại của Hương
đã in hằn dấu vết bạo tàn của chiến tranh.
Quê hương thứ nhất của Hương
đã rơi vào vòng kiểm soát của Việt cộng, ở đó những
gia đình thuộc thành phần địa chủ như gia đình Hương không
có đất sống. Cha Hương đã đi lên thị trấn Thái Bình từ
mấy tháng trước, Trung, anh cả của Hương lúc đó làm việc
tại Sàigòn, Trí, người anh kế thì đã bị tây càn đi, không
biết sống chết ra sao, gia đình Hương chỉ còn lại đàn
bà và con nít. Không còn hy vọng trở về nơi chôn rau cắt
rốn, mẹ Hương phải gạt nước mắt, ra đi vĩnh biệt quê
hương! Những người còn lại của gia đình Hương lại phải
chia làm hai nhóm, hai em của Hương ở lại nhà Liễu; mẹ Hương,
vợ Trí dẫn Dũng và Hương đi bộ mấy chục cây số lên
thị trấn Thái Bình. Sống tại thị trấn Thái Bình được
ít ngày thì cha mẹ Hương dẫn hai anh em Dũng Hương lên Hà
Nội rồi vô Sàigòn sống với gia đình Trung. Vợ Trí ở lại
thị trấn Thái Bình chờ tin chồng.
Vĩnh biệt quê hương thứ nhất
lúc mới 8 tuổi nên Hương cũng chưa có những xót xa của
những người phải vĩnh biệt quê hương. Sàigòn đối với
đứa trẻ miền quê như Hương thì đồ sộ quá, văn minh quá,
cái gì cũng lớn lao, lạ lùng đối với Hương. Nhưng đối
với cha Hương thì sự vĩnh biệt quê hương, sự mất mát
tất cả tài sản ruộng nương, tất cả mồ mả ông cha, sự
chia ly với những người con còn kẹt lại v....v... vượt quá
sức chịu đựng của cha Hương, biến ông ta thành một người
khác hẳn bản chất của mình, trở thành cực kỳ gàn dở,
bảo thủ, khư khư ôm mối hận đời.
Là một đứa trẻ có bản chất
thông minh, lanh lẹ; nhưng mới có tám tuổi, lại chỉ được
đi học ở trường khoảng chừng vài tháng (vì chiến tranh,
vì hoàn cảnh chạy loạn), nên Hương không hiểu được hoàn
cảnh của mình, cha mẹ không còn khả năng tài chính để
nuôi mình nữa, tất cả phải sống ăn bám vào đồng lương
duy nhất của Trung. Nhưng Hương biết rõ rằng cuộc sống
vật chất của mình vô cùng thiếu thốn, thiếu tất cả những
phương tiện tối thiểu.
Nếu cuộc sống vật chất của
Hương là cuộc sống của đứa trẻ nghèo nhất lớp thì cuộc
sống tinh thần của Hương lại còn nghèo nàn hơn nhiều.
Vì khư khư ôm mối hận đời,
cha Hương không những trở thành một người ăn bám mà còn
là người vô tình hành hạ cuộc sống tinh thần của Hương.
Vì quá gàn dở và bảo thủ, cha
Hương cấm đoán con cả những món ăn tinh thần tối thiểu
của con người, cấm đọc báo, cấm nghe radio!! Có lẽ tư
tưởng cổ hủ của cha Hương không còn phù hợp với đến
những quan điểm mới mà báo chí và radio đề cập tới hàng
ngày, nên coi những quan điểm đó như những thứ có thể
đầu độc con mình!! Vừa thoát khỏi hai lằn đạn của chiến
tranh ở miền bắc Việt Nam, Hương đã rơi ngay vào hai lằn
đạn mới: sự nghèo nàn cùng cực về vật chất và sự cưỡng
bách giáo dục tinh thần sặc mùi hủ nho, nhân danh đạo đức
thánh hiền!!
Mỗi khi mượn được một cuốn
truyện để đọc, Hương cảm thấy say sưa thích thú. Mỗi
khi nghe được tiếng ca hát, ngâm thơ vang lên từ radio hàng
xóm, Hương cảm thấy tỉnh hẳn người ra. Có những buổi
chiều rảnh rỗi, Hương tìm nhà hàng xóm nào có vặn radio
to để đứng gần đó thưởng thức đôi chút những sản
phẩm văn hóa. Dù là trẻ thơ chưa biết gì về ?đạo đức
thánh hiền?, nhưng Hương hiểu rất rõ là những gì mình bị
cấm đoán là hoàn toàn sai trái, nếu thánh hiền cũng làm
vậy tức là thánh hiền sai trái, bóp chết sự phát triển
thiên nhiên của trẻ thơ không thể là chuyện đúng được!
Có lần cha Hương đem tiết tháo
hủ nho để áp dụng cho trẻ thơ vô tội. Muốn làm nhẹ gánh
nặng ăn bám vào Trung, cha Hương ra lệnh cả gia đình chỉ
ăn cơm với muối. Mẹ Hương là con người thực tế, không
chấp nhận sự dại dột đó nên đề nghị giải pháp khác:
- Muốn ăn cơm với muối thì tôi
sắp cho ông ăn một mình, cả nhà ăn mâm riêng, có rau ăn
rau, có cá ăn cá, tôi xoay xở được gì thì ăn nấy.
- Tôi sẽ ăn riêng, cha Hương cương
quyết.
Cái tiết tháo của ông hủ nho
chưa được một tuần xem chừng đã tan ra mây khói, cha Hương
ngắc ngoải nhai cơm với muối, ai thấy cũng tội nghiệp.
Mẹ Hương thấy cũng động lòng, bắt Hương mời bố ăn chung!
Vì nghèo nàn nên tuổi trẻ của
Hương chỉ có mỗi một trò chơi là cờ tướng. Chưa được
tám tuổi, Hương đã thắng cờ ông anh rể lớn hơn Hương
khoảng hai chục tuổi. Lúc hơn tám tuổi thì Hương đã đánh
cờ thắng cha Hương, và từ đó ông không chơi cờ với Hương
nữa. Trung, người anh cả, rất thích đánh cờ với Hương,
vì Trung thắng nhiều nhưng muốn thắng cũng khá vất vả.
Khi Hương được mười một tuổi thì đánh cờ thắng Trung,
và kể từ đó không bao giờ Trung rủ Hương đánh cờ nữa!
Trong cái phúc nào mà không ẩn
tàng cái họa? Vì chơi cờ tướng giỏi nên không ai chịu
chơi cờ với Hương nữa, và biết đâu chẳng bị mọi người
mất cảm tình. Vì khá thông minh nên hay thắc mắc đặt những
câu hỏi khó trả lời ; do đó Hương bị các anh chị ghét
ngầm, các bà hễ ngồi với nhau là nói xấu Hương. Lúc đó
là vào lúc đất nước chia đôi, bà con ở ngoài bắc chạy
vào nam tỵ nạn ở nhà Hương rất đông, các bà chị dâu,
chị họ thường ngồi tán gẫu nói chuyện, rồi các bà tưởng
tượng ra là Hương là thủ phạm của tất cả các tội lỗi
của những đứa con nít khác trong nhà! thật đúng là:
- Chữ tài liền với chữ tai một
vần (trích Kiều).
Trung đã sẵn không có nhiều cảm
tình với Hương, lại bị vợ là Loan gièm pha, than thở ngày
đêm là tất cả tội lỗi của Lan, con cả của Trung và những
đứa trẻ khác trong nhà đều do Hương xúi giục; vì vậy
Trung dự định trừng trị Hương để trừ tận gốc mọi
rắc rối và đồng thời răn đe những đứa trẻ khác.
Một hôm vừa đi làm về thì Trung
được báo cáo là Lan và Lô (em trai Hương) đánh nhau với
trẻ con hàng xóm bị người ta sang mắng vốn. Lập tức Trung
cho gọi hai người em họ là Hoàng và Viễn, là hai thanh niên
mới di cư vào nam để chuẩn bị trừng phạt Hương theo kiểu
tòa án nhân dân của các ?đỉnh cao trí tuệ?. Sau đó Hương
được gọi tới để xét xử. Trung bắt Hương nằm trên phản,
ra lệnh cho Hoàng và Viễn người giữ chặt hai tay, kẻ giữ
chặt hai chân Hương để cho đứa bé mười một tuổi không
nhúc nhích được. Hương chẳng biết chuyện gì xảy ra, thấy
anh cả kêu ra trị tội nên kêu oan:
- Em đâu có biết chuyện gì xẩy
ra đâu?
- Mày phải chịu trách nhiệm bất
cứ việc gì con Lan và thằng Lô làm, Trung ban phán luật rừng!
- Chúng nó làm gì làm sao em biết
được!
Vút, vút, những roi đòn thù như
xả được đôi chút sự bực bội của Trung!
Tiếng khóc thét vì đau đớn của
đứa trẻ không nới lỏng được bàn tay của hai thanh niên
Hoàng và Viễn!
Vút, vút, những roi đòn thù lại
quất xuống trên thân thể gầy còm nhỏ bé của Hương!
- Mày chừa cãi chưa, hễ con Lan
và thằng Lô làm lỗi thì mày phải đòn, mày chịu chưa hay
còn cãi.
Trước luật lệ man rợ của Trung,
Hương quá uất hận:
- Anh muốn giết em thì cứ giết
đi
- A này thì cãi...
Vút, vút, vút...
Những tiếng khóc thét lên vì
đau đớn, vì oan ức.
Quá đau đớn và uất ức, Hương
lịm dần. Có người thấy đứa trẻ bị đánh đập tàn bạo
quá nên báo với mẹ Hương. Thấy mẹ tới, Hương kêu lên
trong tiếng khóc:
- Mẹ ơi, con chết mất.
Gạt mọi người ra, mẹ dẫn Hương
ra khỏi phòng ?tra tấn!?.
Hương cảm thấy chỉ có mẹ là
người duy nhất bảo vệ mình. Cha Hương thì bất đắc chí
trở nên cực kỳ gàn dở, bảo thủ, khư khư ôm mối hận
đời, không những không làm tròn phận sự người cha để
lo cơm ăn áo mặc cho trẻ thơ mà còn vô tình hành tội con
vì những tư tưởng sai lầm lạc hậu của mình.
Theo đúng kỷ luật của cha, Hương
không bao giờ được rảnh rỗi, lúc nào cũng phải ngồi học.
Nếu không có bài vở của trường thì phải học thuộc lòng
một đoạn Kiều hoặc Chinh Phụ Ngâm. Hương tuy thông minh
nhưng trí nhớ kém nên vấn đề học thuộc lòng, học kiểu
nhồi sọ là điều Hương rất ghét. Học xong Hương đưa sách
cho cha để trả bài, không thuộc lại phải ngồi vào bàn
học. Hương nghĩ cách thoát sự kềm kẹp, nhồi sọ ngày đêm
bằng cách đọc chữ ngược mỗi khi trả bài; sau khi để
sách trước mặt cha để xin trả bài, Hương liếc nhìn vài
hàng đầu rồi quay đi nơi khác làm bộ suy nghĩ rồi đọc,
rồi lại liếc nhìn chữ ngược, rồi lại quay đi chỗ khác
cho đến hết bài. Nhưng trong cái may nào chả có cái rủi,
vì quen đọc ngược, có lần chưa thuộc bài vở ở trường
mà lại tưởng mình thuộc rồi nên khi đi học Hương bị
phạt vì không thuộc bài.
Có lần tết trung thu, Hương chẳng
có lồng đèn để xách chơi như tất cả mọi trẻ con hàng
xóm, nhưng cũng xoay xở kiếm được cây nến nhỏ đốt chơi
cho đỡ buồn. Cha Hương trông thấy bắt ngồi vào bàn học!
Hàng năm chỉ có ngày mồng một
tết là Hương được nghỉ, được đi xem ciné, sang đến
mồng hai là lại bị bắt ngồi vào bàn học. Nhưng là một
đứa trẻ thông minh nên dù ở hoàn cảnh khốn nạn đến
đâu, Hương vẫn tìm cách hưởng thụ cuộc đời mình. Theo
lệnh của cha, cứ mỗi giờ học thì được nghỉ mười lăm
phút. Ngồi được mười phút thì Hương tìm cách vặn đồng
hồ (để trên bàn) nhanh thêm mười lăm phút để chóng đến
giờ nghỉ, khi đến giờ nghỉ thì vặn lui lại mười lăm
phút để được nghỉ tới nửa giờ!
Có lần Vân, cô em họ của Hương
tới chơi, thấy tấm hình chụp mấy đứa con của Trung, Vân
hỏi:
- Hình này là hình ai đó anh Hương.
- Ma đó, Hương nói giỡn
Hương không hiểu tại sao chuyện
đó đến tai cha Hương, thế là Hương bị chửi cả mấy tháng
là đồ ăn mày, đồ ăn cháo đái bát, đồ khốn nạn dám
nói hình của mấy cháu là hình ma!!
Có lần năm bẩy đứa trẻ đùa
giỡn với nhau, Vân nắm tay để ngón cái ở giữa ngón trỏ
và ngón giữa để khi đấm móng tay của ngón cái làm đau
người khác hơn. Lan bắt chước và hôm sau biểu diễn cho
mẹ (Loan) xem. Loan hầm hầm đi tìm Hương và dáng một cái
tát nẩy lửa, Hương đau đớn không biết tại sao, chỉ biết
rấm rức khóc. Ít lâu sau, Hương mới hiểu là có lẽ Loan
nghĩ kiểu nắm đấm đó tượng trưng cho cảnh làm tình và
chuyện tầy trời này chắc do Hương, đứa trẻ mười một
tuổi chủ mưu.
Hương lớn lên trong hoàn cảnh
không chết được thì phải sống! thân phận trẻ thơ mà
đã mang danh ăn bám, ăn mày và được đối xử như những
tội phạm nguy hiểm cho nhân loại! Hương thấy mình được
dậy dỗ nào là trung nào là hiếu, nào là phải kính cha kính
mẹ, kính thầy, rồi vì cha mẹ ăn bám vào gia đình anh nên
?cái đạo lý thánh hiền? của hủ nho lại được ngụy biện
để đổi thành: kính cha kính mẹ thì phải kính chị dâu!!!
Hương chỉ thấy một trăm cái phải làm, một ngàn bổn phận
phải lo v.v.. mà chả có tý quyền hạn nào cả, kể cả quyền
sống của một sinh vật!!!, còn chuyện nhân quyền đối với
Hương chắc xa xôi hơn là những loại thiên đường hay cực
lạc của các tôn giáo!!!
Nếu đảng cộng sản mà phát
hiện được Hương để giáo dục căm thù, để kích động
Hương: ?không còn gì để mất, có mất chăng là mất những
xiềng xích nô lệ?, với trí thông minh sẵn có, với những
kinh nghiệm khốn khổ, khốn nạn, biết đâu Hương chẳng
biến đổi từ nạn nhân thành tội nhân, giết người không
biết xót thương!!!
Phó Thường Dân
Tháng chín 2001
|