Tiếng
gọi của con tim
1. Lời nói
đầu.
Chúng ta thường
gặp những trường hợp
khó quyết định, một bên là
lý trí, một bên là tình cảm.
Khi tình cảm thắng thì người
ta thường nói là nghe theo tiếng
gọi của con tim. Từ ngày khoa học
tiến bộ, người ta có thể
dùng tim nhân tạo hay ghép tim, nhân
loại biết rằng con tim không giữ
vai trò gì trong tình cảm con người
nhưng trong mọi nền văn hoá, người
ta vẫn còn giữ thói quen là
con tim tượng trưng cho tình cảm con
người. Thói quen này chắc sẽ
còn tồn tại lâu vì mỗi khi
cảm xúc mạnh, nhịp tim đập nhanh
hơn nên bình thường người
ta vẫn có cảm giác là tình
cảm xuất phát từ con tim. Thực
ra trong bộ óc con người có hai
phần rõ rệt, phần lý trí và
phần cảm xúc. Người ta thường
cho rằng phần cảm xúc có tính
chất thiên nhiên vì đó là
phần tình cảm của con người;
và phần lý trí có tính cách
khoa học, do học hỏi luyện tập tạo
ra. Trên thực tế, nếu mọi hành
động của chúng ta chỉ dựa
trên lý trí thì không những
cuộc sống cá nhân khô khan thiếu
ý nghĩa mà ngay cả những thành
công ngoài đời sẽ bị
rất hạn chế và đôi khi cuộc
đời không còn hạnh phúc.
Nhưng phần lý trí thì ngoài
bản chất thiên phú thường
được trau dồi bằng học tập
và kinh nghiệm sống; trong khi đó
phần cảm xúc thường mang tính
cách vô thức nên ít được
chú trọng. Phải chăng chúng ta có
thể luyện tập phần cảm xúc để
bù đắp những thiếu sót
của phần lý trí?
2. Mệnh lệnh của
con tim.
Ai đã chẳng
từng hơn một lần nghe theo tiếng
gọi của con tim (phần cảm xúc của
não bộ). Phải chăng mệnh lệnh của
con tim đôi khi vượt qua khả năng
của lý trí?
Não bộ của
các động vật đã tiến
hoá từ hàng triệu năm từ
thấp lên cao. Não bộ nguyên thủy
điều hành mọi sự vận động
cần thiết cho sự sinh sống của
cơ thể, chẳng hạn như sự hô
hấp, sự tiêu hoá, sự chuyển
hoá của các bộ phận của cơ
thể, các phản ứng, phản xạ
v.v…Não bộ nguyên thủy có lẽ
không suy nghĩ và học hỏi được.
Do sự tiến hoá, trung tâm thần
kinh về cảm xúc (amygdala) được
tạo ra từ não bộ nguyên thủy.
Hàng triệu năm sau, trung tâm thần
kinh về lý trí (neocortex) được
tạo ra từ trung tâm cảm xúc. Nói
một cách khác, phần cảm xúc
hiện hữu trước phần lý
trí từ rất lâu trong quá trình
tiến hoá của não bộ. Phần
lý trí của não bộ loài người
tiến hoá vượt xa phần lý
trí của mọi loài động vật.
Những khám phá mới của
nhà nghiên cứu về các tế
bào thần kinh Joseph Ledoux đã chứng
minh rằng phần cảm xúc của não
bộ có thể làm cho chúng ta hành
động trước khi phần lý
trí của não bộ quyết định
lưạ chọn hành động thích ứng
trước các sự hiện tượng
thiên nhiên và xã hội chung quanh.
Nhiều khi chúng
ta hối tiếc đã có những
hành động thiếu bình tĩnh, những
hành động dại dột thiếu suy nghĩ.
Khám phá của Ledoux cho chúng ta thấy
chẳng qua đó là vì phản ứng
mau lẹ của phần cảm xúc của
não bộ, hay nói một cách khác,
chẳng qua vì mệnh lệnh của con tim. Phần
cảm xúc của não bộ đã
được tiến hoá hàng triệu
năm trước phần lý trí
của não bộ; nó đã giúp
cho loài người mưu sinh thoát hiểm
hàng triệu năm qua; nó tạo ra những
cảm xúc; những hành động
mang tính cách phản xạ để tự
vệ v.v… Người ta đã thí
nghiệm bằng cách cắt phần cảm
xúc của não bộ của thú vật
và quan sát thấy những thú
vật đó không còn biết sợ
hãi, giận dữ nữa.
Nhờ những
kỹ thuật tân tiến, người
ta đã có thể quan sát những
gì xẩy ra trong cơ thể và não
bộ của con người, người
ta có thể hiểu rõ hơn tác dụng
của mỗi loại cảm xúc trên cơ
thể để chuẩn bị một loại
phản ứng khác biệt:
- Cảm xúc "giận
hờn" làm máu chảy mạnh về
bàn tay, giúp cho đương sự
có thể tấn công kẻ thù và
cơ thể tiết ra hormone mang lại năng
lực cần thiết cho một hành động
mãnh liệt.
- Cảm xúc "sợ"
điều động máu về các
bắp thịt để chuẩn bị chạy
trốn và làm mặt tái đi, đồng
thời thân thể tê liệt trong giây
lát, có lẽ để đương
sự có thì giờ để
quyết định có nên chạy trốn
hay không. Trung tâm cảm xúc của não
bộ tiết ra những hormone dồi dào
để đặt cơ thể trong tình
trạng báo động, sẵn sàng hành
động.
- Cảm xúc "buồn
bã" tạo ra sự giảm sút năng
lực và nếu ở tình trạng
nặng có thể làm chậm sự chuyển
hoá thiên nhiên trong cơ thể.
- v.v...
Những cảm giác
do ngũ quan thông báo cho não bộ được
truyền bằng đường tắt
cho phần cảm xúc (amygdala). Phần này
làm cho chúng ta có phản ứng
tức thời, trong khi phần lý
trí (neocortex) được thông báo
chậm hơn nhưng đầy đủ hơn,
vạch định chương trình phản
ứng chi tiết hơn.
Trước những
khó khăn muôn vàn trong cuộc sống,
nhiều khi phần lý trí hoàn toàn
bị tê liệt, và con người
phải rơi vào cảnh:
Cũng liều
nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo
xoay vần đến đâu
(trích Kiều)
thì phần cảm
xúc (amygdala) luôn luôn ra những "mệnh
lệnh của con tim" để bảo vệ cơ
thể.
3. Mâu thuẫn
giữa lý trí và con tim.
Trong cuộc sống,
nhiều người tìm cách giải
quyết công việc một cách hợp
tình hợp lý. Họ thường
cho rằng phải dùng lý trí sáng
suốt nhưng cũng phải nghe theo tiếng
gọi của con tim. Nhưng thực ra khi họ
cân nhắc, chọn lựa, chỉ có
phần lý trí trong não bộ làm
việc mà thôi, chứ phần con tim,
phần cảm xúc của não bộ đâu
có can thiệp gì vào quyết định
sau khi cân nhắc của họ.
Sau mỗi quyết định
dứt khoát hoặc táo bạo, người
trong cuộc có thể có những cảm
xúc tích cực hoặc tiêu cực.
Khi cường độ của những
cảm xúc này quá mãnh liệt,
đương sự có thể phải
thay đổi quyết định lúc trước,
và khi đó người ta thường
cho rằng con tim đã thắng lý trí.
Nhưng cũng có
nhiều người khi suy nghĩ để
giải quyết công việc lại bị cảm
xúc mãnh liệt chi phối cả quá
trình cân nhắc chọn lựa của
lý trí. Với những người
này mệnh lệnh của con tim luôn luôn
thắng thế.
Phần cảm xúc
của não bộ, sau khi đã tạo ra
những phản ứng tức thời
trước các sự kiện thiên
nhiên và xã hội chung quanh, lại tạo
ra những cảm xúc lâu dài, những
cảm xúc tích cực như yêu thương,
vồn vã, vui tươi, thoải mái,
tự tin, những cảm xúc tiêu
cực như thù hận, giận hờn,
buồn bã, lo âu, sợ hãi. Những
cảm xúc này lại thường
có ảnh hưởng lớn lao trên
thể chất của người trong cuộc
và có thể biến thành kim chỉ
nam cho phần lý trí cân nhắc suy
luận chọn lựa những giải pháp
để phản ứng lại các hiện
tượng thiên nhiên và xã
hội chung quanh.
Phần lý trí,
ngoài khả năng thiên bẩm, thường
được trau dồi qua học vấn,
kinh nghiệm. Sau khi thu thập những cảm
giác, những dữ liệu cần
thiết, phần lý trí cân nhắc,
suy luận để có những giải
pháp thích ứng với những
hiện tượng thiên nhiên và
xã hội chung quanh. Nhưng nhiều khi hoàn
cảnh quá khó khăn, vượt
ra ngoài khả năng suy luận của phần
lý trí, và đương sự
khi đó cảm thấy không thể quyết
định một giải pháp thích hợp
cho bản thân mình. Tình trạng đó
có thể tạo ra những cảm xúc
đặc biệt, có ảnh hưởng
trên tình trạng sức khoẻ tinh thần
và vật chất của đương sự.
Có người
cho rằng trong tình yêu không nên dùng
lý trí. Tình yêu, xuất phát
từ cảm xúc, hình như độc
lập với lý trí. Nhưng phần
lý trí lại chính là do sự
tiến hoá của phần cảm xúc
hàng triệu năm về trước.
Vì vậy phần lý trí có thể
giúp cho tình yêu trong sáng hơn, bền
vững hơn; dĩ nhiên phần lý
trí cũng có thể làm cho tình
yêu mất hết ý nghĩa vì những
toan tính ích kỷ. Tình yêu chỉ
dựa trên cảm xúc thường
biến thành tình yêu mù quáng,
người trong cuộc thường lẫn
lộn tình yêu với ý muốn
chiếm hữu, với lòng ích
kỷ, tình yêu đó thường
mang các đặc tính vướng
mắc và kỳ thị. Ngược lại
tình yêu chỉ dựa trên lý
trí thì lại chẳng còn là tình
yêu nữa.
Mâu thuẫn giữa
lý trí và con tim là chuyện thường
xuyên trong đời sống hàng ngày.
Những người thuộc phái duy
lý thì luôn luôn coi trọng vai trò
lý trí. Những người dễ
cảm xúc thì thường coi trọng
vấn đề tình cảm. Nhưng những
nhu cầu hàng ngày trong cuộc sống
luôn luôn thúc đẩy chúng ta
phải phối hợp cả lý trí
với tình cảm, và thường
tạo ra sự mâu thuẫn trong nội tâm
mỗi người. Chúng ta có thể
trau dồi phần lý trí bằng kinh nghiệm
và học tập, phải chăng chúng
ta cũng có thể trau dồi phần cảm
xúc để tránh những mâu
thuẫn trong nội tâm, để tăng
cường khả năng giải quyết
công việc của bản thân.
4. Trí năng của
phần cảm xúc.
Nhiều người
coi những cảm xúc như bản chất
thiên nhiên của mình, như những
gì bất di dịch. Những cảm xúc
này lại luôn luôn ảnh hưởng
trên sức khoẻ tinh thần và vật
chất của đương sự và
nhất là chi phối rất nhiều quá
trình suy nghĩ, cân nhắc của lý
trí. Vì vậy nhiều người
rất thông minh nhưng khi hành động
lại kém cỏi vì những cảm
xúc làm tiêu hao năng lực và
làm lệch hướng suy nghĩ.
Thực ra, ngoài
những bản chất thiên nhiên, những
cảm xúc còn mang nhiều tính chất
cá nhân của đương sự.
Cùng một hiện tượng thiên nhiên
như sóng biển, có người
thấy vui thấy đẹp, có người
lại thấy buồn. Với người
bi quan thì:
Cảnh nào
cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ
(trích Kiều)
Nhưng đối với
người lạc quan thì "Cảnh nào
chẳng có cái hay", trong bất cứ
hoàn cảnh nào , người lạc
quan cũng nhìn thấy được
những mặt tích cực của hoàn
cảnh đó, chẳng hạn như "thất
bại là mẹ thành công" v.v....
Có người
lại cho rằng cảm xúc là bản
chất thiên nhiên của mỗi cá
nhân, không thể thay đổi được.
Nhưng theo ngành tâm lý học ngày
nay thì phần cảm xúc cũng có
những trí năng đặc biệt có
thể tăng cường gấp bội khả
năng của mỗi người.
Theo chuyên viên
tâm lý Howard Gardner thì có năm loại
trí năng của phần cảm xúc của
não bộ:
a) Loại trí năng
đầu tiên là sự nhận thức
về những cảm xúc của bản
thân. Sự nhận thức này giúp
chúng ta hiểu rõ bản thân mình
và tăng cường khả năng
trực giác về tâm lý. Nếu
không có loại trí năng này,
chúng ta sẽ bị những cảm xúc
đưa đẩy đến những
hành động mù quáng, giống
như "ma đưa lối, quỷ đưa đường".
b) Khả năng "làm
chủ những cảm xúc" lệ thuộc
sự "nhận thức được
những cảm xúc" của bản thân
chúng ta. Khả năng hoà hợp vào
hoàn cảnh chung quanh tùy thuộc sự
nhận thức về cảm xúc bản
thân. Khả năng "làm chủ được
những cảm xúc" của bản thân
có thể giúp chúng ta tự giải
thoát khỏi những cảm xúc tiêu
cực như giận dữ, lo âu, buồn
bã cũng như những ảnh hưởng
xấu của những cảm xúc đó.
Khi chưa giải thoát được thì
lý trí của con người thường
xuyên phải đấu tranh với những
tình cảm đau đớn đó.
c) Khả năng tự
động viên. Muốn hoàn thành
một việc lớn, chúng ta thường
phải dời lại về sau sự thoả
mãn dục vọng cũng như kiềm chế
được hành động tức
thời do cảm xúc thúc đẩy.
Chỉ có ở trong tình trạng tâm
lý hoàn toàn sảng khoái con người
mới đạt được hiệu
năng cao nhất. Sau khi làm chủ được
cảm xúc của bản thân, khả năng
này giúp chúng ta có thể tập
trung tư tưởng để làm chủ
bản thân và tự động viên
để đạt tới tình trạng
hoàn toàn sảng khoái.
d) Khả năng cảm
nhận được nhu cầu và ước
vọng của người khác. Các
hiện tượng xã hội chung quanh thường
vô cùng phức tạp và vượt
ra ngoài tầm giải quyết của lý
trí. Nhưng nếu chúng ta cảm nhận
được nhu cầu và ước
vọng của người khác thì
khả năng giải quyết mọi sự
việc của chúng ta sẽ tăng lên
gấp bội. Nhận thức được
những cảm xúc của bản thân
mình và sống hoà hợp với
mọi người chung quanh có thể giúp
chúng ta tăng cường khả năng
cảm nhận đó.
e) Khả năng làm
chủ được các mối liên
hệ giữa người với người.
Khả năng này giúp chúng ta điều
hoà được cảm xúc của
bản thân, giữ được những
mối liên hệ tốt đối với
mọi người chung quanh. Những lãnh
tụ tài ba là những người
thật sự làm chủ được
các mối liên hệ giữa người
với người.
Các loại trí
năng của phần cảm xúc, của
"con tim" có tính chất năng lực
để thực hiện những điều
mình mong muốn, nên cũng giống như
phần "lý trí" của não bộ, nghĩa
là ngoài phần thiên bẩm thì
chúng ta có thể trau dồi bằng học
tập và kinh nghiệm.
5. Hoạt động
của phần lý trí của não bộ.
Phần lý trí
của não bộ của con người
sau khi nhận được các dữ
kiện do ngũ quan đem lại, điều
nghiên để tìm giải pháp thích
ứng đối phó với các
hiện tượng thiên nhiên và
xã hội xảy ra ở chung quanh và
sau đó mới ra mệnh lệnh cho cơ
thể hành động. Vì vậy nhiều
khi cơ thể của chúng ta đã hành
động trước khi có mệnh lệnh
của phần lý trí. Những hành
động này do mệnh lệnh của phần
cảm xúc hay tiếng gọi của con tim.
Nhưng các hiện
tượng thiên nhiên và xã
hội xảy ra ở chung quanh thì vô
cùng phức tạp và khả năng
của phần lý trí của não bộ
thì vô cùng giới hạn. Trước
những khó khăn, con người
thường đơn giản hoá các
mối liên hệ nhân quả của mọi
sự việc để có thể tìm
được giải pháp đối
phó. Các quy luật đơn giản hoá
này, được tạo ra vì những
nhu cầu trước mắt, được
phần lý trí xử dụng để
tính toán, điều nghiên. Tính
đơn giản của các quy luật này
nhiều khi trở thành những chuyện
mê tín dị đoan, nhưng trên phương
diện thực tế lại đem lại sự
ổn định của tâm hồn trước
những khó khăn trong cuộc sống.
Ngoài vấn đề
tính toán để có lợi hay
lý luận để tìm giải pháp
hợp lý, phần lý trí của
não bộ lại thường xét đoán
sự việc dựa trên những
niềm tin, cái gì phù hợp với
niềm tin của mình thì cho là đúng,
cái gì ngược với niềm
tin của mình thì cho là sai, không
cần phải suy luận, cân nhắc.
Phần lý trí
của não bộ của con người
còn có xu hướng giải thích
hoặc bóp méo các hiện tượng
thiên nhiên và xã hội để
các hiện tượng đó trở
thành bằng chứng cho niềm tin của
mình. Xu hướng này làm cho con
người có thể tự dối
mình để dối người, không
phải để lừa gạt ai mà chỉ
để bảo vệ niềm tin cố định
sẵn có trong tâm hồn.
Vì những lý
do nêu trên, nhiều khi lý trí con
người nhận định rằng mình
hoàn toàn đúng lại là những
lúc lý trí đó có thể
đưa đến những sai lầm trầm
trọng nhất.
6. Luyện tập để
tăng cường trí năng của
phần cảm xúc.
Sự hạn chế
của phần lý trí của não bộ
cộng với sự lãng quên những
trí năng của phần cảm xúc làm
cho chúng ta thường cảm thấy
những mâu thuẫn trong nội tâm
đứng trước sự khó
khăn của các hiện tượng thiên
nhiên và xã hội chung quanh.
Trí năng của
phần cảm xúc cũng giống như
các kỹ năng khác của chúng
ta, nếu bị lãng quên thì sẽ
suy giảm dần.
Trí năng thứ
nhất của phần cảm xúc là
sự "nhận thức được
những cảm xúc" của bản thân.
Ai ai trong chúng ta cũng có khả năng
này, nhưng ít ai chịu nhận thức
để hiểu rõ bản thân mình
và tăng cường khả năng
trực giác về tâm lý; con người
thường cho rằng những cảm
xúc của bản thân mình là do
ngoại cảnh mà ra nên thường
hay lãng quên khả năng nhận thức
này. Khi bị lãng quên từ lâu
thì trí năng này sẽ giảm dần
và có khi mất hẳn.
Trí năng thứ
hai của phần cảm xúc là khả
năng "làm chủ những cảm xúc".
Khả năng này có thể giúp chúng
ta tự giải thoát khỏi những
cảm xúc tiêu cực như giận dữ,
lo âu, buồn bã. Khả năng này
đã được đức
Phật phát hiện từ hơn 25 thế
kỷ trước. Nhưng phương pháp
để phát huy khả năng này thì
vẫn còn là một vấn đề
con người đang và sẽ còn
thảo luận.
Trí năng thứ
ba của phần cảm xúc là khả
năng "tự động viên". Khả năng
này giúp chúng ta đạt tới
tình trạng hoàn toàn sảng khoái.
Sự thỏa mãn những nhu cầu
sinh lý và vật chất luôn luôn
đem lại ngay sự sảng khoái cho con
người trong một khoảng thời
gian ngắn và sau đó những nhu
cầu mới phát sinh. Vì vậy người
ta thường lầm lẫn khi chỉ biết
chạy theo những nhu cầu vô tận
đó. Sự lầm lẫn đó
dẫn đến xao lãng khả năng
"tự động viên" của bản thân.
Trí năng thứ
tư của phần cảm xúc là khả
năng "cảm nhận được nhu cầu
và ước vọng" của người
khác. Khả năng này giúp chúng
ta sống hoà hợp và hạnh phúc
với mọi người chung quanh. Khả
năng này thường bị những
suy nghĩ "tham lam, ích kỷ" che lấp và
hủy hoại.
Trí năng thứ
năm của phần cảm xúc là khả
năng "làm chủ được các
mối liên hệ giữa người
với người". Khả năng này
nếu phát triển cao có thể giúp
cho chúng ta trở thành những
lãnh tụ tài ba.
Nhận thức từng
trí năng của phần cảm xúc là
bước đầu trong sự luyện
tập để tăng cường những
trí năng đó. Sự luyện tập
không những phát triển tài năng
cá nhân mà còn giúp chúng
ta sống một cách hài hoà hạnh
phúc hơn. Vận dụng thường
xuyên những trí năng đó
trong cuộc sống hàng ngày là một
trong những cách luyện tập hữu
hiệu nhất.
7. Thay lời kết:
Những mâu thuẫn
nội tâm của chúng ta là do sự
thiếu hoà hợp giữa phần
lý trí và phần cảm xúc. Chúng
ta thường rèn luyện thể chất
và lý trí để vươn lên,
để đối phó với mọi
hiện tượng thiên nhiên và
xã hội chung quanh. Nhưng khi có những
mâu thuẫn nội tâm thì những
sự rèn luyện ấy nhiều khi trở
thành hoàn toàn vô ích và
có khi còn có hại cho hạnh phúc
của bản thân.
Sự rèn luyện
phần cảm xúc cũng như mọi sự
rèn luyện khác, nghĩa là nói
thì dễ nhưng làm thì dĩ nhiên
là có rất nhiều khó khăn.
Cái khó khăn nhất trong sự rèn
luyện phần cảm xúc là chỉ có
bản thân mình mới làm cho mình
được. Sự giúp đỡ
của người khác chỉ có thể
tạo ra một ảnh hưởng nhỏ bé
mà thôi.
Nhưng việc mà
ai cũng có thể làm được
cho bản thân mình là tránh sự
lãng quên những khả năng tiềm
ẩn đó trong phần cảm xúc của
não bộ. Chỉ cần ý thức
về những khả năng tiềm tàng
đó cũng có thể giúp cho chúng
ta không bị mất những tài sản
to lớn ấy, giúp chúng ta giải
quyết mọi vấn đề một cách
có tình có lý hơn, giúp chúng
ta thấy được lối thoát
khi đứng trước những
trường hợp khó quyết định,
một bên là lý trí, một bên
là tình cảm.
Phó Thường
Dân
Tháng mười
năm 2002
|