Thế
giới vô hình
Quang sinh ra ở
miền đồng bằng miền bắc
nước Việt, vào khoảng cuối
thế chiến thứ hai, trong một nền
văn hóa còn mang nặng nhiều hình
thức mê tín dị đoan. Khi mới
được bốn tuổi, Quang nghe Hưng,
một người giúp việc cho gia đình
Quang, nói là buổi tối mà soi gương
thì sẽ nhìn thấy ma. Thế là
đến mấy năm sau, Quang vẫn còn
bị ám ảnh bởi lời nói
đó, vẫn tránh xa gương mỗi
khi trời tối. Khi Quang được
hơn năm tuổi, Băng, chị của Quang,
hơn Quang chừng bốn tuổi, bị bệnh
mất. Nhưng gia đình Quang không giải
thích cho Quang biết. Mấy tuần sau, khi
đang ngủ chung giường với
Dũng, người anh hơn Quang hai tuổi,
thì Quang thức giấc và thấy
một bóng người mờ mờ
ảo ảo, mặc quần áo trắng toát,
dáng dấp giống như chị Băng,
vừa bước lên thang lầu,
vừa vẫy gọi Quang.
- Anh Dũng! Anh Dũng! Quang vừa
lay anh vừa gọi, Dũng vẫn ngủ
say.
Quang sợ quá, nằm
ép sát vào Dũng, mắt nhắm
nghiền.
Khi lớn lên, mỗi
lần đi xe đạp qua gần nhà thờ,
chùa, nghĩa địa, nhà quàn,
nhà xác của bệnh viện, Quang đều
cảm thấy hơi sợ, cố gắng
đạp mau để cố tránh xa những
địa điểm mà Quang nghĩ có
thể có những linh hồn tụ tập.
Quang lớn lên ở thành phố
Sàigòn, được học tập
các môn khoa học ở trường,
dần dần Quang không còn có những
cái sợ vô lý nữa, nhưng
Quang vẫn còn ngại ở một mình
những nơi quá vắng vẻ như
nghĩa địa.
Càng học lên cao, càng
lớn tuổi hơn thì Quang càng thấy
tự tin hơn, thấy người khác
mê tín dị đoan thì Quang thường
hay chế nhạo nên đôi khi Quang bị
mọi người ghét vì không
chia sẻ những niềm tin lỗi thời
của họ. Khi mẹ Quang mất, họ hàng
Quang mời mấy chuyên viên (!) bùa
phép đến, chị Quang đưa cho Quang
một cái bùa cất vào túi theo
lời thầy (!) dặn. Quang nể chị,
nhận lá bùa, rồi lẳng lặng
đem lá bùa vất đi. Khi thầy
bùa (!) làm phép, ném bát xuống
đất cho vỡ thì Quang giận lắm,
Quang tự nhủ mình có thể lờ
đi những hủ tục mê tín dị
đoan, nhưng khi những hủ tục này
xâm phạm đến sự tôn nghiêm,
sự kính trọng người quá
cố thì không thể chấp nhận được.
Quang sấn tới gần thầy bùa
(!) trợn mắt nhìn, có lẽ thấy
ánh mắt thanh niên quá giận dữ
nên thầy không dám đập vỡ
các đồ đạc khác nữa.
Lát sau anh cả Quang nhờ Quang đưa
thầy bùa về nhà. Khi lên xe, Quang
lại trợn mắt nhìn thầy bùa
nên thầy sợ quá, ngồi im lặng
không dám nói nửa lời!
Khi liệm mẹ Quang, họ hàng
nói rằng Quang trùng tuổi, phải đi
ra ngoài. Quang lờ mọi người
đi, ở lại để nhìn mẹ
lần cuối, cũng như để đảm
bảo sự tẩm liệm được
làm một cách trang trọng, một cách
văn minh tiến bộ. Lúc đó, Quang
tự nhủ nếu vì lo lắng cho đám
tang người mà Quang yêu mến thì
có chết vì "trùng!" cũng chẳng
sao. Mấy chục năm sau, "trùng!" vẫn
chẳng làm gì, mỗi lần nghĩ
lại Quang còn thấy chuyện mê tín
dị đoan đó thật nực cười
và cảm thấy tự hào về
việc mình đã làm.
Năm 1975, sau ngày quốc
nạn 30 tháng tư, mặc dù là nạn
nhân của chủ nghĩa cộng sản nhưng
Quang rất thích thú khi đọc lời
bình luận của Các Mác về sự
thần bí hóa các chuyện mê tín
dị đoan. Quang tự cho rằng mình
là người có tinh thần khoa học
và cho rằng chuyện bài trừ nạn
mê tín dị đoan là cần thiết
để trong sạch hóa xã hội. Nhưng
tiếc thay, trong thực tế, những
người hô hào bài trừ
mê tín dị đoan lại còn u mê
hơn cả những người bị
bài trừ!!
Sau mấy năm sống dưới
chế độ chuyên chính vô sản,
hàng triệu người miền nam đã
phải chấp nhận mất tất cả để
đi ra thử thời vận trên Thái
Bình Dương. Quang là một trong hàng
triệu người không may mắn đó.
Chưa ra tới biển thì chẳng may
thuyền vượt biên trong đó
có Quang lại rơi vào tay công an tỉnh
Bến Tre! Thế là Quang bị ném vào
"địa ngục của trần gian". Sau hơn
ba tháng bị nhốt trong đáy cùng
của địa ngục, (ở đó
không ai còn khả năng nghĩ đến
nhân quyền và ngay cả "súc vật
quyền" cũng còn là chuyện vô
cùng xa xỉ, ở đó Quang thấm
hiểu được tài ba của "các
đỉnh cao trí tuệ" về việc hành
hạ con người mà không cần
tra tấn: nhốt thật đông trong căn
nhà tôn nhỏ hẹp để dùng
sức nóng mặt trời thiêu
đốt "đồng bào ruột thịt!",
không cho có nước tắm rửa
để sử dụng ghẻ lở làm
công cụ tra tấn) Quang được
chuyển sang nhà tù ở tỉnh Bến
Tre. La Hy, một người Việt gốc Hoa
cũng bị giam chung với Quang. La Hy tuy nói
tiếng Việt lơ lớ nhưng rất
thân với Quang vì cả hai đều
thích "tương thân tương kính".
Một buổi trưa vào khoảng tháng
mười năm 1980, Quang đang định
nằm ngủ trưa thì thấy La Hy ú
ớ la hét. Quang lay cho La Hy tỉnh cơn
ác mộng.
- Tỉnh chưa anh Hy, anh nằm
mớ gì mà la hét dữ vậy.
- Anh Quang ơi, chắc vợ
con tôi gặp nạn rồi. La Hy thầm thì
nói với Quang, vì sợ người
khác nghe thấy báo cáo với
cai tù để lập công.
Mấy ngày trước,
nhân dịp được thăm nuôi,
người nhà của La Hy đem quà
thăm nuôi tới, có nói được
với La Hy vài lời là "vợ
con La Hy đã về được quê"
để ám chỉ là đã đi
vượt biên thoát.
- Tại sao anh nói vậy, Quang
hỏi lại.
- Tôi vừa nằm chợp
mắt ngủ thì bỗng thấy có
tiếng gọi là có người
vào thăm nuôi. Tôi đang chuẩn
bị ra ngoài gặp thân nhân, bỗng
nhiên tôi nhìn thấy vợ tôi
tay dắt đứa con trai út đi vào
phòng giam, đứng ngay tại cửa
kia, vừa nói La Hy vừa chỉ tay
ra cửa.
- Chắc tại anh nhớ
vợ con nên nằm mơ thấy vậy,
Quang ôn tồn nói với La Hy.
- Tôi thấy vợ con
vào, tôi mừng lắm, tôi chạy
lại đưa hai tay ôm con. Tôi thấy
nét mặt vợ con tôi cả hai trông
buồn lắm, lại không nói một
lời nào. Tôi càng đưa
tay ra thì vợ con tôi càng lùi
ra xa, hai ba lần ôm con hụt, tôi bắt
đầu kêu tên con tôi thì anh
kêu tôi tỉnh dậy.
Quang tìm mọi lời
để an ủi La Hy, nhưng anh ta vẫn cứ
tin rằng vợ con anh đã đến
báo cho anh biết là đã bị
tai nạn.
Khi Quang được tạm
tha (trong chế độ chuyên chính không
bao giờ có chuyện tha, chỉ tạm
tha mà thôi!!) thì La Hy vẫn còn
bị nhốt. Vì khi bị bắt Quang khai
tên giả nên bây giờ có
giấy tạm tha làm sao mà trình diện
công an phường được.
Quang nghĩ trở về nhà có thể
lôi thôi nên về nhà người
anh trước rồi thăm dò tình
hình để tính toán sau.
Dũng thấy Quang được
thả về mừng lắm,
- Chú vào nhà tắm
rửa, nghỉ ngơi, tôi đi đón
vợ con chú lên nhà tôi ngủ
tạm đêm nay rồi mai tính sau, Dũng
vừa nói vừa lấy xe gắn
máy ra.
- Chú thích ăn phở
gà hay phở bò để tôi
đi mua đem về nhà ăn, vợ
Dũng niềm nở thăm hỏi Quang.
Anh em hàn huyên tâm sự
sau bao nhiêu tháng ngày xa cách.
- Tháng trước gia
đình tôi đi vượt biên
từ Cần Thơ, tổ chức bị
đổ bể, may mà không bị tù,
Dũng kể lể.
- Thế gia đình anh chị
có định tiếp tục tìm đường
đi nữa hay không, Quang hỏi lại.
- Sau khi thoát chạy về
Sàigòn, tối hôm đó tôi
nằm mơ thấy Mẹ chúng ta, Dũng
tiếp lời.
- Mẹ có nói gì không,
Quang hỏi.
- Mẹ nói: "con phải đi
chung với Quang thì mới thoát
được". Lúc đó chưa
biết ngày nào chú được
thả về nhưng nghe Mẹ hiện về báo
mộng nên gia đình tôi không dám
đi nữa, phải chờ chú về
đã rồi tính sau.
Mấy hôm sau, Quang đi dò
hỏi tin tức về chuyến vượt
biên mà vợ con La Hy đã tham
dự. Gặp Tâm, người bán
vàng ở chợ Vườn Chuối,
người nhận vàng cho tổ chức
vượt biên.
- Chào chị Tâm, Quang nói.
- Anh được thả
về hôm nào vậy,
- Mới được
vài hôm, chị nói với tôi
là có mua bãi đàng hoàng
(trả tiền cho công an), thế mà đi
tù cả nút,
- Thì họ tráo trở,
làm sao chúng tôi biết được.
Anh biết đó mấy người
bà con của tôi cũng bị tù
ráo trong chuyến đi vượt biên
chung với anh. Nhiều người bị
bắt chuyến đó nhưng được
thả trước anh, họ tham dự đi
chuyến sau, đã đến được
bến bờ tự do từ mấy
tháng nay rồi.
- Chị biết vợ con
anh La Hy không.
- Vợ con anh La Hy cũng đi
chuyến đó. Ra đến ngoài khơi,
sàn tầu bị sập, nên vợ
con anh La Hy chết hết.
Quang giật nẩy mình nghĩ
đến chuyện nằm mơ của La Hy mấy
tháng trước trong nhà tù Bến
Tre, đúng lúc vợ con anh ta bị
nạn. Tinh thần khoa học của Quang bỗng
hoang mang giao động, phải chăng chuyện
thần giao cách cảm còn là chuyện
xa vời của nền khoa học hiện đại!
Trước khi được
thả, La Hy có cho Quang địa chỉ gia
đình để liên lạc. Quang vội
vàng đến thăm gia đình La Hy
để thăm hỏi, chia buồn. Gặp em
vợ của La Hy ra tiếp,
- Tôi là người
bị nhốt chung với anh La Hy tại Bến
Tre, Quang tự giới thiệu.
- Tôi là em vợ anh
La Hy, anh được về mà anh La Hy
còn kẹt ở đó, không biết
sức khỏe anh ấy bây giờ
ra sao.
- Anh La Hy vẫn khỏe mạnh
chị ạ. Hình như vợ con anh ta có
đi vượt biên mấy tháng trước
phải không chị, Quang dè dặt thăm
hỏi.
- Vợ con anh ta sang được
Tây Ðức rồi.
Quang không dám hỏi thêm
về chuyện vợ con của La Hy vì sợ
rằng gia đình anh ta muốn giấu. Vì
ngại chuyện giấu giếm nên sau đó
Quang không còn liên lạc với
gia đình của La Hy nữa. Quang không
biết ai nói đúng, ai nói sai, người
thì nói vợ con La Hy đã chết
trên thuyền vượt biên, kẻ
thì nói họ đã đến Tây
Ðức.
Mấy tháng sau, vì hoàn
cảnh tài chánh, Quang không thể đi
theo chuyến vượt biên của gia đình
Dũng được. Và mấy tuần
sau đó, Quang ngất lịm khi hay tin: vợ
chồng Dũng và đứa con trai
lớn đã bị "thủy táng"
ở Thái Bình Dương. Họ hàng
thân thuộc ai ai cũng nói: bà cụ
thiêng quá, đã về báo mộng
cho con biết nhưng vẫn không tránh
khỏi mệnh trời!!!
Hết chuyện "thần giao cách
cảm" của La Hy đến chuyện "Mẹ
về báo mộng", họ hàng đều
cho rằng vì không nghe lời Mẹ
nên vợ chồng Dũng không đi
thoát được, tinh thần khoa học
của Quang bị khủng hoảng nặng nề.
Sau khi cùng với bà
con tổ chức lễ cầu siêu cho
gia đình Dũng xong, Quang phải quyết
định ngay có tham gia hay không một
chuyến vượt biên từ Vũng
Tầu. Với một tinh thần khoa học
bị khủng hoảng nặng nề vì chuyện
của La Hy cũng như chuyện vợ chồng
Dũng, Quang không còn biết quyết
định sao nữa. Vợ chồng Quang
thắp nhang khấn vái Mẹ, rồi làm
hai cái thăm "đi" và "ở" để
lên bàn thờ khấn vái để
xin Mẹ phù hộ.
Bốn lần khấn vái
xong, bốn lần đem thăm xuống để
bốc, lần nào Quang cũng bốc trúng
thăm "đi"!
Ðịnh mệnh đã
an bài, Quang tự nhủ, rồi quyết
định đóng vàng để ra
Vũng Tầu vượt biên, và
lần vượt biên này vợ
chồng Quang và đứa con nhỏ mới
hai tuổi đã đến được
bến bờ tự do!
Thuyền vượt biên
trong đó có gia đình Quang đã
được tầu chở hàng
của A Căn Ðình vớt đưa
vào Singapore. Tại đây Quang được
gặp nhiều người vượt
biên từ các trại ở Mã
Lai, Phi Luật Tân ghé qua trước
khi đi Mỹ. Trong số đó có
Kính, người đi chung chuyến vượt
biên với vợ con La Hy.
- Có phải anh là anh Kính
bị bắt hồi năm ngoái ở
Bến Tre phải không.
- Anh là anh Quang hả, anh tới
đây được lâu chưa.
- Tôi mới tới
được hai tuần.
- Tôi may mắn chỉ bị
nhốt vài tháng, được thả
ra tôi lại đi tiếp với cùng
nhóm tổ chức đó.
- Anh có biết anh La Hy không,
Quang thăm dò.
- Có, vợ con La Hy đi
chung chuyến với tôi.
- Thế hả, Quang mừng
lắm vì gặp được một
nhân chứng về việc "thần giao
cách cảm" của La Hy. Chuyến đi của
anh có bình yên không ?
- Kinh hoàng lắm anh Quang ạ.
Ði chưa ra tới biển thì bị
thuyền của công an rượt. Những
người tổ chức liều mạng
bắn trả thuyền của công an để
tháo chạy. Thuyền chở quá tải
mà chạy thoát được là
may.
- Thế mọi người
trên thuyền được bình yên
cả chứ, Quang tò mò hỏi tiếp.
- Ra biển được
hai ngày thì thiếu thực phẩm,
nước uống, mọi người
kêu gào hỗn loạn. Bỗng sàn
thuyền bị sập, nhiều người
bị thương, trong đó có vợ
con anh La Hy. Chị ta đau khổ quá trở
thành điên loạn, mấy người
phải giữ chị ấy để ngăn
chị ấy nhẩy xuống biển tự
tử.
Quang kể lại cho Kính nghe
chuyện La Hy nằm mơ ở nhà tù
Bến Tre, cả hai đều nghĩ rằng
phải chăng là "thần giao cách cảm!".
Hơn hai chục năm sau, Quang
không còn gặp một trường
hợp nào liên quan đến thế
giới vô hình. Quang sinh sống ở
tỉnh Quebec, nước Canada, trong môi trường
khoa học kỹ thuật. Nhiều lúc, Quang
suy nghĩ về những lần gặp gỡ
thế giới vô hình và tự
hỏi: phải chăng là những ngẫu
nhiên trùng hợp, những sản
phẩm của trí tưởng tượng?
Quang tự nhủ:
Thế giới vật chất
là vô tận, luôn luôn vận động,
luôn luôn tác động hỗ tương
giữa cái này và cái khác.
Chúng ta không thể phân biệt thế
giới hữu hình và thế
giới vô hình vì cả hai thế
giới đó chỉ là hai mặt
của thế giới vật chất.
Sự tìm hiểu thế
giới vật chất của con người
cũng mang tính cách vô tận vì
chính phần thể chất cũng như
phần ý thức của con người
cũng nằm trong cái thế giới
vật chất đó. Một thí dụ
đơn giản về tính ý thức
của vật chất là sức hút
sắt của thanh nam châm, sức hút
của trái đất tạo ra trọng lượng
của mỗi người v.v... Khi con người
quá nghiêng về phần ý thức
thì tạo ra các chủ nghĩa duy tâm,
ngược lại thì tạo ra những
chủ nghĩa duy vật. Những cái gì
khoa học đã khám phá ra thì
cho vào thế giới hữu hình,
những cái gì chưa biết đến
thì lại cho vào thế giới vô
hình.
Nếu chúng ta dùng trí
tưởng tượng để đi
ngược dòng thời gian, đem
đến cho người tiền sử
những đồ vật thường
dùng hàng ngày của chúng ta như
vô tuyến truyền thanh, truyền hình,
máy vi tính v.v... thì chắc chắn
người tiền sử sẽ cho rằng
chúng ta là thần thánh hay ma quái.
Ngược lại đi xuôi dòng thời
gian gặp người máy (robot) biết
khóc, biết cười, có thể
chúng ta sẽ lẫn lộn không biết
đâu là thật, đâu là giả
v.v...
Ngũ giác của chúng
ta vô cùng hạn chế nên chúng
ta không nhìn thấy muôn ngàn loại
ánh sáng xung quanh ta, không nghe thấy
muôn ngàn loại âm thanh, không nhận
được muôn ngàn loại sóng
ngắn, sóng dài v.v... Tất cả những
thứ đó quả thật là vô
hình đối với chúng ta, và
nếu chúng ta xếp tất cả những
thứ đó vào một thế giới
vô hình thì cũng là điều
tất nhiên. Và biết đâu những
thứ mà chúng ta cho là "thần
giao cách cảm" ngày hôm nay thì mai
sau lại chỉ là chuyện hiển nhiên
dễ hiểu.
Nhiều khi Quang thắc mắc
tại sao nhiều chuyện mê tín dị
đoan lại được lưu truyền
từ thế kỷ này qua thế kỷ
khác, không những được
hàng ngàn hàng vạn, hàng triệu
người tin mà có khi còn hàng
tỷ người cho là chuyện thiêng
liêng, là chân lý vĩnh cửu
v.v...
Con người cũng giống
như một hạt bụi của thế giới
vật chất vô tận, nên quá trình
suy nghĩ của con người cũng giống
như quá trình ý thức của
hạt bụi, không thể bao gồm tất
cả ý thức của thế giới
vật chất được. Nhưng nếu
con người nhìn vào chính bản
thân mình thì lại thấy cả một
thế giới vật chất vô tận
ở bên trong, ở đó trái
tim làm việc không ngưng nghỉ, dòng
máu luôn luôn lưu thông, hàng
tỷ tế bào luôn luôn tiến hóa
v.v... theo những quy luật thiên nhiên
mà con người đã, đang
và mãi mãi khám phá thêm.
Chính những quy luật
thiên nhiên vô tận là những
động lực để mọi vật trong
thế giới vật chất tác động
lên nhau, để những hạt bụi
hóa kiếp thành bản thân chúng
ta và rồi đến phiên chúng
ta trở về cát bụi. Chính những
quy luật đó đã bắt chúng
ta:
Bắt phong trần, phải
phong trần,
Cho thong dong mới được
phần thong dong
(Kiều)
Chính những quy luật thiên
nhiên đó đã đem lại cho
chúng ta niềm vui, nỗi khổ, đã
làm chúng ta ngây ngất say sưa, chán
chường tuyệt vọng:
Cũng liều nhắm
mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần
đến đâu
(Kiều)
Loài người vượt
xa loài vật vì loài người
luôn luôn tìm hiểu những quy luật
thiên nhiên để áp dụng vào
đời sống, để càng ngày
cuộc sống của con người càng
văn minh tiến bộ hơn. Nhưng sự
phức tạp của những quy luật
thiên nhiên thường vượt
quá khả năng suy nghĩ của con người,
và vì nhu cầu muốn giải thích
mọi sự kiện xẩy ra chung quanh thúc
đẩy, con người thường
chọn giải pháp dễ nhất là
chọn những nguyên nhân có tính
cách thiêng liêng huyền bí, chọn
những quy luật mê tín dị đoan.
Chẳng hạn như ngày xưa, khi chưa hiểu
biết gì về những khí tượng,
người ta cho rằng gió là do
"thần gió" làm ra, mưa là do "thần
mưa" v.v... Khi bị thất bại, nếu suy
xét về những nguyên nhân thì
thường vô cùng phức tạp
nên người ta có xu hướng
sử dụng quy luật phổ thông "chẳng
qua là do số mệnh". Chữ "số
mệnh" nếu giải thích là "tất
cả những điều kiện thiên
nhiên và xã hội khách quan, ngoài
tầm tay của người trong cuộc" thì
kể ra cũng vẫn có lý phần
nào.
Chính vì xu hướng
đơn giản hóa vấn đề
đó mà con người đôi
khi rơi vào những sai lầm đáng
tiếc. Chẳng hạn như hàng trăm
triệu người theo Hồi Giáo ngày
nay cũng như hàng trăm triệu người
trong thế giới cộng sản mấy
chục năm về trước tiếp
thu những tác động của sự
tuyên truyền thành một quy luật về
kiến thức của bản thân: "người
Mỹ là người xâm lăng tàn
bạo", để rồi căm thù tất
cả mọi người Mỹ một cách
cực kỳ mù quáng, không còn
khả năng phân biệt phải trái,
sẵn sàng giết cả những phần
tử ưu tú của nhân loại, những
người lao động và sáng
tạo để phục vụ cho nền văn
minh của loài người! Thực
ra người Mỹ cũng như bất
kỳ một dân tộc nào khác, cũng
có người lương thiện, cũng
có người xấu xa, cũng yêu
cũng ghét, cũng vui, cũng buồn
v.v...
Suy nghĩ về những
quy luật thiên nhiên, những động
lực tạo ra chính bản thân mình,
Quang cảm thấy như thoát ra khỏi đêm
tối của những thành kiến hẹp
hòi, của những hủ tục trong mọi
nền văn hóa. Tuy những quy luật
của thiên nhiên và xã hội có
tính cách vô tận, nhưng trong những
hoàn cảnh riêng biệt của một cá
nhân, thì lại chỉ có một số
hữu hạn mà ai chịu khó suy nghĩ
cũng đều có thể nắm vững
để sống hài hòa, hạnh phúc
với những quy luật đó.
Quang có cảm giác như nhìn thấy
tâm hồn và thể chất mình đang
tiến hóa theo đúng một số
quy luật mà Quang đã học hỏi
được:
- Mọi hiện tượng
luôn luôn phát sinh, tồn tại rồi
hủy diệt.
- Trong cái vui những nguyên
nhân của cái buồn bắt đầu
phát sinh, trong cái buồn đã ẩn
tàng mầm mống của cái vui.
- Trong cái may những nguyên
nhân của cái rủi bắt đầu
phát sinh, trong cái rủi đã ẩn
tàng mầm mống của cái may.
- Vật chất và ý
thức tuy là hai mặt của một thể
thống nhất không thể tách rời
được nhưng thường lại
chỉ xuất hiện dưới một mặt
trong sự nhận thức của con người.
- Mọi nhận thức của
con người đều dựa trên
những hiểu biết cá nhân trong
quá khứ. Không may thay, những
hiểu biết ấy lại chỉ là kết
quả của những hoàn cảnh thiên
nhiên và xã hội đã qua; chứ
không phải là sắp tới. Vì
vậy bất cứ ai cũng có thể
có những hành động điên
rồ mù quáng khi những hiểu
biết ấy có những sự lệch
hướng đáng tiếc. Từ
quan điểm đó, chúng ta có
thể tha thứ những kẻ phạm
tội một khi chúng không còn là
mối đe dọa cho những người
lương thiện.
- V.v...
Ðối với Quang, thế
giới vô hình không còn đem
lại những lo âu sợ hãi mà
chỉ là những gì mà loài
người chưa hiểu biết. Thế
giới vô hình cũng vô tận
như thời gian, như không gian, như
sự tồn tại của loài người,
như sự tìm hiểu các quy luật
thiên nhiên của loài người.
Sự tìm hiểu đó cũng là
một bản chất thiên nhiên của
loài người; nhưng sự áp
đặt bất cứ hình ảnh nào
của thế giới vô hình của
bất cứ chủ nghĩa hay giáo điều
nào cũng đều đưa đến
những sai lầm đáng tiếc trong
quan hệ giữa người với
người.
Phó Thường Dân
Tháng ba năm 2002
|