Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT

 

 Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Trẻ thơ giữa hai lằn đạn

 Hương đầu thai vào một gia đình giầu có, sinh ra khoảng cuối thế chiến thứ hai, bên trong một lũy tre làng ở miền bắc Việt Nam. 

 Thế chiến thứ hai chấm dứt, nhân dân cả nước Việt Nam phấn khởi giành lại độc lập từ tay Nhật Bản. Với chiêu bài giành độc lập cho dân tộc để được sự ủng hộ của nhân dân, đảng cộng sản đã cướp được chính quyền để chuẩn bị nền chuyên chính vô sản, để xóa bỏ mọi thành phần xã hội không phù hợp với xã hội trong trí tưởng tượng của họ. Vừa chập chững biết đi, Hương không biết rằng mình đã là kẻ thù của giai cấp vô sản đang nắm chính quyền. 

 Quân đội Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam, thanh niên cả nước sôi sục tinh thần kháng chiến. Trung, anh cả của Hương, tham gia trung đoàn bảo vệ thủ đô. Trong cuộc giao tranh với quân đội Pháp, Trung bị thương, bị đồng đội bỏ rơi vì thuộc thành phần địa chủ. Trung bị mất liên lạc với gia đình nhưng may mắn gặp được một bác sĩ ở Hà Nội chữa lành vết thương. Mấy năm sau Trung tham gia quân đội của cựu hoàng Bảo Ðại. 

 Sau khi chiếm xong Hà Nội quân Pháp tiến chiếm các tỉnh miền bắc Việt Nam. Người dân Việt thuộc giai cấp trung lưu hoặc khá giả bị rơi vào tình thế lưỡng nan, một bên là quân Pháp xâm lăng, một bên là chủ nghĩa cộng sản bắt đầu ló dạng, chạy về phía Pháp thì tự ái dân tộc bị thương tổn, ở lại phía cộng sản thì bị xếp loại kẻ thù của giai cấp vô sản và tương lai cực kỳ
 đen tối: không những bản thân có thể bị thủ tiêu bất cứ lúc nào mà đời con, đời cháu cũng bị kỳ thị, đầy ải! 

 Có tin quân đội Pháp tiến về làng, Việt cộng ra lệnh tiêu thổ kháng chiến, mọi người dân phải tản cư khỏi làng, ai ở lại bị coi như là theo giặc Pháp, có thể bị thủ tiêu. Gia đình Hương đứng trước tình thế lưỡng nan, ở lại thì cũng án tử hình, tản cư thì cũng án tử hình! 

 Trước cảnh tiến thối lưỡng nan, gia đình Hương chia làm hai nhóm để may ra một nhóm thoát có thể cứu nhóm còn lại trong tương lai. Lam, chú của Hương là người đã từng được đi du học ở Pháp, rất sợ bị Việt cộng thủ tiêu vì không những là địa chủ lại còn bị nghi ngờ hợp tác với Pháp, tính chuyện ở lại để tìm cách về Hà Nội. Cha mẹ Hương đem tất cả gia nhân và một số con đi di tản, để lại vợ chồng Trí, Dũng và Hương. Trí là anh của Hương, hơn Hương chừng một giáp; Dũng là em Trí, hơn Hương hai tuổi. Sau khi nhóm của cha mẹ Hương đi rồi, năm người ở lại: Lam, hai vợ chồng Trí, Dũng và Hương rút lên trên lầu, đóng cửa sắt lại để tử thủ với các vũ khí thô sơ như kiếm, chai đựng đầy nước. 

 Sáng sớm hôm sau, xa xa có tiếng súng của đoàn quân Pháp viễn chinh, Lam hồi hộp đợi chờ. Tiếng súng gần hơn, rồi lại xa dần, có lẽ đoàn quân đã đổi hướng hành quân sang vùng khác, Lam bắt đầu lo âu, sợ hãi. Trên lầu nhà Hương có để dành rất nhiều rượu và củ đậu, Lam hồi hộp sợ Việt cộng đi kiểm soát từng nhà xem có ai chưa đi di tản để thanh toán, uống rượu liên tục để bớt sợ. Dũng và Hương là hai đứa trẻ chẳng hiểu tình thế nhưng chỉ biết là mình đang đói khát. Vợ Trí gọt củ đậu cho anh em Dũng Hương ăn thay nước uống. Bị nhốt trên lầu đã lâu, vừa đói bụng, vừa khát nước nên Dũng khóc. Vợ Trí tìm mọi cách để dỗ dành Dũng thôi khóc. Hương tuy đói khát nhưng chỉ tò mò tìm hiểu vẻ mặt trầm trọng của người lớn. Có tiếng Việt cộng gọi nhau ơi ới để đi kiểm soát từng nhà. Lam càng sợ hãi, bỗng nhiên Dũng lại lè nhè khóc tiếp. Lam sợ quá, hóa điên, rút kiếm đe dọa Dũng: 

 - Im ngay không tao giết, 

 - Cháu lạy chú, cháu lạy chú, vợ Trí hốt hoảng kêu lên, chú đừng giết em Dũng; em mà chết thì cháu không còn mặt mũi nào nhìn lại mẹ cháu, cháu lạy chú trăm lạy, nghìn lạy!!! 

 Dũng thấy vợ Trí quỳ lạy như tế sao nên đâm sợ, không dám khóc thành tiếng nữa, chỉ còn thút thít nấc nấc nho nhỏ mà thôi. 

 Hương còn nhỏ, không hiểu tại sao Dũng lại bị đe dọa, chỉ biết im lặng cúi đầu chịu đựng. 

 Ðến gần tối thì có tiếng gọi ở dưới sân vọng lên lầu: 

 - Cậu Trí ơi, mở cửa, bà về rồi. 

 - Suỵt, không ai được trả lời, Lam ra lệnh. 

 - Thưa chú đúng giọng thằng Tiến, Trí trả lời. Tiến là người giúp việc trong gia đình. 

 - Không được trả lời, Lam cương quyết nói. 

 - Cậu Trí ơi, mở cửa, bà đang chờ, Tiến gọi tiếp. 

 - Trí ơi, mở cửa cho mẹ mau, chắc các em đói lắm rồi, mẹ Trí lên tiếng. 

 - Dạ, con xuống ngay, Trí mừng rỡ trả lời mẹ rồi đi lấy chìa khóa. 

 Lam vẫn còn sợ nhưng không ngăn cản vợ chồng Trí mở cửa sắt dẫn Dũng và Hương đi xuống. 

 - Tiến, mày đi nấu cháo cho các em ăn, đói quá ăn cơm ngay có khi bị trúng thực, mẹ Trí vừa đi vào nhà vừa nói. 

 Dũng và Hương vừa thoát nạn, nhưng vì còn nhỏ tuổi nên cũng chẳng hiểu nhiều, chỉ mong được ăn ngay mà thôi. 

 Cuộc chiến càng ngày càng lan rộng, làng của Hương thuộc vùng xôi đậu, nay thì Việt cộng kiểm soát, mai lại Tây kiểm soát. Mới hơn sáu tuổi mà Hương đã nhiều lần chạy loạn. Hương rất hãnh diện vì được khen chạy loạn giỏi, không khóc nhè, không cần người cõng. 

 Ngày giỗ ông nội, nhà Hương rất đông bà con đến tham dự. Bỗng nhiên nghe tiếng máy bay, rồi tiếng súng đạn vang dội. Mọi người cuống quýt tìm chỗ ẩn nấp. Mẹ Hương kéo con chui vội xuống gầm chiếc gụ dầy gần hai tấc. Nằm dưới gụ, Hương nghe tiếng máy bay gầm thét, tiếng đạn réo, tiếng bà con rú lên vì sợ hãi! 

 Một lát sau tiếng máy bay xa dần, mọi người lần lượt chui ra khỏi chỗ trú ẩn, vội vã đi tìm nhau xem ai còn ai mất. Giống như một phép lạ, tất cả bà con của Hương không ai bị thương cả, một viên đạn xuyên qua được bức tường đá dầy của nhà Hương đến sát mông em của Hương thì dừng lại; một trái bom rớt cạnh nhà không nổ; vết đạn khắp nơi quanh nhà Hương. Mọi người tin tưởng được ông bà tổ tiên phù hộ nên bốn chiếc máy bay oanh tạc mà không có ai bị thương. Về sau gia đình Hương mới được biết là vì máy bay thám thính thấy đông người tụ tập tại nhà Hương, tưởng lầm là Việt cộng nên gọi oanh tạc cơ đến giội bom. 

 Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, nhưng còn thơ ấu, Hương vẫn sống vô tư. Từ trưa ba mươi tết, anh em Dũng, Hương đã rộn ràng chuẩn bị sáng ngày mồng một sẽ chơi đá banh với bà con. Ðến tối, mẹ Hương giục con đi ngủ sớm để sáng mai dậy sớm đón xuân sang. 

 Tiếng súng đạn ầm vang, chát chúa, dìm quê hương nhỏ bé của Hương vào biển lửa. Trời chưa rạng sáng mọi người tay xách tay mang vội vàng lên đường chạy loạn. Hương còn đang tiếc chưa được ăn tết đã phải chạy loạn. Ðang đi trên đường đê, Hương thấy ai đẩy mình té xuống ruộng, một viên đạn bay vụt qua đầu Hương. Hương chưa kịp thắc mắc thì Tiến bồng Hương lên, vừa chạy vừa tránh né những viên đạn từ hướng đồn Pháp bắn xối xả vào đám dân đang làm bia đỡ đạn cho bộ đội Việt cộng ở phía sau! 

 Ra khỏi tầm đạn, gia đình Hương đi về hướng Nam Ðồng, ở đó có gia đình nhà chồng của Liễu, chị của Hương. Ðến lúc trời sáng rõ thì gia đình Hương đến nhà Chuộng, một tá điền của cha Hương. Mọi người đang ăn tết, trẻ con thì vui mừng nhận tiền mừng tuổi, riêng Hương thì bắt đầu một cái tết tha hương. Ðến trưa, chưa kịp ăn cơm thì có tiếng máy bay, mọi người cuống quýt chạy trốn. Nhà Chuộng không có gụ để chui xuống gầm tránh đạn, Hương ngồi trên chiếc giường nhỏ với gia đình, lấy tấm chăn mỏng che cho đỡ sợ, chứ ai cũng biết rằng chăn mỏng thì làm sao ngăn được những viên đạn vô tình oan nghiệt. Mọi người chỉ còn biết rầm rì cầu nguyện. Cũng may, máy bay chỉ bắn xuống chừng vài phút rồi bỏ đi và không có ai bị trúng đạn. 

 Gia đình Hương bắt đầu cuộc sống tỵ nạn ở gia đình nhà chồng của Liễu được ít lâu thì quân đội Pháp lại tràn về càn quét khu vực này. Lại nghe tiếng súng nổ, lại nghe tiếng kêu thét thất thanh. Tất cả đàn bà con nít được tập trung lại để khám xét. Tất cả thanh niên, đàn ông bị càn đem lên tầu. 

 Một tên lính Pháp thấy Trí ăn mặc bảnh bao, bèn xét ví, không thấy có tiền, bèn bóp cò súng! Số của Trí chưa chết nên súng không nổ! Sau đó Trí bị dẫn giải lên tầu cùng với các thanh niên khác. Tiến, thanh niên giúp việc nhà Hương có khuôn mặt hồng hào, lại để tóc dài nên bọn lính Pháp tưởng là con gái, đè Tiến xuống để hiếp. Sau khi phát giác là con trai, bọn lính đánh Tiến mấy báng súng rồi bắt lên tầu. 

 Hương không biết là anh trai, anh rể của mình đã bị quân đội Pháp bắt đi. Sau khi lính Pháp rút đi, Hương thấy mọi người chạy ra lũy tre quanh nhà. Tò mò, Hương cũng chạy ra, nhìn thấy một thanh niên bị bắn xuyên từ tai ra mắt, nằm chết trên bờ ruộng. Quá hãi hùng, Hương cuống quýt chạy vô nhà. 

 Ðêm ấy, Hương nằm ngủ cạnh mẹ, hình ảnh người chết máu me loang lổ mà Hương nhìn thấy hồi chiều còn ám ảnh Hương. Vừa sợ, vừa không ngủ được, Hương nằm sát vào người mẹ. 

 - Nằm lui ra, nóng quá, mẹ Hương gắt gỏng. 

 Hương vừa sợ vừa đau đớn, không hiểu vì sao mẹ lại quá lạnh lùng với mình. Hương không biết rằng mẹ đang lo không biết tính mạng của con trai, con rể ra sao! 

 Hương không ngủ được vì không thể nào quên được hình ảnh hãi hùng, đẫm máu của người thanh niên bị giết hồi chiều. Trí óc thơ dại của Hương đã in hằn dấu vết bạo tàn của chiến tranh. 

 Quê hương thứ nhất của Hương đã rơi vào vòng kiểm soát của Việt cộng, ở đó những gia đình thuộc thành phần địa chủ như gia đình Hương không có đất sống. Cha Hương đã đi lên thị trấn Thái Bình từ mấy tháng trước, Trung, anh cả của Hương lúc đó làm việc tại Sàigòn, Trí, người anh kế thì đã bị tây càn đi, không biết sống chết ra sao, gia đình Hương chỉ còn lại đàn bà và con nít. Không còn hy vọng trở về nơi chôn rau cắt rốn, mẹ Hương phải gạt nước mắt, ra đi vĩnh biệt quê hương! Những người còn lại của gia đình Hương lại phải chia làm hai nhóm, hai em của Hương ở lại nhà Liễu; mẹ Hương, vợ Trí dẫn Dũng và Hương đi bộ mấy chục cây số lên thị trấn Thái Bình. Sống tại thị trấn Thái Bình được ít ngày thì cha mẹ Hương dẫn hai anh em Dũng Hương lên Hà Nội rồi vô Sàigòn sống với gia đình Trung. Vợ Trí ở lại thị trấn Thái Bình chờ tin chồng. 

 Vĩnh biệt quê hương thứ nhất lúc mới 8 tuổi nên Hương cũng chưa có những xót xa của những người phải vĩnh biệt quê hương. Sàigòn đối với đứa trẻ miền quê như Hương thì đồ sộ quá, văn minh quá, cái gì cũng lớn lao, lạ lùng đối với Hương. Nhưng đối với cha Hương thì sự vĩnh biệt quê hương, sự mất mát tất cả tài sản ruộng nương, tất cả mồ mả ông cha, sự chia ly với những người con còn kẹt lại v....v... vượt quá sức chịu đựng của cha Hương, biến ông ta thành một người khác hẳn bản chất của mình, trở thành cực kỳ gàn dở, bảo thủ, khư khư ôm mối hận đời. 

 Là một đứa trẻ có bản chất thông minh, lanh lẹ; nhưng mới có tám tuổi, lại chỉ được đi học ở trường khoảng chừng vài tháng (vì chiến tranh, vì hoàn cảnh chạy loạn), nên Hương không hiểu được hoàn cảnh của mình, cha mẹ không còn khả năng tài chính để nuôi mình nữa, tất cả phải sống ăn bám vào đồng lương duy nhất của Trung. Nhưng Hương biết rõ rằng cuộc sống vật chất của mình vô cùng thiếu thốn, thiếu tất cả những phương tiện tối thiểu. 

 Nếu cuộc sống vật chất của Hương là cuộc sống của đứa trẻ nghèo nhất lớp thì cuộc sống tinh thần của Hương lại còn nghèo nàn hơn nhiều. 

 Vì khư khư ôm mối hận đời, cha Hương không những trở thành một người ăn bám mà còn là người vô tình hành hạ cuộc sống tinh thần của Hương. 

 Vì quá gàn dở và bảo thủ, cha Hương cấm đoán con cả những món ăn tinh thần tối thiểu của con người, cấm đọc báo, cấm nghe radio!! Có lẽ tư tưởng cổ hủ của cha Hương không còn phù hợp với đến những quan điểm mới mà báo chí và radio đề cập tới hàng ngày, nên coi những quan điểm đó như những thứ có thể đầu độc con mình!! Vừa thoát khỏi hai lằn đạn của chiến tranh ở miền bắc Việt Nam, Hương đã rơi ngay vào hai lằn đạn mới: sự nghèo nàn cùng cực về vật chất và sự cưỡng bách giáo dục tinh thần sặc mùi hủ nho, nhân danh đạo đức thánh hiền!! 

 Mỗi khi mượn được một cuốn truyện để đọc, Hương cảm thấy say sưa thích thú. Mỗi khi nghe được tiếng ca hát, ngâm thơ vang lên từ radio hàng xóm, Hương cảm thấy tỉnh hẳn người ra. Có những buổi chiều rảnh rỗi, Hương tìm nhà hàng xóm nào có vặn radio to để đứng gần đó thưởng thức đôi chút những sản phẩm văn hóa. Dù là trẻ thơ chưa biết gì về ?đạo đức thánh hiền?, nhưng Hương hiểu rất rõ là những gì mình bị cấm đoán là hoàn toàn sai trái, nếu thánh hiền cũng làm vậy tức là thánh hiền sai trái, bóp chết sự phát triển thiên nhiên của trẻ thơ không thể là chuyện đúng được! 

 Có lần cha Hương đem tiết tháo hủ nho để áp dụng cho trẻ thơ vô tội. Muốn làm nhẹ gánh nặng ăn bám vào Trung, cha Hương ra lệnh cả gia đình chỉ ăn cơm với muối. Mẹ Hương là con người thực tế, không chấp nhận sự dại dột đó nên đề nghị giải pháp khác: 

 - Muốn ăn cơm với muối thì tôi sắp cho ông ăn một mình, cả nhà ăn mâm riêng, có rau ăn rau, có cá ăn cá, tôi xoay xở được gì thì ăn nấy. 

 - Tôi sẽ ăn riêng, cha Hương cương quyết. 

 Cái tiết tháo của ông hủ nho chưa được một tuần xem chừng đã tan ra mây khói, cha Hương ngắc ngoải nhai cơm với muối, ai thấy cũng tội nghiệp. Mẹ Hương thấy cũng động lòng, bắt Hương mời bố ăn chung! 

 Vì nghèo nàn nên tuổi trẻ của Hương chỉ có mỗi một trò chơi là cờ tướng. Chưa được tám tuổi, Hương đã thắng cờ ông anh rể lớn hơn Hương khoảng hai chục tuổi. Lúc hơn tám tuổi thì Hương đã đánh cờ thắng cha Hương, và từ đó ông không chơi cờ với Hương nữa. Trung, người anh cả, rất thích đánh cờ với Hương, vì Trung thắng nhiều nhưng muốn thắng cũng khá vất vả. Khi Hương được mười một tuổi thì đánh cờ thắng Trung, và kể từ đó không bao giờ Trung rủ Hương đánh cờ nữa! 

 Trong cái phúc nào mà không ẩn tàng cái họa? Vì chơi cờ tướng giỏi nên không ai chịu chơi cờ với Hương nữa, và biết đâu chẳng bị mọi người mất cảm tình. Vì khá thông minh nên hay thắc mắc đặt những câu hỏi khó trả lời ; do đó Hương bị các anh chị ghét ngầm, các bà hễ ngồi với nhau là nói xấu Hương. Lúc đó là vào lúc đất nước chia đôi, bà con ở ngoài bắc chạy vào nam tỵ nạn ở nhà Hương rất đông, các bà chị dâu, chị họ thường ngồi tán gẫu nói chuyện, rồi các bà tưởng tượng ra là Hương là thủ phạm của tất cả các tội lỗi của những đứa con nít khác trong nhà! thật đúng là: 

 - Chữ tài liền với chữ tai một vần (trích Kiều). 

 Trung đã sẵn không có nhiều cảm tình với Hương, lại bị vợ là Loan gièm pha, than thở ngày đêm là tất cả tội lỗi của Lan, con cả của Trung và những đứa trẻ khác trong nhà đều do Hương xúi giục; vì vậy Trung dự định trừng trị Hương để trừ tận gốc mọi rắc rối và đồng thời răn đe những đứa trẻ khác.

 Một hôm vừa đi làm về thì Trung được báo cáo là Lan và Lô (em trai Hương) đánh nhau với trẻ con hàng xóm bị người ta sang mắng vốn. Lập tức Trung cho gọi hai người em họ là Hoàng và Viễn, là hai thanh niên mới di cư vào nam để chuẩn bị trừng phạt Hương theo kiểu tòa án nhân dân của các ?đỉnh cao trí tuệ?. Sau đó Hương được gọi tới để xét xử. Trung bắt Hương nằm trên phản, ra lệnh cho Hoàng và Viễn người giữ chặt hai tay, kẻ giữ chặt hai chân Hương để cho đứa bé mười một tuổi không nhúc nhích được. Hương chẳng biết chuyện gì xảy ra, thấy anh cả kêu ra trị tội nên kêu oan: 

 - Em đâu có biết chuyện gì xẩy ra đâu? 

 - Mày phải chịu trách nhiệm bất cứ việc gì con Lan và thằng Lô làm, Trung ban phán luật rừng! 

 - Chúng nó làm gì làm sao em biết được! 

 Vút, vút, những roi đòn thù như xả được đôi chút sự bực bội của Trung! 

 Tiếng khóc thét vì đau đớn của đứa trẻ không nới lỏng được bàn tay của hai thanh niên Hoàng và Viễn! 

 Vút, vút, những roi đòn thù lại quất xuống trên thân thể gầy còm nhỏ bé của Hương! 

 - Mày chừa cãi chưa, hễ con Lan và thằng Lô làm lỗi thì mày phải đòn, mày chịu chưa hay còn cãi. 

 Trước luật lệ man rợ của Trung, Hương quá uất hận: 

 - Anh muốn giết em thì cứ giết đi 

 - A này thì cãi... 

 Vút, vút, vút... 

 Những tiếng khóc thét lên vì đau đớn, vì oan ức. 

 Quá đau đớn và uất ức, Hương lịm dần. Có người thấy đứa trẻ bị đánh đập tàn bạo quá nên báo với mẹ Hương. Thấy mẹ tới, Hương kêu lên trong tiếng khóc: 

 - Mẹ ơi, con chết mất. 

 Gạt mọi người ra, mẹ dẫn Hương ra khỏi phòng ?tra tấn!?. 

 Hương cảm thấy chỉ có mẹ là người duy nhất bảo vệ mình. Cha Hương thì bất đắc chí trở nên cực kỳ gàn dở, bảo thủ, khư khư ôm mối hận đời, không những không làm tròn phận sự người cha để lo cơm ăn áo mặc cho trẻ thơ mà còn vô tình hành tội con vì những tư tưởng sai lầm lạc hậu của mình. 

 Theo đúng kỷ luật của cha, Hương không bao giờ được rảnh rỗi, lúc nào cũng phải ngồi học. Nếu không có bài vở của trường thì phải học thuộc lòng một đoạn Kiều hoặc Chinh Phụ Ngâm. Hương tuy thông minh nhưng trí nhớ kém nên vấn đề học thuộc lòng, học kiểu nhồi sọ là điều Hương rất ghét. Học xong Hương đưa sách cho cha để trả bài, không thuộc lại phải ngồi vào bàn học. Hương nghĩ cách thoát sự kềm kẹp, nhồi sọ ngày đêm bằng cách đọc chữ ngược mỗi khi trả bài; sau khi để sách trước mặt cha để xin trả bài, Hương liếc nhìn vài hàng đầu rồi quay đi nơi khác làm bộ suy nghĩ rồi đọc, rồi lại liếc nhìn chữ ngược, rồi lại quay đi chỗ khác cho đến hết bài. Nhưng trong cái may nào chả có cái rủi, vì quen đọc ngược, có lần chưa thuộc bài vở ở trường mà lại tưởng mình thuộc rồi nên khi đi học Hương bị phạt vì không thuộc bài. 

 Có lần tết trung thu, Hương chẳng có lồng đèn để xách chơi như tất cả mọi trẻ con hàng xóm, nhưng cũng xoay xở kiếm được cây nến nhỏ đốt chơi cho đỡ buồn. Cha Hương trông thấy bắt ngồi vào bàn học! 

 Hàng năm chỉ có ngày mồng một tết là Hương được nghỉ, được đi xem ciné, sang đến mồng hai là lại bị bắt ngồi vào bàn học. Nhưng là một đứa trẻ thông minh nên dù ở hoàn cảnh khốn nạn đến đâu, Hương vẫn tìm cách hưởng thụ cuộc đời mình. Theo lệnh của cha, cứ mỗi giờ học thì được nghỉ mười lăm phút. Ngồi được mười phút thì Hương tìm cách vặn đồng hồ (để trên bàn) nhanh thêm mười lăm phút để chóng đến giờ nghỉ, khi đến giờ nghỉ thì vặn lui lại mười lăm phút để được nghỉ tới nửa giờ! 

 Có lần Vân, cô em họ của Hương tới chơi, thấy tấm hình chụp mấy đứa con của Trung, Vân hỏi: 

 - Hình này là hình ai đó anh Hương. 

 - Ma đó, Hương nói giỡn 

 Hương không hiểu tại sao chuyện đó đến tai cha Hương, thế là Hương bị chửi cả mấy tháng là đồ ăn mày, đồ ăn cháo đái bát, đồ khốn nạn dám nói hình của mấy cháu là hình ma!! 

 Có lần năm bẩy đứa trẻ đùa giỡn với nhau, Vân nắm tay để ngón cái ở giữa ngón trỏ và ngón giữa để khi đấm móng tay của ngón cái làm đau người khác hơn. Lan bắt chước và hôm sau biểu diễn cho mẹ (Loan) xem. Loan hầm hầm đi tìm Hương và dáng một cái tát nẩy lửa, Hương đau đớn không biết tại sao, chỉ biết rấm rức khóc. Ít lâu sau, Hương mới hiểu là có lẽ Loan nghĩ kiểu nắm đấm đó tượng trưng cho cảnh làm tình và chuyện tầy trời này chắc do Hương, đứa trẻ mười một tuổi chủ mưu. 

 Hương lớn lên trong hoàn cảnh không chết được thì phải sống! thân phận trẻ thơ mà đã mang danh ăn bám, ăn mày và được đối xử như những tội phạm nguy hiểm cho nhân loại! Hương thấy mình được dậy dỗ nào là trung nào là hiếu, nào là phải kính cha kính mẹ, kính thầy, rồi vì cha mẹ ăn bám vào gia đình anh nên ?cái đạo lý thánh hiền? của hủ nho lại được ngụy biện để đổi thành: kính cha kính mẹ thì phải kính chị dâu!!! Hương chỉ thấy một trăm cái phải làm, một ngàn bổn phận phải lo v.v.. mà chả có tý quyền hạn nào cả, kể cả quyền sống của một sinh vật!!!, còn chuyện nhân quyền đối với Hương chắc xa xôi hơn là những loại thiên đường hay cực lạc của các tôn giáo!!! 

 Nếu đảng cộng sản mà phát hiện được Hương để giáo dục căm thù, để kích động Hương: ?không còn gì để mất, có mất chăng là mất những xiềng xích nô lệ?, với trí thông minh sẵn có, với những kinh nghiệm khốn khổ, khốn nạn, biết đâu Hương chẳng biến đổi từ nạn nhân thành tội nhân, giết người không biết xót thương!!! 

Phó Thường Dân 
Tháng chín 2001 

 
Trang bìa
Ðầu trang