Thuốc
kích thích của tâm hồn
1. Lời nói đầu.
Một trong những lời
tuyên bố nổi tiếng của Các Mác mà tất cả chúng ta đều
đã có nghe nhắc đến là:
"Tôn giáo là thuốc phiện
của tâm hồn".
Lời tuyên bố mang một
hình thức tuyên chiến công khai với mọi tôn giáo. Nhưng lịch
sử lại chứng minh rằng chủ nghĩa Mác đã trở thành một
"tôn giáo mới", được hàng triệu người tôn thờ đến mức
độ cuồng tín. Thuốc phiện không thể làm cho con người
say sưa đấu tranh, nhất là đấu tranh bằng bạo lực. Nói
một cách khác, chủ nghĩa Mác không phải là thuốc phiện
của tâm hồn, chúng ta thử tìm hiểu có phải chăng:
"Chủ nghĩa Mác là thuốc
kích thích của tâm hồn".
Hàng triệu người đã
xử dụng chủ nghĩa Mác để có thêm sức mạnh tinh thần
trong đấu tranh, để xây dựng cho bản thân một lý tưởng
để theo đuổi: tự cải tạo mình để cải tạo thế giới.
Họ đã tạo ra được những thay đổi lớn lao trong thế kỷ
vừa qua, đã xoay vần được lịch sử của nhân loại.
Nhưng theo quy luật của
thiên nhiên, bất cứ một vật thể nào cũng có hai mặt đối
lập, cũng có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực.
Sau khi tác động làm hưng phấn tâm hồn của người xử dụng
hàng chục năm, chủ nghĩa Mác trở thành một thứ niềm tin
sắt đá, và trong những hoàn cảnh xã hội đặc biệt (chẳng
hạn như ở Kămpuchia), nó biến thành mụ phù thủy có khả
năng ngu hoá những người thông minh, ác hoá những kẻ có
thiện tâm, biến những người yêu nước thành những tên
đồ tể tiêu diệt đồng bào ruột thịt của chính mình !!!
Ngày xưa, những người
tự xưng là theo "đạo thánh hiền" (Khổng giáo), cũng đã
có những say mê về triết lý, về đạo làm người, cũng
đã say mê về cách sống "tề gia trị quốc bình thiên hạ",
rồi cũng đã có những niềm tin sắt đá vào triết lý Khổng
giáo và khi điều kiện xã hội thay đổi, triết lý Khổng
giáo không còn tính cách tiền phong nữa thì họ cũng đã phạm
những lỗi lầm to lớn chẳng hạn như đã làm cản trở bước
tiến hoá của xã hội, trừng trị khắt khe những người
nào không chịu bó mình trong khuôn khổ chật hẹp mà họ đặt
ra. Trong thế kỷ vừa qua, nhiều nhà hoạt động cách mạng
đã tu luyện chủ nghĩa Mác để vận động quần chúng cướp
chính quyền, đánh đuổi ngoại xâm, rồi nhất quyết tiến
tới cải tạo cả thế giới theo ý thức hệ của mình. Khoảng
giữa thập niên 1970, sau khi phong trào cách mạng vô sản thế
giới đạt lên tới điểm cực đại thì bắt đầu nứt rạn
trầm trọng, thoái hóa mau chóng trong thập niên 1980 và hoàn
toàn sụp đổ từ đầu thập niên 1990. Chủ nghĩa Mác đã
chuyển biến từ vai trò công cụ tư tưởng vô cùng hữu ích
cho các đảng cộng sản vận động quần chúng, đấu tranh
cướp chính quyền thành vai trò "lý thuyết giáo điều siêu
hình" để kiểm soát quần chúng đi theo đúng hướng mà giáo
điều vạch sẵn, và sau đó "chủ nghĩa giáo điều" lại biến
thành "chủ nghĩa dùng bạo lực để cai trị nhân dân", trừng
trị bất cứ ai không đi đúng theo qũy đạo của giáo điều.
Những thuốc kích thích
sức mạnh thể chất mà một số thể tháo gia gian lận xử
dụng trong các cuộc so tài thế vận hội cũng có sự tiến
hoá tương tự, sau tác dụng làm mạnh thể chất nhất thời
là những ảnh hưởng tai hại (side effect) cho thể chất về
lâu về dài. Vì vậy tổ chức thế vận hội đã phải cấm
các thể tháo gia xử dụng các loại thuốc kích thích với
mục đích là để bảo vệ sức khoẻ cho chính họ. Nhưng
những ảnh hưởng tai hại của thuốc kích thích tâm hồn
thì không những chỉ làm hại người xử dụng (làm cho tâm
hồn người xử dụng bị biến chất) mà lại đem lại đại
họa cho cả dân tộc của họ chẳng hạn như rơi vào tình
trạng nghèo nàn lạc hậu, đói khổ triền miên, rơi vào những
địa ngục của trần gian.
Tìm hiểu những tác
dụng tích cực của chủ nghĩa Mác và những ảnh hưởng tai
hại (side effect) của nó, biết đâu chúng ta lại có thể đóng
góp đôi chút trong việc giải độc cho tâm hồn của những
người lỡ trúng loại độc dược này!
2. Sức thu
hút của chủ nghĩa Mác.
Nhiều nạn nhân của chủ
nghĩa cộng sản nghe nói đến chủ nghĩa Mác là đã nổi giận,
cho là thứ tà ma ngoại đạo rất nguy hiểm cho nhân loại,
cho dân tộc, cho tôn giáo v.v…Những người này tự xưng là
chống cộng triệt để, là sẵn sàng hy sinh đến giọt máu
cuối cùng, nhưng khi cộng sản sắp đến thì cũng có ngườiï
lại sẵn sàng phản bội anh em đồng đội, chạy thoát lấy
thân ; rồi khoác loác là mình khôn ngoan chạy trước, rồi
chê những người khác là không hiểu cộng sản là gì, là
ngu dại !!!
Hàng vạn cuốn sách
đã bàn về chủ nghĩa Mác. Hàng triệu người đã say mê chủ
nghĩa Mác và hãnh diện tự nhận mình là người Mác xít.
Ngược lại, cũng có hàng triệu người đã coi chủ nghĩa
Mác như một thứ độc dược của nhân loại, cần phải ngăn
cấm giới trẻ tìm hiểu !
Từ những suy nghĩ có
tính cách khoa học về thiên nhiên, về những nguyên nhân tạo
nên vũ trụ, loài người, xã hội ; triết lý phương tây tách
dần khỏi khoa học để nghiên cứu về con người, về luân
lý và sự tự do của con người. Triết lý Các Mác muốn vượt
khỏi sự giải thích thế giới để cải tạo thế giới,
và tạo ra chủ nghĩa Mác với mục tiêu là biến xã hội đương
thời thành xã hội cộng sản "một xã hội mà mọi người
đều làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu", một loại kiểu
mẫu xã hội trong trí tưởng tượng của Các Mác.
Thực ra việc xử dụng
triết lý để cải tạo xã hội đã có ở phương đông từ
mấy ngàn năm trước. Triết lý Khổng giáo chủ trương tu
thân để "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Về lý thuyết
thì "từ vua đến dân đều phải lấy tu thân làm gốc" nhưng
trong thực tế thì vua nắm quyền sinh sát nhân dân trong tay
rồi dựa trên triết lý Khổng giáo để bắt dân lễ nghi,
bắt dân trung với vua v.v…, để chính thức hoá và đạo
đức hoá những hành động tham lam ích kỷ của nhà vua.
Các hệ thống triết
lý vĩ đại của nhân loại đều do những triết gia nhìn xa
thấy rộng và dầy công nghiên cứu, nhưng triết lý ở thời
đại nào thì cũng xuất phát từ những hiểu biết của loài
người ở thời đại đó. Từ mấy ngàn năm gần đây, loài
người tích lũy được những kiến thức nên càng ngày càng
vượt xa muôn loài. Mặc dù Khổng tử đã được suy tôn là
vạn thế sư, nhưng triết lý của Khổng tử dựa trên kiến
thức của loài người từ mấy ngàn năm trước, nên ngày
nay ai cũng có thể thấy rằng nhiều điểm triết lý này không
còn phù hợp nữa. Nhưng sự phủ định một cách đơn thuần
hệ thống triết lý này thì lạïi có thể gây ra sự khủng
hoảng niềm tin trong những dân tộc mang nặng ảnh hưởng
của Khổng giáo. Triết lý Các Mác dựa trên kiến thức của
loài người mấy chục thế kỷ sau nên dĩ nhiên có nhiều
điểm phản ảnh sự tiến bộ của loài người trong mấy
ngàn năm qua. Duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác sâu sắc
hơn những lý luận dựa trên tiền đề "nhân chi sơ tính bản
thiện" của Khổng giáo ; chủ trương "giáo dục căm thù" của
chủ nghĩa Mác đã đưa loài người đến những hành động
tàn bạo và man rợ như ở Kămpuchia, trong khi chủ trương "giáo
dục sự tuân hành tuyệt đối hệ thống quân sư phụ" của
Khổng giáo ngăn cản những sáng kiến của quần chúng nhân
dân.
Mang danh tính khoa học
và tính tiềân phong, chủ nghĩa Mác đã có sức thu hút lớn
lao đối với những trí thức thiên tả xuất thân từ nền
phong kiến lạc hậu. Từ sự bất mãn với những bất công
trong xã hội phong kiến, những trí thức này khi tiếp xúc
với chủ nghĩa Mác cảm thấy vô cùng phấn khởi vì triết
lý Mác đã dựa trên kiến thức loài người ở trình độ
cao hơn trình độ của xã hội phong kiến, dựa trên những
sự phân tích khoa học về lịch sử phát triển của loài
người qua các chế độ thời nguyên thủy, đến chế độ
nô lệ, chuyển qua chế độ phong kiến, rồi hình thành sự
phát triển tư bản. Sự ham mê chủ nghĩa Mác của những trí
thức đó đã tiến hoá từ sự vạch rõ những bất công trong
xã hội phong kiến, những bất công trong xã hội tư bản,
đến sự say sưa xây dựng một lý tưởng cải tạo xã hội,
rồi đến sự cuồng tín vào những dự đoán của duy vật
lịch sử. Khi thấy trào lưu cuồng tín dâng cao, chính Mác
đã phải phát biểu : "tôi không phải là người Mác xít".
Bàn đến sức quyến rũ của chủ nghĩa Mác, trong bài "Chia
tay ý thức hệ - 1995", Hà sĩ Phu đã bình luận:
" Vậy mà đến hôm nay,
những trí thức gọi là tiên tiến nhất của thế giới tư
duy cộng sản vẫn chưa nhìn ra được cái sai từ nơi gốc
rễ, vẫn cứ xưng là ‘khoa học’, là tiền phong’ thì đủ
biết khả năng ‘ngu hoá’ của lý thuyết ấy đã đến độ
tuyệt hảo vậy….Ðẩy được trí tuệ ra khỏi đầu những
người vốn thông minh đã là điều tài tình, thì việc đẩy
được lương tâm và danh dự ra khỏi những trái tim vốn đầy
tính lương thiện và lý tưởng qủa là một siêu ma lực đáng
để loài người muôn đời nghiền ngẫm".
Chủ nghĩa Mác cũng vô
cùng hấp dẫn đối với những người lao động quần quật
mà không đủ miếng ăn, mặc dù không có dịp đọc và hiểu
chủ nghĩa Mác nhưng họ được tuyên truyền rằng chủ nghĩa
Mác giải phóng họ khỏi những sự bất công, tước đoạt
lại cho họ những gì họ bị giai cấp giầu có tước đoạt.
Ngày xưa những đảng cướp cũng thường dùng chiêu bài cướp
của người giầu để giúp người nghèo. Nhiều đảng cướp
đã được quần chúng đói khổ ủng hộ đi theo. Nhưng những
đảng cướp này thường tan rã sau một thời gian ngắn vì
thiếu trình độ văn hoá, vì thiếu lập luận triết lý. Chủ
nghĩa Mác đã trang bị cho các đảng vô sản lập luận triết
lý để thẳng tay đàn áp mọi lực lượng đối lập, thẳng
tay dùng bạo lực để bảo vệ chính quyền mà họ cướp
được. Vì quyền lợi của đảng, tất cả mọi hành động
tàn bạo như cướp của giết người, đập phá mọi thành
qủa văn minh của nhân loại v.v…đều được ngụy biện
để biến thành hành động cách mạng, hành động vì tương
lai của nhân loại !
Những người cùng khổ
thường rơi vào những hoàn cảnh oái oăm nên nhiều người
đã phải "đói ăn vụng, túng làm liều" hoặc "bần cùng sinh
đạo tặc". Ngày xưa, khi quá túng quẫn, con người có thể
phạm vào những lầm lỗi đó để rồi sau đó ân hận, quyết
tâm sám hối, tu tỉnh. Nhưng khi được giáo dục căm thù của
cách mạng vô sản, thì không những không cần hối hận mà
lại còn được anh hùng hoá, cách mạng hoá, khoa học hoá
những hành động tội lỗi. Vì vậy một số lớn những người
vô sản trở thành những kẻ trung thành tuyệt đối với đảng,
tiến tới trạng thái siêu hình hoá đảng và lãnh tụ, rồi
tiến dần đến mất hết cả nhân tính, trở thành công cụ
bạo lực để bảo vệ đảng và lãnh tụ !
Vì vậy theo lý thuyết
của chủ nghĩa Mác thì giai cấp công nhân đứng lên lật
đổ chế độ tư bản, nhưng trong thực tế thì giai cấp trí
thức khuynh tả ở các nước nghèo nàn lạc hậu, còn đang
bị chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc xâu xé, đã
xử dụng chủ nghĩa Mác để sách động quần chúng đứng
lên cướp chính quyền. Ðể có thể lôi kéo toàn dân tham
gia, họ đã giáo dục căm thù cho giai cấp vô sản, vận dụng
tinh thần dân tộc của các giai cấp khác trong việc giải
phóng đất nước khỏi chủ nghĩa đế quốc.
3. Sức mạnh
của chủ nghĩa Mác.
Những trí thức thiên tả
xuất thân từ nền phong kiến lạc hậu đã say mê chủ nghĩa
Mác vì họ có cảm giác là chủ nghĩa Mác đã cho họ một
vũ khí tuyệt hảo để cướp chính quyền, để cải tạo
thế giới.
Duy vật biện chứng
pháp đã giúp họ phân tích tình hình xã hội một cách sáng
suốt hơn, không còn bị lu mờ bởi những tư tưởng phong
kiến lỗi thời, giúp họ nhận định tâm lý quần chúng chính
xác hơn. Họ đã áp dụng được những thành quả phát triển
về ngành tâm lý của chế độ tư bản để phân tích tư
tưởng từng người dựa trên thành phần giai cấp, dựa trên
quá khứ của cá nhân và gia đình. Sự nắm vững tư tưởng
của từng người, của từng thành phần xã hội giúp họ
có khả năng vận động quần chúng tham gia để lật đổ
chính quyền hiện hữu. Một thí dụ cụ thể như muốn vận
động người tư sản hoặc tiểu tư sản thì phải kích động
được lòng yêu nước để đánh đuổi ngoại xâm, muốn vận
động người bần cố nông thì phải giáo dục căm thù giai
cấp và hứa hẹn cướp đất của điạ chủ để chia cho
họ. Duy vật biện chứng cũng giống như kinh dịch thời thượng
cổ, nhưng lại được khoa học hoá nên trở thành món vũ
khí lý luận, và cũng có thể xử dụng để ngụy biện khi
cần.
Duy vật lịch sử đã
giúp họ giải thích những nguyên nhân của các thời kỳ lịch
sử đã qua, nhu cầu tăng năng suất lao động thúc đẩy loài
người thay đổi từ giai đoạn nguyên thủy sang giai đoạn
nô
lệ giống như một tất yếu lịch sử, rồi từ giai đoạn
nô lệ sang giai đoạn phong kiến. Sự phát triển công nghiệp
dẫn tới sự phát triển tư bản, dẫn đến chế độ tư
bản, dẫn đến những mâu thuẫn giữa những người làm công
và người tư sản.
Duy vật lịch sử lại
vạch đường đi cho họ trong tuơng lai mặc dầu có gieo ít
nhiều thắc mắc chẳng hạn như: theo lý luận của họ, mọi
chế độ xã hội sau khi xuất hiện thì phát triển đến tột
độ của nó rồi sẽ tiêu vong đi, nhưng chế độ cộng sản
thì lại không tiêu vong ! Chế độ cộng sản trong trí tưởng
tượng của họ còn quá xa vì còn phải trải qua giai đoạn
quá độ, nên họ tạm quên đi những thắc mắc đó.
Một sức mạnh lớn
của chủ nghĩa Mác là trang bị cho họ một lý tưởng để
xây dựng một xã hội công bằng và nhân bản. Ðể thực
hiện lý tưởng đó, Mác còn chỉ dẫn phải xử dụng giai
cấp công nhân để lãnh đạo, phải xử dụng bạo lực để
cướp chính quyền và để trấn áp những người chống đối
mà họ gọi là "phản cách mạng" . Vấn đề "dùng bạo lực"
để trấn áp được coi như là một hành động cách mạng
chứ không phải như các vua chuá ngày trước chỉ bất đắc
dĩ lắm mới dùng bạo lực trấn áp vì còn sợ bị mất âm
đức ! Nói một cách khác, sự trấn áp bằng bạo lực của
họ không còn bị kiềm chế bởi tôn giáo, bởi hệ thống
đạo đức cổ truyền mà còn được chính nghĩa hoá bằng
triết lý của Mác.
Một sức mạnh lớn
khác của chủ nghĩa Mác là giáo dục căm thù. Dĩ nhiên đối
với lợi ích lâu dài của nhân loại thì sự giáo dục căm
thù đã đem lại những tai hại lớn lao, nhưng đối với cuộc
đấu tranh cướp chính quyền thì sự giáo dục căm thù là
những kích động tâm lý rất mãnh liệt khiến các chiến
sĩ sẵn sàng hy sinh tính mạng để diệt quân địch.
Trong hoàn cảnh kinh tế
thiếu thốn, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, những khẩu
hiệu kích động của các lãnh tụ vô sản chẳng hạn như:
"người vô sản không có gì để mất, có mất chăng là mất
xiềng xích nô lệ" đã tạo nên sự đoàn kết của những
người vô sản để lật đổ chính quyền. Chủ nghĩa Mác
đã giúp cho cách mạng vô sản sách động được quần chúng
dưới chiêu bài đấu tranh giai cấp. Trong các xã hội phong
kiến, tất cả quyền hành tập trung trong tay nhà vua, giai cấp
qúy tộc chẳng qua chỉ là những đầy tớ của nhà vua. Muốn
cai trị nhân dân, nhà vua thường phải chọn người tài giúp
mình trị nước. Khi vua anh minh thì sự tuyển chọn công bình
và nhân dân được hưởng thái bình thịnh vượng. Khi vua
u mê thì chỉ thích nghe nịnh thần, nhân dân sẽ đói khổ,
cam chịu cho đến khi mọi điều kiện chín mùi cho anh hùng
xuất hiện, lật đổ ngai vàng, và rồi người anh hùng lại
trở thành vua. Nói một cách khác không có vấn đề đấu
tranh giai cấp trong chế độ phong kiến mà chỉ có sự phân
biệt, sự kỳ thị giai cấp.
Chủ nghĩa Mác coi đấu
tranh giai cấp là động lực tiến hoá của xã hội. Sự giáo
dục "giác ngộ giai cấp" đã lôi kéo được đông đảo nhân
dân lao động, đã sẵn có lòng ganh tỵ đối với những giai
cấp giầu có, đã thấy rõ sự bất bình đảng giữa người
với người, lao vào cuộc đấu tranh cướp chính quyền. Những
cuộc cải tạo tư sản, tố khổ địa chủ tuy hủy hoại
tiềm năng lâu dài của dân tộc, nhưng trong kế hoạch cướp
chính quyền ngắn hạn đã tăng cường sức mạnh cho đảng
vô sản.
4. Sai lầm
căn bản của chủ nghĩa Mác.
Về phương diện triết
lý, chủ nghĩa Mác đã hoàn toàn sụp đổ với trình độ
nhận thức hiện tại của nhân loại, nên ở đây chúng ta
chỉ nói đến những sai lầm căn bản của chủ nghĩa Mác
mà mọi thường dân sống trong các nước mà chính quyền quyết
tâm "sống dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác" đã thấy rõ
trong khi những người tự vỗ ngực là anh hùng, là "đỉnh
cao trí tuệ" của họ lại không thể nào hiểu nổi !
4.1 Thiên
đường ảo: làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu.
Những con chiên của tôn
giáo "chủ nghĩa Mác" cương quyết đưa xã hội đến thiên
đường ảo trong đó mọi người đều làm việc hết năng
lực và hưởng theo nhu cầu. Một người dân không được
đi học, không biết viết biết đọc, cũng thấy dục vọng
của bản thân mình là vô tận, mỗi dục vọng sau khi được
thỏa mãn nhiều lần thì lại biến thành nhu cầu, rồi nhiều
dục vọng mới lại phát sinh, rồi nhiều nhu cầu mới lại
phát sinh ! Không cần sách vở, không cần giáo dục, người
dân thấp cổ bé miệng đã hiểu rất rõ rằng thiên đường
"làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu" là chuyện hoang đường,
và người dân chỉ còn hai cách:
-
tìm cách trốn thoát khỏi
cái xã hội đang quyết tâm làm ngày không đủ tranh thủ làm
đêm để tiến tới thiên đường aỏ với bụng đói không
đủ cơm ăn, thân thể lạnh không đủ áo mặc !
-
dù có muốn trốn thoát
thì cũng không đủ phương tiện và khả năng, thôi thì: "nhắm
mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu-trích Kiều".
Nhưng tại sao các nhà lãnh
đạo, các "đỉnh cao trí tuệ" của nhân dân thì lại không
thể hiểu nổi. Sau khi đã say mê chủ nghĩa Mác, họ tìm cách
vận dụng vào cuộc sống thực tế. Nhờ chủ nghĩa Mác, họ
đã phân tích được tư tưởng của mọi từng lớp quần
chúng, họ đã vận dụng quần chúng tham gia cướp chính quyền
bằng cách giáo dục căm thù, giác ngộ giai cấp. Càng chiến
thắng thì họ càng tin tuyệt đối vào sức mạnh vô địch
của chủ nghĩa Mác. Càng tin thì họ càng dần dần xa rời
cả lý trí của bản thân để chỉ còn biết tuyệt đối
trung thành vào đường hướng mà Mác đã vạch ra: tước đoạt
của kẻ đã tước đoạt, dùng bạo lực để thực hiện
cách mạng vô sản. Một khi đã trở thành cuồng tín thì bất
cứ ai cũng mất tư duy độc lập của bản thân mình, và trở
thành một người mắc bệnh tâm thần nguy hiểm, muốn chữa
trị cũng rất khó khăn.
Trong thâm tâm, cũng có
lúc tỉnh, các "đỉnh cao trí tuệ" cũng thắc mắc: thiên đường
"làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu" chắc còn quá xa.
Nhưng họ lại cảm thấy là hiện tại họ đang làm hết năng
lực để ngăn chặn bất cứ ai đi ngược đường lối của
chủ nghĩa Mác và họ cũng tự cho phép hưởng theo nhu cầu
rồi ; như vậy ít ra thiên đường của chủ nghĩa Mác đã
đúng đối với họ. Còn chuyện bao giờ nhân dân mới được
sống cùng trong thiên đường với họ thì chỉ cần dùng "giai
đoạn quá độ" để tự ngụy biện là thấy hợp lý ngay.
Lập luận này có thể
giúp chúng ta hiểu các nhân vật đang đấu tranh cho dân chủ
ở Việt Nam hơn. Có nhiều người thắc mắc là tại sao Hà
sĩ Phu, Trần Ðộ những năm trước đây còn hy vọng đảng
cộng sản sửa sai để đáp ứng với nguyện vọng của dân
tộc. Các vị này đã cả đời say mê chủ nghĩa Mác. Sự
sụp đổ của thế giới cộng sản ở Liên Xô và nhất là
ở đông âu, đã giúp họ nhìn ra rõ những sai lầm của chính
họ, của các đồng chí của họ. Trong "đôi điều suy nghĩ
của một công dân, phần 4-1993", Hà sĩ Phu viết:
"Tôi viết bài này chính
từ mặc cảm tội lỗi, tội lỗi của cá nhân, của thế
hệ, của giống nòi, mặc cảm bị lưu manh hoá".
Từ hoàn cảnh bị mê
hoặc bởi thứ thuốc kích thích tinh thần cực độc (chủ
nghĩa Mác) mà tỉnh ngộ được cũng là một chuyện khó khăn.
Vấn đề họ còn nuôi niềm hy vọng rằng các "đỉnh cao trí
tuệ" của họ cũng có thể thức tỉnh như họ là chuyện
dĩ nhiên. Nhưng các "đỉnh cao trí tuệ" thì lại đang sống
trong thiên đường thật: "cai trị theo ý thích, hưởng theo
nhu cầu" thì làm sao tỉnh nổi.
Tại Liên Xô, Kút Xếp
cũng như Gorbachev phải chờ đến khi nắm được chức vụ
cao nhất của đảng cộng sản mới có thể bắt đầu xét
lại, sửa sai. Còn ở đông âu thì nhân dân đã chứng kiến
quân đội Liên Xô xâm phạm thô bạo chủ quyền của họ
nên khi Liên Xô bắt đầu rạn nứt họ đã nhất quyết đứng
lên xoá bỏ nạn độc tài. Nếu Kút Xếp không kiên nhẫn
đợi chờ thì chắc chắn đã bị thủ tiêu và những việc
làm tàn bạo của Stalin có thể còn được dấu kín thêm vài
chục năm nữa.
4.2 Cha chung không
ai khóc.
Người dân bình thường
chỉ lao động để đủ cơm ăn áo mặc đã có khó khăn thì
đâu có thì giờ nghĩ vớ vẩn đến những lý tưởng xa vời.
Trong một xã hội đi theo chủ nghĩa Mác, mọi vấn đề sản
xuất đều đưa vào tập thể, nói ít làm nhiều thì bị phê
bình nhiều, làm ít nói nhiều thì thành cá nhân tiên tiến,
giác ngộ cách mạng. Người dân bình thường không ngu gì
nai lưng làm quần quật cho người khác hưởng, cán bộ càng
hô hào tăng gia sản suất thì nhân dân càng hưởng ứng mạnh
bằng miệng nói chứ không bằng tay làm. Kết qủa của những
khẩu hiệu thi đua là cả nước tiến nhanh tiến mạnh tiến
vững chắc về thời kỳ đồ
đá !
Người dân bình thường
hiểu rất rõ hiệu qủa của các chính sách của đảng cộng
sản, nhưng "các đỉnh cao trí tuệ" thì không thể nào hiểu
nổi vì khi hăng say hô hào khẩu hiệu họ đã có ảo tưởng
là đạt được kết qủa rồi, đến khi nhìn thấy hậu qủa
vật chất thì "niềm tin tuyệt đối vào chủ nhĩa Mác" đã
tạo ra những giải thích trong tư duy của họ rằng: hậu qủa
xấu là do dân chưa hoàn toàn giác ngộ cách mạng, là do những
kẻ còn mang nặng cá nhân chủ nghĩa phá hoại, là do kẻ thù
của cách mạng phá hoại v.v…Niềm tin mù quáng đã phủ kín
trí thông minh của họ !
4.3 Không có quyền
tư hữu.
Sự xóa bỏ quyền tư hữu
là một sai lầm căn bản mà mọi người chẳng cần phải
suy ngẫm, lý luận, đều hiểu rõ. Ai chẳng muốn làm chủ
cái căn nhà mình ở, làm chủ cái xe mình đi. Những nhu cầu
làm chủ tối thiểu đó cũng bị xoá bỏ, nên một số lớn
trở thành vô sản lưu manh, chỉ mong có dịp được hưởng
thụ những của cải của xã hội, không do sự lao động của
bản thân mình. Ai cố gắng làm việc tích lũy được đôi
chút tài sản thì phải dấu diếm vì luôn luôn lo sợ bị
coi là kẻ thù của chế độ. Nhiều kẻ vô sản lưu manh thì
lại được coi là thành phần tốt của chế độ. Người
dân bình thường chỉ còn biết:
"Thôi đành nhắm
mắt lưu manh,
Ðể xem đất nước
tan tành đến đâu"
Nhưng đối với "các đỉnh
cao trí tuệ" thì vấn đề xoá bỏ quyền tư hữu của người
dân lại vô cùng có lợi, vì đối với họ quyền tư hữu
bây giờ tăng thêm gấp triệu lần, vì quyền tư hữu bây
giờ không những là tư hữu những của cải vật chất mà
tư hữu cả quần chúng nhân dân. Người dân luôn luôn hoàn
toàn lệ thuộc vào họ từ miếng cơm manh áo đến tâm tư
tình cảm v.v…Vì vậy họ không thể nào hiểu được sự
xóa bỏ quyền tư hữu chính là mồ chôn chủ nghĩa Mác !
4.4 Sống trong nghi
kỵ giữa người với người.
Người dân bình thường
sống trong xã hội đi theo chủ nghĩa Mác thường không tin
cậy lẫn nhau, vì luôn luôn e ngại bị đem ra tập thể phê
bình kiểm điểm. Việc rình mò theo dõi để tố cáo bè bạn,
thân nhân bị xã hội trước kia kết tội thì bây giờ lại
được khuyến khích, được dùng để đo lường tình trạng
giác ngộ cách mạng, được dùng để đo lường lòng trung
thành với đảng ! Vì vậy người dân bình thường mất hết
cả niềm tin tưởng đối với mọi người chung quanh, không
dám tâm sự những lúc vui, lúc buồn ; nói chuyện với vợ
với chồng, với con cái cũng sợ bị coi là mất lập trường,
mất tính đảng, mất tính giai cấp !
Vấn đề sống trong
hồi hộp vì nghi kỵ lẫn nhau thì không những người dân
bình thường hiểu rõ mà cả những "đỉnh cao trí tuệ" cũng
hiểu, nhưng đối với họ lợi nhiều hơn hại: nhân danh quyền
lợi của đảng, họ nắm vững tất cả những khuyết điểm
của người khác để trừng trị khi cần !
4.5 Không có tự
do.
Trên đường đi tìm lực
lượng để cướp chính quyền, Mác đã thần thánh hoá việc
đấu tranh giai cấp bằng cách khẳng định: "Lịch sử tất
cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh
giai cấp". Những người áp dụng chủ nghĩa Mác lại coi đó
như thánh kinh nên coi con người chỉ còn là một phần tử
của giai cấp, xoá bỏ mọi thuộc tính cá nhân của con người.
Những tự do tối thiểu của con người đều bị hy sinh cho
quyền lợi của đảng. Người dân bình thường không cần
đọc hiến pháp, chẳng cần biết chữ cũng thấy mình bị
mất hết tự do chẳng hạn như:
-
yêu nhau cũng phải báo
cáo đảng
-
lấy nhau cũng bị đảng
xem xét xem có hại cho quyền lợi của đảng hay không
-
quen biết ai cũng bị đảng
theo dõi
-
lý lịch ba đời cũng phải
khai gian để khỏi bị đảng kỳ thị
-
v.v….
Vấn đề mất tự do thì
không những người dân bình thường hiểu rõ, các "đỉnh
cao trí tuệ" cũng có thể hiểu được, nhưng đối với họ
lợi nhiều hơn hại: nhân danh quyền lợi của đảng họ được
tự do xâm phạm đời tư mọi người, họ được quyền quản
lý không những đời sống vật chất như cơm ăn áo mặc của
mọi người mà còn cả tâm tư tình cảm của mọi người
nữa !
4.6 Ngược dòng
lịch sử.
Người dân bình thường
thì hiểu lịch sử vô cùng đơn giản, con người càng ngày
càng tiến bộ hơn, nghĩa là năng suất lao động phải càng
ngày càng cao hơn.
Vì chính quyền quyết
tâm xây dựng một xã hội ảo tưởng, vì cha chung không ai
khóc, vì không có quyền tư hữu, vì sống trong nghi kỵ lẫn
nhau, vì sống không có những tự do tối thiểu cho những thuộc
tính cá nhân của con người v.v…nên năng suất lao động
giảm sút trầm trọng, cuộc sống càng ngày càng khó khăn
hơn, thiếu thốn hơn so với thời mà họ sống với điạ
chủ và tư sản. Họ hiểu ngay là họ đang sống trong một
xã hội đi ngược dòng lịch sử, đi từ khoa học tới cuồng
tín, đi từ tiền phong đến lạc hậu v.v…
Nhưng đối với "các
đỉnh cao trí tuệ" thì vấn đề này không thể nào hiểu
nổi. Sự tin tưởng tuyệt đối ở chủ nghĩa Mác xoa dịu
những khó khăn vật chất nhất thời, nhất là khi những khó
khăn đó chỉ là khó khăn của quần chúng nhân dân chứ không
phải của họ. Chủ nghĩa Mác cũng đã dự trù sẵn cho họ
giai đoạn quá độ để tiến tới "xã hội chủ nghĩa" rồi
sau cùng mới tiến lên "cộng sản chủ nghĩa". Khẩu hiệu
"khó khăn là nhất thời, thuận lợi là cơ bản" làm lu mờ
trí thông minh của họ.
Dĩ nhiên chủ nghĩa Mác
còn nhiều sai lầm khác, nhưng trong những điểm nêu trên chúng
ta chỉ bàn qua những sai lầm căn bản mà bất cứ người
dân bình thường nào, dù không biết chữ, nhưng không bị
nhiễm độc bởi thuốc kích thích tâm hồn, đều có thể
hiểu được. Chúng ta cũng bàn sơ qua lý do tại sao "các đỉnh
cao trí tuệ" lại không hiểu nổi, những lý do này người
dân bình thường nào, nếu suy ngẫm đôi chút cũng có thể
thấy rõ. Nhưng cũng có những lý do phức tạp hơn, chẳng
hạn như sự tha hoá khi nắm quyền hạn trong tay, những hoàn
cảnh của thế giới trong giai đoạn chiến tranh lạnh sau thế
chiến lần thứ hai.
5. Thay lời
kết.
Chủ nghĩa Mác đã thu hút
được hàng triệu tín đồ, đã tạo nên sức mạnh vô tiền
khoáng hậu để quét sạch chủ nghĩa đế quốc, đã xoay vần
được lịch sử nhân loại trong thế kỷ vừa qua. Chủ nghĩa
Mác xứng đáng là một loại thuốc kích thích cực mạnh của
tâm hồn.
Nhưng cũng giống như
các loại thuốc kích thích khác, những ảnh hưởng tai hại
(side effect) của chủ nghĩa Mác cũng vô cùng khốc liệt. Những
người đã bị độc tố của chủ nghĩa Mác hoành hành thường
trở thành cuồng tín, càng có quyền hạn trong tay càng cuồng
tín hơn. Sự cuồng tín do chủ nghĩa Mác tạo ra có khả năng
ngu hoá những người thông minh, ác hoá những kẻ có thiện
tâm, chẳng hạn như những hành động diệt chủng ở Kămpuchia.
Sự sụp đổ của chủ
nghĩa cộng sản ở Liên Xô và đông âu như một hồi chuông
cảnh tỉnh những tín đồ của chủ nghĩa Mác. Tuy vậy, những
thành trì cuối cùng của chủ nghĩa Mác vẫn còn đứng vững
hơn chục năm sau.
Gần đây, nhân dân Bắc
Hàn chết đói hàng triệu trong khi toàn dân chưa tới 25 triệu
nhưng "các đỉnh cao trí tuệ" cuồng tín vẫn còn say sưa nghĩ
tới súng đạn, chiến tranh ; người dân Bắc Hàn khi gặp
thân nhân ở Nam Hàn vẫn còn có những phản ứng của người
mắc bệnh tâm thần: "hoan hô và biết ơn lãnh tụ" !!
Dân tộc Việt Nam đã
đóng góp hơn ba triệu nhân mạng trong cuộc chiến tranh ý
thức hệ của thế giới để đưa chủ nghĩa Mác đạt được
đỉnh cao nhất vào ngày 30 tháng tư năm 1975. Sau đó chủ nghĩa
Mác bắt đầu xuống dốc, dân tộc Việt Nam tiếp tục đóng
góp thêm vài trăm ngàn người trong các "đại học máu", vài
triệu người vĩnh biệt quê hương.
Những đóng góp lớn
lao kinh hoàng đó là do những mặt tích cực của chủ nghĩa
Mác như đã nêu ở phần 2 (sức thu hút của chủ nghĩa Mác)
và phần 3 (sức mạnh của chủ nghĩa Mác). Những mặt tiêu
cực của chủ nghĩa Mác đã gây ra những hậu quả trầm trọng
hơn nhiều:
-
sau 30 tháng tư năm 1975,
hàng triệu người miền Nam thấy mình bị mất quê hương,
bị áp đặt một nền văn hoá mới, một nền kinh tế mới
đi ngược dòng lịch sử của nhân loại để tiến nhanh tiến
mạnh tiến vững chắc về thời kỳ đồ đá.
-
hàng triệu người miền
bắc ngỡ ngàng, sau 30 chục năm nồi da xáo thịt lại tới
chiến tranh tàn khốc với đảng anh em Kămpuchia, rồi sau khi
khẳng định "không một kẻ nào còn dám xâm lăng Việt Nam"
thì lại phải tiếp tục chém giết chống xâm lăng của đảng
cộng sản Trung Hoa, những kẻ vẫn được gọi là "vừa là
đồng chí vừa là anh em".
-
nặng nề hơn nữa là hàng
triệu người bị độc dược của thuốc kích thích tâm hồn
(chủ nghĩa Mác) hoành hành, dương dương tự đắc, vỗ ngực
anh hùng, ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, quen nếp
sống dùng bạo lực thay lẽ phải, dùng sự cuồng tín thay
khoa học v.v…Lòng yêu nước của hàng chục triệu người
dân bình thường bị mù quáng hoá để đem lại cho họ những
thành kiến sai lầm về nền văn minh của nhân loại, chẳng
hạn như bất cứ cái gì không phải của phe xã hội chủ
nghĩa đều là sai trái.
-
Tại hại lâu dài hơn cả
có lẽ là chương trình giáo dục "muốn có lợi ích mười
năm thì trồng cây, muốn có lợi ích trăm năm thì trồng người",
hàng chục triệu trẻ em hết thế hệ này đến thế hệ khác
bị giáo dục một cách phản khoa học để phục vụ quyền
lợi của đảng và của quốc tế vô sản. Việc trồng cây
mà làm phản khoa học thì cây chẳng bao giờ có quả. Việc
trồng người, theo bản chất đã là phi nhân bản, lại được
trồng một cách phi khoa học, thì chắc chắn những đổ vỡ
cho dân tộc khó thể nào mà đo lường được.
Liên Xô phải mất hơn
70 năm mới tìm ra được thuốc giải cho loại độc dược
này, để xây dựng lại từ đầu với trăm ngàn khó khăn.
Thời gian cũng là một yếu tố quan trọng trong việc giải
độc. Nhưng càng lâu thì số nạn nhân càng nhiều, chất độc
đôi khi lại biến chứng thành những bệnh trầm trọng hơn.
Việc giải độc cho
hàng triệu người không phải là việc đơn giản. Nước Mỹ
mặc dù hùng mạnh nhất thế giới nhưng đã thất bại trong
việc giúp Việt Nam giải độc, sau khi đã tốn kém biết bao
nhiêu tài sản và nhân mạng. Những biến cố ở Liên Xô và
ở đông âu đã có tác dụng vô cùng lớn lao cho việc giải
độc. Thời gian và thực tế cuộc sống cũng là những yếu
tố quan trọng. Những đóng góp về triết lý của những nhà
tư tưởng cũng giúp cho một số lớn trí thức thiên tả ở
trong nước dứt khoát chia tay với ý thức hệ của chủ nghĩa
Mác, giúp cho những trí thức ở nước ngoài hiểu rõ hơn
sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác.
Những nhận định về
các mặt tích cực và tiêu cực của chủ nghĩa Mác ở trên
chỉ có tính cách bình dân để tất cả mọi người đều
có thể hiểu được. Sự tìm hiểu sâu rộng hơn có thể
giúp cho những người yêu nước nhận định rõ những lý
do của những thất bại đã qua, tăng cường khả năng vận
động quần chúng tham gia xây dựng một chế độ nhân bản
cho dân tộc Việt Nam. Ðối với những người yêu nước,
lỡ lầm đường tu luyện chủ nghĩa Mác, sự tìm hiểu đó
giúp họ mau chóng khắc phục những độc tố, mau chóng xây
dựng lại niềm tin để trở lại phục vụ quyền lợi thực
sự của dân tộc.
Tháng 10 năm 2001
Phó Thường Dân
|