Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT

 

 Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Thuốc kích thích của tâm hồn

          1. Lời nói đầu. 

Một trong những lời tuyên bố nổi tiếng của Các Mác mà tất cả chúng ta đều đã có nghe nhắc đến là:

"Tôn giáo là thuốc phiện của tâm hồn".

Lời tuyên bố mang một hình thức tuyên chiến công khai với mọi tôn giáo. Nhưng lịch sử lại chứng minh rằng chủ nghĩa Mác đã trở thành một "tôn giáo mới", được hàng triệu người tôn thờ đến mức độ cuồng tín. Thuốc phiện không thể làm cho con người say sưa đấu tranh, nhất là đấu tranh bằng bạo lực. Nói một cách khác, chủ nghĩa Mác không phải là thuốc phiện của tâm hồn, chúng ta thử tìm hiểu có phải chăng:

"Chủ nghĩa Mác là thuốc kích thích của tâm hồn".

Hàng triệu người đã xử dụng chủ nghĩa Mác để có thêm sức mạnh tinh thần trong đấu tranh, để xây dựng cho bản thân một lý tưởng để theo đuổi: tự cải tạo mình để cải tạo thế giới. Họ đã tạo ra được những thay đổi lớn lao trong thế kỷ vừa qua, đã xoay vần được lịch sử của nhân loại.

Nhưng theo quy luật của thiên nhiên, bất cứ một vật thể nào cũng có hai mặt đối lập, cũng có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực. Sau khi tác động làm hưng phấn tâm hồn của người xử dụng hàng chục năm, chủ nghĩa Mác trở thành một thứ niềm tin sắt đá, và trong những hoàn cảnh xã hội đặc biệt (chẳng hạn như ở Kămpuchia), nó biến thành mụ phù thủy có khả năng ngu hoá những người thông minh, ác hoá những kẻ có thiện tâm, biến những người yêu nước thành những tên đồ tể tiêu diệt đồng bào ruột thịt của chính mình !!!

Ngày xưa, những người tự xưng là theo "đạo thánh hiền" (Khổng giáo), cũng đã có những say mê về triết lý, về đạo làm người, cũng đã say mê về cách sống "tề gia trị quốc bình thiên hạ", rồi cũng đã có những niềm tin sắt đá vào triết lý Khổng giáo và khi điều kiện xã hội thay đổi, triết lý Khổng giáo không còn tính cách tiền phong nữa thì họ cũng đã phạm những lỗi lầm to lớn chẳng hạn như đã làm cản trở bước tiến hoá của xã hội, trừng trị khắt khe những người nào không chịu bó mình trong khuôn khổ chật hẹp mà họ đặt ra. Trong thế kỷ vừa qua, nhiều nhà hoạt động cách mạng đã tu luyện chủ nghĩa Mác để vận động quần chúng cướp chính quyền, đánh đuổi ngoại xâm, rồi nhất quyết tiến tới cải tạo cả thế giới theo ý thức hệ của mình. Khoảng giữa thập niên 1970, sau khi phong trào cách mạng vô sản thế giới đạt lên tới điểm cực đại thì bắt đầu nứt rạn trầm trọng, thoái hóa mau chóng trong thập niên 1980 và hoàn toàn sụp đổ từ đầu thập niên 1990. Chủ nghĩa Mác đã chuyển biến từ vai trò công cụ tư tưởng vô cùng hữu ích cho các đảng cộng sản vận động quần chúng, đấu tranh cướp chính quyền thành vai trò "lý thuyết giáo điều siêu hình" để kiểm soát quần chúng đi theo đúng hướng mà giáo điều vạch sẵn, và sau đó "chủ nghĩa giáo điều" lại biến thành "chủ nghĩa dùng bạo lực để cai trị nhân dân", trừng trị bất cứ ai không đi đúng theo qũy đạo của giáo điều. 

Những thuốc kích thích sức mạnh thể chất mà một số thể tháo gia gian lận xử dụng trong các cuộc so tài thế vận hội cũng có sự tiến hoá tương tự, sau tác dụng làm mạnh thể chất nhất thời là những ảnh hưởng tai hại (side effect) cho thể chất về lâu về dài. Vì vậy tổ chức thế vận hội đã phải cấm các thể tháo gia xử dụng các loại thuốc kích thích với mục đích là để bảo vệ sức khoẻ cho chính họ. Nhưng những ảnh hưởng tai hại của thuốc kích thích tâm hồn thì không những chỉ làm hại người xử dụng (làm cho tâm hồn người xử dụng bị biến chất) mà lại đem lại đại họa cho cả dân tộc của họ chẳng hạn như rơi vào tình trạng nghèo nàn lạc hậu, đói khổ triền miên, rơi vào những địa ngục của trần gian. 

Tìm hiểu những tác dụng tích cực của chủ nghĩa Mác và những ảnh hưởng tai hại (side effect) của nó, biết đâu chúng ta lại có thể đóng góp đôi chút trong việc giải độc cho tâm hồn của những người lỡ trúng loại độc dược này!

2. Sức thu hút của chủ nghĩa Mác.
Nhiều nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản nghe nói đến chủ nghĩa Mác là đã nổi giận, cho là thứ tà ma ngoại đạo rất nguy hiểm cho nhân loại, cho dân tộc, cho tôn giáo v.v…Những người này tự xưng là chống cộng triệt để, là sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng, nhưng khi cộng sản sắp đến thì cũng có ngườiï lại sẵn sàng phản bội anh em đồng đội, chạy thoát lấy thân ; rồi khoác loác là mình khôn ngoan chạy trước, rồi chê những người khác là không hiểu cộng sản là gì, là ngu dại !!!

Hàng vạn cuốn sách đã bàn về chủ nghĩa Mác. Hàng triệu người đã say mê chủ nghĩa Mác và hãnh diện tự nhận mình là người Mác xít. Ngược lại, cũng có hàng triệu người đã coi chủ nghĩa Mác như một thứ độc dược của nhân loại, cần phải ngăn cấm giới trẻ tìm hiểu !

Từ những suy nghĩ có tính cách khoa học về thiên nhiên, về những nguyên nhân tạo nên vũ trụ, loài người, xã hội ; triết lý phương tây tách dần khỏi khoa học để nghiên cứu về con người, về luân lý và sự tự do của con người. Triết lý Các Mác muốn vượt khỏi sự giải thích thế giới để cải tạo thế giới, và tạo ra chủ nghĩa Mác với mục tiêu là biến xã hội đương thời thành xã hội cộng sản "một xã hội mà mọi người đều làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu", một loại kiểu mẫu xã hội trong trí tưởng tượng của Các Mác.

Thực ra việc xử dụng triết lý để cải tạo xã hội đã có ở phương đông từ mấy ngàn năm trước. Triết lý Khổng giáo chủ trương tu thân để "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Về lý thuyết thì "từ vua đến dân đều phải lấy tu thân làm gốc" nhưng trong thực tế thì vua nắm quyền sinh sát nhân dân trong tay rồi dựa trên triết lý Khổng giáo để bắt dân lễ nghi, bắt dân trung với vua v.v…, để chính thức hoá và đạo đức hoá những hành động tham lam ích kỷ của nhà vua.

Các hệ thống triết lý vĩ đại của nhân loại đều do những triết gia nhìn xa thấy rộng và dầy công nghiên cứu, nhưng triết lý ở thời đại nào thì cũng xuất phát từ những hiểu biết của loài người ở thời đại đó. Từ mấy ngàn năm gần đây, loài người tích lũy được những kiến thức nên càng ngày càng vượt xa muôn loài. Mặc dù Khổng tử đã được suy tôn là vạn thế sư, nhưng triết lý của Khổng tử dựa trên kiến thức của loài người từ mấy ngàn năm trước, nên ngày nay ai cũng có thể thấy rằng nhiều điểm triết lý này không còn phù hợp nữa. Nhưng sự phủ định một cách đơn thuần hệ thống triết lý này thì lạïi có thể gây ra sự khủng hoảng niềm tin trong những dân tộc mang nặng ảnh hưởng của Khổng giáo. Triết lý Các Mác dựa trên kiến thức của loài người mấy chục thế kỷ sau nên dĩ nhiên có nhiều điểm phản ảnh sự tiến bộ của loài người trong mấy ngàn năm qua. Duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác sâu sắc hơn những lý luận dựa trên tiền đề "nhân chi sơ tính bản thiện" của Khổng giáo ; chủ trương "giáo dục căm thù" của chủ nghĩa Mác đã đưa loài người đến những hành động tàn bạo và man rợ như ở Kămpuchia, trong khi chủ trương "giáo dục sự tuân hành tuyệt đối hệ thống quân sư phụ" của Khổng giáo ngăn cản những sáng kiến của quần chúng nhân dân.

Mang danh tính khoa học và tính tiềân phong, chủ nghĩa Mác đã có sức thu hút lớn lao đối với những trí thức thiên tả xuất thân từ nền phong kiến lạc hậu. Từ sự bất mãn với những bất công trong xã hội phong kiến, những trí thức này khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác cảm thấy vô cùng phấn khởi vì triết lý Mác đã dựa trên kiến thức loài người ở trình độ cao hơn trình độ của xã hội phong kiến, dựa trên những sự phân tích khoa học về lịch sử phát triển của loài người qua các chế độ thời nguyên thủy, đến chế độ nô lệ, chuyển qua chế độ phong kiến, rồi hình thành sự phát triển tư bản. Sự ham mê chủ nghĩa Mác của những trí thức đó đã tiến hoá từ sự vạch rõ những bất công trong xã hội phong kiến, những bất công trong xã hội tư bản, đến sự say sưa xây dựng một lý tưởng cải tạo xã hội, rồi đến sự cuồng tín vào những dự đoán của duy vật lịch sử. Khi thấy trào lưu cuồng tín dâng cao, chính Mác đã phải phát biểu : "tôi không phải là người Mác xít". Bàn đến sức quyến rũ của chủ nghĩa Mác, trong bài "Chia tay ý thức hệ - 1995", Hà sĩ Phu đã bình luận:

" Vậy mà đến hôm nay, những trí thức gọi là tiên tiến nhất của thế giới tư duy cộng sản vẫn chưa nhìn ra được cái sai từ nơi gốc rễ, vẫn cứ xưng là ‘khoa học’, là tiền phong’ thì đủ biết khả năng ‘ngu hoá’ của lý thuyết ấy đã đến độ tuyệt hảo vậy….Ðẩy được trí tuệ ra khỏi đầu những người vốn thông minh đã là điều tài tình, thì việc đẩy được lương tâm và danh dự ra khỏi những trái tim vốn đầy tính lương thiện và lý tưởng qủa là một siêu ma lực đáng để loài người muôn đời nghiền ngẫm".

Chủ nghĩa Mác cũng vô cùng hấp dẫn đối với những người lao động quần quật mà không đủ miếng ăn, mặc dù không có dịp đọc và hiểu chủ nghĩa Mác nhưng họ được tuyên truyền rằng chủ nghĩa Mác giải phóng họ khỏi những sự bất công, tước đoạt lại cho họ những gì họ bị giai cấp giầu có tước đoạt. Ngày xưa những đảng cướp cũng thường dùng chiêu bài cướp của người giầu để giúp người nghèo. Nhiều đảng cướp đã được quần chúng đói khổ ủng hộ đi theo. Nhưng những đảng cướp này thường tan rã sau một thời gian ngắn vì thiếu trình độ văn hoá, vì thiếu lập luận triết lý. Chủ nghĩa Mác đã trang bị cho các đảng vô sản lập luận triết lý để thẳng tay đàn áp mọi lực lượng đối lập, thẳng tay dùng bạo lực để bảo vệ chính quyền mà họ cướp được. Vì quyền lợi của đảng, tất cả mọi hành động tàn bạo như cướp của giết người, đập phá mọi thành qủa văn minh của nhân loại v.v…đều được ngụy biện để biến thành hành động cách mạng, hành động vì tương lai của nhân loại !

Những người cùng khổ thường rơi vào những hoàn cảnh oái oăm nên nhiều người đã phải "đói ăn vụng, túng làm liều" hoặc "bần cùng sinh đạo tặc". Ngày xưa, khi quá túng quẫn, con người có thể phạm vào những lầm lỗi đó để rồi sau đó ân hận, quyết tâm sám hối, tu tỉnh. Nhưng khi được giáo dục căm thù của cách mạng vô sản, thì không những không cần hối hận mà lại còn được anh hùng hoá, cách mạng hoá, khoa học hoá những hành động tội lỗi. Vì vậy một số lớn những người vô sản trở thành những kẻ trung thành tuyệt đối với đảng, tiến tới trạng thái siêu hình hoá đảng và lãnh tụ, rồi tiến dần đến mất hết cả nhân tính, trở thành công cụ bạo lực để bảo vệ đảng và lãnh tụ !

Vì vậy theo lý thuyết của chủ nghĩa Mác thì giai cấp công nhân đứng lên lật đổ chế độ tư bản, nhưng trong thực tế thì giai cấp trí thức khuynh tả ở các nước nghèo nàn lạc hậu, còn đang bị chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc xâu xé, đã xử dụng chủ nghĩa Mác để sách động quần chúng đứng lên cướp chính quyền. Ðể có thể lôi kéo toàn dân tham gia, họ đã giáo dục căm thù cho giai cấp vô sản, vận dụng tinh thần dân tộc của các giai cấp khác trong việc giải phóng đất nước khỏi chủ nghĩa đế quốc.

 3. Sức mạnh của chủ nghĩa Mác.
Những trí thức thiên tả xuất thân từ nền phong kiến lạc hậu đã say mê chủ nghĩa Mác vì họ có cảm giác là chủ nghĩa Mác đã cho họ một vũ khí tuyệt hảo để cướp chính quyền, để cải tạo thế giới.

Duy vật biện chứng pháp đã giúp họ phân tích tình hình xã hội một cách sáng suốt hơn, không còn bị lu mờ bởi những tư tưởng phong kiến lỗi thời, giúp họ nhận định tâm lý quần chúng chính xác hơn. Họ đã áp dụng được những thành quả phát triển về ngành tâm lý của chế độ tư bản để phân tích tư tưởng từng người dựa trên thành phần giai cấp, dựa trên quá khứ của cá nhân và gia đình. Sự nắm vững tư tưởng của từng người, của từng thành phần xã hội giúp họ có khả năng vận động quần chúng tham gia để lật đổ chính quyền hiện hữu. Một thí dụ cụ thể như muốn vận động người tư sản hoặc tiểu tư sản thì phải kích động được lòng yêu nước để đánh đuổi ngoại xâm, muốn vận động người bần cố nông thì phải giáo dục căm thù giai cấp và hứa hẹn cướp đất của điạ chủ để chia cho họ. Duy vật biện chứng cũng giống như kinh dịch thời thượng cổ, nhưng lại được khoa học hoá nên trở thành món vũ khí lý luận, và cũng có thể xử dụng để ngụy biện khi cần.

Duy vật lịch sử đã giúp họ giải thích những nguyên nhân của các thời kỳ lịch sử đã qua, nhu cầu tăng năng suất lao động thúc đẩy loài người thay đổi từ giai đoạn nguyên thủy sang giai đoạn nô lệ giống như một tất yếu lịch sử, rồi từ giai đoạn nô lệ sang giai đoạn phong kiến. Sự phát triển công nghiệp dẫn tới sự phát triển tư bản, dẫn đến chế độ tư bản, dẫn đến những mâu thuẫn giữa những người làm công và người tư sản.

Duy vật lịch sử lại vạch đường đi cho họ trong tuơng lai mặc dầu có gieo ít nhiều thắc mắc chẳng hạn như: theo lý luận của họ, mọi chế độ xã hội sau khi xuất hiện thì phát triển đến tột độ của nó rồi sẽ tiêu vong đi, nhưng chế độ cộng sản thì lại không tiêu vong ! Chế độ cộng sản trong trí tưởng tượng của họ còn quá xa vì còn phải trải qua giai đoạn quá độ, nên họ tạm quên đi những thắc mắc đó.

Một sức mạnh lớn của chủ nghĩa Mác là trang bị cho họ một lý tưởng để xây dựng một xã hội công bằng và nhân bản. Ðể thực hiện lý tưởng đó, Mác còn chỉ dẫn phải xử dụng giai cấp công nhân để lãnh đạo, phải xử dụng bạo lực để cướp chính quyền và để trấn áp những người chống đối mà họ gọi là "phản cách mạng" . Vấn đề "dùng bạo lực" để trấn áp được coi như là một hành động cách mạng chứ không phải như các vua chuá ngày trước chỉ bất đắc dĩ lắm mới dùng bạo lực trấn áp vì còn sợ bị mất âm đức ! Nói một cách khác, sự trấn áp bằng bạo lực của họ không còn bị kiềm chế bởi tôn giáo, bởi hệ thống đạo đức cổ truyền mà còn được chính nghĩa hoá bằng triết lý của Mác.

Một sức mạnh lớn khác của chủ nghĩa Mác là giáo dục căm thù. Dĩ nhiên đối với lợi ích lâu dài của nhân loại thì sự giáo dục căm thù đã đem lại những tai hại lớn lao, nhưng đối với cuộc đấu tranh cướp chính quyền thì sự giáo dục căm thù là những kích động tâm lý rất mãnh liệt khiến các chiến sĩ sẵn sàng hy sinh tính mạng để diệt quân địch.

Trong hoàn cảnh kinh tế thiếu thốn, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, những khẩu hiệu kích động của các lãnh tụ vô sản chẳng hạn như: "người vô sản không có gì để mất, có mất chăng là mất xiềng xích nô lệ" đã tạo nên sự đoàn kết của những người vô sản để lật đổ chính quyền. Chủ nghĩa Mác đã giúp cho cách mạng vô sản sách động được quần chúng dưới chiêu bài đấu tranh giai cấp. Trong các xã hội phong kiến, tất cả quyền hành tập trung trong tay nhà vua, giai cấp qúy tộc chẳng qua chỉ là những đầy tớ của nhà vua. Muốn cai trị nhân dân, nhà vua thường phải chọn người tài giúp mình trị nước. Khi vua anh minh thì sự tuyển chọn công bình và nhân dân được hưởng thái bình thịnh vượng. Khi vua u mê thì chỉ thích nghe nịnh thần, nhân dân sẽ đói khổ, cam chịu cho đến khi mọi điều kiện chín mùi cho anh hùng xuất hiện, lật đổ ngai vàng, và rồi người anh hùng lại trở thành vua. Nói một cách khác không có vấn đề đấu tranh giai cấp trong chế độ phong kiến mà chỉ có sự phân biệt, sự kỳ thị giai cấp.

Chủ nghĩa Mác coi đấu tranh giai cấp là động lực tiến hoá của xã hội. Sự giáo dục "giác ngộ giai cấp" đã lôi kéo được đông đảo nhân dân lao động, đã sẵn có lòng ganh tỵ đối với những giai cấp giầu có, đã thấy rõ sự bất bình đảng giữa người với người, lao vào cuộc đấu tranh cướp chính quyền. Những cuộc cải tạo tư sản, tố khổ địa chủ tuy hủy hoại tiềm năng lâu dài của dân tộc, nhưng trong kế hoạch cướp chính quyền ngắn hạn đã tăng cường sức mạnh cho đảng vô sản.

4. Sai lầm căn bản của chủ nghĩa Mác.
Về phương diện triết lý, chủ nghĩa Mác đã hoàn toàn sụp đổ với trình độ nhận thức hiện tại của nhân loại, nên ở đây chúng ta chỉ nói đến những sai lầm căn bản của chủ nghĩa Mác mà mọi thường dân sống trong các nước mà chính quyền quyết tâm "sống dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác" đã thấy rõ trong khi những người tự vỗ ngực là anh hùng, là "đỉnh cao trí tuệ" của họ lại không thể nào hiểu nổi !
4.1 Thiên đường ảo: làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu.
Những con chiên của tôn giáo "chủ nghĩa Mác" cương quyết đưa xã hội đến thiên đường ảo trong đó mọi người đều làm việc hết năng lực và hưởng theo nhu cầu. Một người dân không được đi học, không biết viết biết đọc, cũng thấy dục vọng của bản thân mình là vô tận, mỗi dục vọng sau khi được thỏa mãn nhiều lần thì lại biến thành nhu cầu, rồi nhiều dục vọng mới lại phát sinh, rồi nhiều nhu cầu mới lại phát sinh ! Không cần sách vở, không cần giáo dục, người dân thấp cổ bé miệng đã hiểu rất rõ rằng thiên đường "làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu" là chuyện hoang đường, và người dân chỉ còn hai cách:
  • tìm cách trốn thoát khỏi cái xã hội đang quyết tâm làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm để tiến tới thiên đường aỏ với bụng đói không đủ cơm ăn, thân thể lạnh không đủ áo mặc !
  • dù có muốn trốn thoát thì cũng không đủ phương tiện và khả năng, thôi thì: "nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu-trích Kiều".
Nhưng tại sao các nhà lãnh đạo, các "đỉnh cao trí tuệ" của nhân dân thì lại không thể hiểu nổi. Sau khi đã say mê chủ nghĩa Mác, họ tìm cách vận dụng vào cuộc sống thực tế. Nhờ chủ nghĩa Mác, họ đã phân tích được tư tưởng của mọi từng lớp quần chúng, họ đã vận dụng quần chúng tham gia cướp chính quyền bằng cách giáo dục căm thù, giác ngộ giai cấp. Càng chiến thắng thì họ càng tin tuyệt đối vào sức mạnh vô địch của chủ nghĩa Mác. Càng tin thì họ càng dần dần xa rời cả lý trí của bản thân để chỉ còn biết tuyệt đối trung thành vào đường hướng mà Mác đã vạch ra: tước đoạt của kẻ đã tước đoạt, dùng bạo lực để thực hiện cách mạng vô sản. Một khi đã trở thành cuồng tín thì bất cứ ai cũng mất tư duy độc lập của bản thân mình, và trở thành một người mắc bệnh tâm thần nguy hiểm, muốn chữa trị cũng rất khó khăn.

Trong thâm tâm, cũng có lúc tỉnh, các "đỉnh cao trí tuệ" cũng thắc mắc: thiên đường "làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu" chắc còn quá xa. Nhưng họ lại cảm thấy là hiện tại họ đang làm hết năng lực để ngăn chặn bất cứ ai đi ngược đường lối của chủ nghĩa Mác và họ cũng tự cho phép hưởng theo nhu cầu rồi ; như vậy ít ra thiên đường của chủ nghĩa Mác đã đúng đối với họ. Còn chuyện bao giờ nhân dân mới được sống cùng trong thiên đường với họ thì chỉ cần dùng "giai đoạn quá độ" để tự ngụy biện là thấy hợp lý ngay.

Lập luận này có thể giúp chúng ta hiểu các nhân vật đang đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam hơn. Có nhiều người thắc mắc là tại sao Hà sĩ Phu, Trần Ðộ những năm trước đây còn hy vọng đảng cộng sản sửa sai để đáp ứng với nguyện vọng của dân tộc. Các vị này đã cả đời say mê chủ nghĩa Mác. Sự sụp đổ của thế giới cộng sản ở Liên Xô và nhất là ở đông âu, đã giúp họ nhìn ra rõ những sai lầm của chính họ, của các đồng chí của họ. Trong "đôi điều suy nghĩ của một công dân, phần 4-1993", Hà sĩ Phu viết:

"Tôi viết bài này chính từ mặc cảm tội lỗi, tội lỗi của cá nhân, của thế hệ, của giống nòi, mặc cảm bị lưu manh hoá".

Từ hoàn cảnh bị mê hoặc bởi thứ thuốc kích thích tinh thần cực độc (chủ nghĩa Mác) mà tỉnh ngộ được cũng là một chuyện khó khăn. Vấn đề họ còn nuôi niềm hy vọng rằng các "đỉnh cao trí tuệ" của họ cũng có thể thức tỉnh như họ là chuyện dĩ nhiên. Nhưng các "đỉnh cao trí tuệ" thì lại đang sống trong thiên đường thật: "cai trị theo ý thích, hưởng theo nhu cầu" thì làm sao tỉnh nổi.

Tại Liên Xô, Kút Xếp cũng như Gorbachev phải chờ đến khi nắm được chức vụ cao nhất của đảng cộng sản mới có thể bắt đầu xét lại, sửa sai. Còn ở đông âu thì nhân dân đã chứng kiến quân đội Liên Xô xâm phạm thô bạo chủ quyền của họ nên khi Liên Xô bắt đầu rạn nứt họ đã nhất quyết đứng lên xoá bỏ nạn độc tài. Nếu Kút Xếp không kiên nhẫn đợi chờ thì chắc chắn đã bị thủ tiêu và những việc làm tàn bạo của Stalin có thể còn được dấu kín thêm vài chục năm nữa.

    4.2  Cha chung không ai khóc.
Người dân bình thường chỉ lao động để đủ cơm ăn áo mặc đã có khó khăn thì đâu có thì giờ nghĩ vớ vẩn đến những lý tưởng xa vời. Trong một xã hội đi theo chủ nghĩa Mác, mọi vấn đề sản xuất đều đưa vào tập thể, nói ít làm nhiều thì bị phê bình nhiều, làm ít nói nhiều thì thành cá nhân tiên tiến, giác ngộ cách mạng. Người dân bình thường không ngu gì nai lưng làm quần quật cho người khác hưởng, cán bộ càng hô hào tăng gia sản suất thì nhân dân càng hưởng ứng mạnh bằng miệng nói chứ không bằng tay làm. Kết qủa của những khẩu hiệu thi đua là cả nước tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc về thời kỳ đồ 
đá !

Người dân bình thường hiểu rất rõ hiệu qủa của các chính sách của đảng cộng sản, nhưng "các đỉnh cao trí tuệ" thì không thể nào hiểu nổi vì khi hăng say hô hào khẩu hiệu họ đã có ảo tưởng là đạt được kết qủa rồi, đến khi nhìn thấy hậu qủa vật chất thì "niềm tin tuyệt đối vào chủ nhĩa Mác" đã tạo ra những giải thích trong tư duy của họ rằng: hậu qủa xấu là do dân chưa hoàn toàn giác ngộ cách mạng, là do những kẻ còn mang nặng cá nhân chủ nghĩa phá hoại, là do kẻ thù của cách mạng phá hoại v.v…Niềm tin mù quáng đã phủ kín trí thông minh của họ !

    4.3 Không có quyền tư hữu.
Sự xóa bỏ quyền tư hữu là một sai lầm căn bản mà mọi người chẳng cần phải suy ngẫm, lý luận, đều hiểu rõ. Ai chẳng muốn làm chủ cái căn nhà mình ở, làm chủ cái xe mình đi. Những nhu cầu làm chủ tối thiểu đó cũng bị xoá bỏ, nên một số lớn trở thành vô sản lưu manh, chỉ mong có dịp được hưởng thụ những của cải của xã hội, không do sự lao động của bản thân mình. Ai cố gắng làm việc tích lũy được đôi chút tài sản thì phải dấu diếm vì luôn luôn lo sợ bị coi là kẻ thù của chế độ. Nhiều kẻ vô sản lưu manh thì lại được coi là thành phần tốt của chế độ. Người dân bình thường chỉ còn biết:
"Thôi đành nhắm mắt lưu manh,
Ðể xem đất nước tan tành đến đâu"
Nhưng đối với "các đỉnh cao trí tuệ" thì vấn đề xoá bỏ quyền tư hữu của người dân lại vô cùng có lợi, vì đối với họ quyền tư hữu bây giờ tăng thêm gấp triệu lần, vì quyền tư hữu bây giờ không những là tư hữu những của cải vật chất mà tư hữu cả quần chúng nhân dân. Người dân luôn luôn hoàn toàn lệ thuộc vào họ từ miếng cơm manh áo đến tâm tư tình cảm v.v…Vì vậy họ không thể nào hiểu được sự xóa bỏ quyền tư hữu chính là mồ chôn chủ nghĩa Mác !
    4.4 Sống trong nghi kỵ giữa người với người.
Người dân bình thường sống trong xã hội đi theo chủ nghĩa Mác thường không tin cậy lẫn nhau, vì luôn luôn e ngại bị đem ra tập thể phê bình kiểm điểm. Việc rình mò theo dõi để tố cáo bè bạn, thân nhân bị xã hội trước kia kết tội thì bây giờ lại được khuyến khích, được dùng để đo lường tình trạng giác ngộ cách mạng, được dùng để đo lường lòng trung thành với đảng ! Vì vậy người dân bình thường mất hết cả niềm tin tưởng đối với mọi người chung quanh, không dám tâm sự những lúc vui, lúc buồn ; nói chuyện với vợ với chồng, với con cái cũng sợ bị coi là mất lập trường, mất tính đảng, mất tính giai cấp !

Vấn đề sống trong hồi hộp vì nghi kỵ lẫn nhau thì không những người dân bình thường hiểu rõ mà cả những "đỉnh cao trí tuệ" cũng hiểu, nhưng đối với họ lợi nhiều hơn hại: nhân danh quyền lợi của đảng, họ nắm vững tất cả những khuyết điểm của người khác để trừng trị khi cần !

    4.5 Không có tự do.
Trên đường đi tìm lực lượng để cướp chính quyền, Mác đã thần thánh hoá việc đấu tranh giai cấp bằng cách khẳng định: "Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp". Những người áp dụng chủ nghĩa Mác lại coi đó như thánh kinh nên coi con người chỉ còn là một phần tử của giai cấp, xoá bỏ mọi thuộc tính cá nhân của con người. Những tự do tối thiểu của con người đều bị hy sinh cho quyền lợi của đảng. Người dân bình thường không cần đọc hiến pháp, chẳng cần biết chữ cũng thấy mình bị mất hết tự do chẳng hạn như:
  • yêu nhau cũng phải báo cáo đảng
  • lấy nhau cũng bị đảng xem xét xem có hại cho quyền lợi của đảng hay không
  • quen biết ai cũng bị đảng theo dõi
  • lý lịch ba đời cũng phải khai gian để khỏi bị đảng kỳ thị
  • v.v….
Vấn đề mất tự do thì không những người dân bình thường hiểu rõ, các "đỉnh cao trí tuệ" cũng có thể hiểu được, nhưng đối với họ lợi nhiều hơn hại: nhân danh quyền lợi của đảng họ được tự do xâm phạm đời tư mọi người, họ được quyền quản lý không những đời sống vật chất như cơm ăn áo mặc của mọi người mà còn cả tâm tư tình cảm của mọi người 
nữa !
    4.6 Ngược dòng lịch sử.
Người dân bình thường thì hiểu lịch sử vô cùng đơn giản, con người càng ngày càng tiến bộ hơn, nghĩa là năng suất lao động phải càng ngày càng cao hơn. 

Vì chính quyền quyết tâm xây dựng một xã hội ảo tưởng, vì cha chung không ai khóc, vì không có quyền tư hữu, vì sống trong nghi kỵ lẫn nhau, vì sống không có những tự do tối thiểu cho những thuộc tính cá nhân của con người v.v…nên năng suất lao động giảm sút trầm trọng, cuộc sống càng ngày càng khó khăn hơn, thiếu thốn hơn so với thời mà họ sống với điạ chủ và tư sản. Họ hiểu ngay là họ đang sống trong một xã hội đi ngược dòng lịch sử, đi từ khoa học tới cuồng tín, đi từ tiền phong đến lạc hậu v.v…

Nhưng đối với "các đỉnh cao trí tuệ" thì vấn đề này không thể nào hiểu nổi. Sự tin tưởng tuyệt đối ở chủ nghĩa Mác xoa dịu những khó khăn vật chất nhất thời, nhất là khi những khó khăn đó chỉ là khó khăn của quần chúng nhân dân chứ không phải của họ. Chủ nghĩa Mác cũng đã dự trù sẵn cho họ giai đoạn quá độ để tiến tới "xã hội chủ nghĩa" rồi sau cùng mới tiến lên "cộng sản chủ nghĩa". Khẩu hiệu "khó khăn là nhất thời, thuận lợi là cơ bản" làm lu mờ trí thông minh của họ.

Dĩ nhiên chủ nghĩa Mác còn nhiều sai lầm khác, nhưng trong những điểm nêu trên chúng ta chỉ bàn qua những sai lầm căn bản mà bất cứ người dân bình thường nào, dù không biết chữ, nhưng không bị nhiễm độc bởi thuốc kích thích tâm hồn, đều có thể hiểu được. Chúng ta cũng bàn sơ qua lý do tại sao "các đỉnh cao trí tuệ" lại không hiểu nổi, những lý do này người dân bình thường nào, nếu suy ngẫm đôi chút cũng có thể thấy rõ. Nhưng cũng có những lý do phức tạp hơn, chẳng hạn như sự tha hoá khi nắm quyền hạn trong tay, những hoàn cảnh của thế giới trong giai đoạn chiến tranh lạnh sau thế chiến lần thứ hai.

5. Thay lời kết.
Chủ nghĩa Mác đã thu hút được hàng triệu tín đồ, đã tạo nên sức mạnh vô tiền khoáng hậu để quét sạch chủ nghĩa đế quốc, đã xoay vần được lịch sử nhân loại trong thế kỷ vừa qua. Chủ nghĩa Mác xứng đáng là một loại thuốc kích thích cực mạnh của tâm hồn.

Nhưng cũng giống như các loại thuốc kích thích khác, những ảnh hưởng tai hại (side effect) của chủ nghĩa Mác cũng vô cùng khốc liệt. Những người đã bị độc tố của chủ nghĩa Mác hoành hành thường trở thành cuồng tín, càng có quyền hạn trong tay càng cuồng tín hơn. Sự cuồng tín do chủ nghĩa Mác tạo ra có khả năng ngu hoá những người thông minh, ác hoá những kẻ có thiện tâm, chẳng hạn như những hành động diệt chủng ở Kămpuchia.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và đông âu như một hồi chuông cảnh tỉnh những tín đồ của chủ nghĩa Mác. Tuy vậy, những thành trì cuối cùng của chủ nghĩa Mác vẫn còn đứng vững hơn chục năm sau.

Gần đây, nhân dân Bắc Hàn chết đói hàng triệu trong khi toàn dân chưa tới 25 triệu nhưng "các đỉnh cao trí tuệ" cuồng tín vẫn còn say sưa nghĩ tới súng đạn, chiến tranh ; người dân Bắc Hàn khi gặp thân nhân ở Nam Hàn vẫn còn có những phản ứng của người mắc bệnh tâm thần: "hoan hô và biết ơn lãnh tụ" !!

Dân tộc Việt Nam đã đóng góp hơn ba triệu nhân mạng trong cuộc chiến tranh ý thức hệ của thế giới để đưa chủ nghĩa Mác đạt được đỉnh cao nhất vào ngày 30 tháng tư năm 1975. Sau đó chủ nghĩa Mác bắt đầu xuống dốc, dân tộc Việt Nam tiếp tục đóng góp thêm vài trăm ngàn người trong các "đại học máu", vài triệu người vĩnh biệt quê hương.

Những đóng góp lớn lao kinh hoàng đó là do những mặt tích cực của chủ nghĩa Mác như đã nêu ở phần 2 (sức thu hút của chủ nghĩa Mác) và phần 3 (sức mạnh của chủ nghĩa Mác). Những mặt tiêu cực của chủ nghĩa Mác đã gây ra những hậu quả trầm trọng hơn nhiều:

  • sau 30 tháng tư năm 1975, hàng triệu người miền Nam thấy mình bị mất quê hương, bị áp đặt một nền văn hoá mới, một nền kinh tế mới đi ngược dòng lịch sử của nhân loại để tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc về thời kỳ đồ đá.
  • hàng triệu người miền bắc ngỡ ngàng, sau 30 chục năm nồi da xáo thịt lại tới chiến tranh tàn khốc với đảng anh em Kămpuchia, rồi sau khi khẳng định "không một kẻ nào còn dám xâm lăng Việt Nam" thì lại phải tiếp tục chém giết chống xâm lăng của đảng cộng sản Trung Hoa, những kẻ vẫn được gọi là "vừa là đồng chí vừa là anh em".
  • nặng nề hơn nữa là hàng triệu người bị độc dược của thuốc kích thích tâm hồn (chủ nghĩa Mác) hoành hành, dương dương tự đắc, vỗ ngực anh hùng, ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, quen nếp sống dùng bạo lực thay lẽ phải, dùng sự cuồng tín thay khoa học v.v…Lòng yêu nước của hàng chục triệu người dân bình thường bị mù quáng hoá để đem lại cho họ những thành kiến sai lầm về nền văn minh của nhân loại, chẳng hạn như bất cứ cái gì không phải của phe xã hội chủ nghĩa đều là sai trái.
  • Tại hại lâu dài hơn cả có lẽ là chương trình giáo dục "muốn có lợi ích mười năm thì trồng cây, muốn có lợi ích trăm năm thì trồng người", hàng chục triệu trẻ em hết thế hệ này đến thế hệ khác bị giáo dục một cách phản khoa học để phục vụ quyền lợi của đảng và của quốc tế vô sản. Việc trồng cây mà làm phản khoa học thì cây chẳng bao giờ có quả. Việc trồng người, theo bản chất đã là phi nhân bản, lại được trồng một cách phi khoa học, thì chắc chắn những đổ vỡ cho dân tộc khó thể nào mà đo lường được.
Liên Xô phải mất hơn 70 năm mới tìm ra được thuốc giải cho loại độc dược này, để xây dựng lại từ đầu với trăm ngàn khó khăn. Thời gian cũng là một yếu tố quan trọng trong việc giải độc. Nhưng càng lâu thì số nạn nhân càng nhiều, chất độc đôi khi lại biến chứng thành những bệnh trầm trọng hơn.

Việc giải độc cho hàng triệu người không phải là việc đơn giản. Nước Mỹ mặc dù hùng mạnh nhất thế giới nhưng đã thất bại trong việc giúp Việt Nam giải độc, sau khi đã tốn kém biết bao nhiêu tài sản và nhân mạng. Những biến cố ở Liên Xô và ở đông âu đã có tác dụng vô cùng lớn lao cho việc giải độc. Thời gian và thực tế cuộc sống cũng là những yếu tố quan trọng. Những đóng góp về triết lý của những nhà tư tưởng cũng giúp cho một số lớn trí thức thiên tả ở trong nước dứt khoát chia tay với ý thức hệ của chủ nghĩa Mác, giúp cho những trí thức ở nước ngoài hiểu rõ hơn sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác.

Những nhận định về các mặt tích cực và tiêu cực của chủ nghĩa Mác ở trên chỉ có tính cách bình dân để tất cả mọi người đều có thể hiểu được. Sự tìm hiểu sâu rộng hơn có thể giúp cho những người yêu nước nhận định rõ những lý do của những thất bại đã qua, tăng cường khả năng vận động quần chúng tham gia xây dựng một chế độ nhân bản cho dân tộc Việt Nam. Ðối với những người yêu nước, lỡ lầm đường tu luyện chủ nghĩa Mác, sự tìm hiểu đó giúp họ mau chóng khắc phục những độc tố, mau chóng xây dựng lại niềm tin để trở lại phục vụ quyền lợi thực sự của dân tộc.

Tháng 10 năm 2001
Phó Thường Dân

 
Trang bìa
Ðầu trang