Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Sự thật mất lòng

"Thành là một gã nông dân thật thà chất phác, chăm chỉ làm ăn, có niềm tin sắt đá là ‘ở hiền sẽ gặp lành’, luôn luôn thành thật với mọi người. Thành không hiểu sao có người lại nói dối, không hiểu mọi người nghĩ gì mà lại nói dối. Một hôm mới đi cày về đến nhà thì Thành thấy hào quang sáng rực, Phật hiện ra với gương mặt từ bi. Thành quỳ sụp xuống:

- Lạy Phật, con thật có hồng phúc lớn nên mới được gặp Phật.

- Thấy con chăm chỉ làm ăn, ta ban cho con một điều ước, bây giờ con nghĩ kỹ đi, con ước gì thì con sẽ được điều đó.

- Lạy Phật, con không dám tham lam, con chỉ mong sao nhìn thấy được ý nghĩ của người khác để tránh bị người khác lừa gạt.

- Ta ban cho con điều mà con ước nguyện, nói xong Phật biến mất.

Thành như chợt tỉnh thấy mình còn đang quỳ dưới đất, không biết là mình có đang trong mơ hay không. Thành chạy ra ngoài vườn tìm vợ.

- Em ơi, anh vừa được gặp Phật.

- Quý hóa quá, anh đã tài giỏi bây giờ lại được gặp Phật chắc sẽ tài giỏi hơn nhiều nữa, vợ Thành trả lời.

Nhưng nhìn vào mắt vợ thì Thành lại thấy được ý nghĩ của vợ: "Cái thằng khờ này hôm nay lại giở trò khùng, thật khổ cho thân tôi, không biết kiếp trước tôi làm gì mà kiếp này tôi lại lấy phải thằng khùng này".

Thấy được ý nghĩ của vợ, Thành nghĩ là ước nguyện của mình đã được Phật độ. Thành chạy sang nhà hàng xóm, gặp Thật cũng mới đi cày về.

- Anh Thật ơi, hôm nay anh mạnh khỏe không.

- Cám ơn anh, hôm nay tôi thấy trong người mạnh khỏe lắm.

Nhưng nhìn vào mắt Thật thì Thành lại thấy được ý nghĩ của Thật: "Cái thằng ngốc này sao hôm nay lại học đòi lịch sự, không biết nó sang đây định nhờ vả mình việc gì, mình thật xui, đang mệt mỏi mà lại còn bị thằng ngốc sang quấy rầy".

Thành đi thăm tất cả bè bạn, bà con, đâu đâu người ta cũng niềm nở ngoài mặt với Thành, nhưng khi nhìn vào đôi mắt người đối diện thì Thành lại thấy được toàn những ý nghĩ dối trá, ghen tỵ, xấu xa. Quá thất vọng, Thành đi tới chùa, vào lễ Phật và cầu nguyện xin Phật lấy lại phép lạ để Thành khỏi phải nhìn thấy sự gian dối của người đời".

Bình cười lớn, cảm thấy vô cùng thích thú sau khi đọc xong câu chuyện vui. Bình là một sinh viên thông minh, mới vừa vào học ở đại học ở Sàigòn khoảng đầu thập niên 1960. Câu chuyện kích thích trí tò mò của Bình và từ đó Bình luôn luôn cố gắng đoán ý nghĩ của người khác, dựa trên nét mặt, giọng nói, thái độ của người đối diện. Mặc dầu không thể nào kiểm chứng kết quả dự đoán của mình nhưng Bình tự cho rằng mình đoán cũng không sai nhiều lắm.

Bốn mươi năm sau, sống qua nhiều chế độ, qua nhiều nền văn hóa, qua nhiều cuộc bể dâu, Bình thấy câu ca dao ngày xưa:

Dò sông dò biển dễ dò
Ðố ai lấy thước mà đo lòng người
Có thể diễn tả phần nào sự phức tạp của con người. Nhưng chuyện suy nghĩ về tâm lý con người vẫn là một nguồn vui của Bình. Có lần nhân đọc báo địa phương trong đó có tin tức:

"Agnette (một nữ bác sĩ tâm lý) nộp đơn để kiện Thomas (một nam bác sĩ tâm lý) vì mười năm trước, khi chưa là bác sĩ tâm lý, sau khi ly dị người chồng cũ Agnette bị khủng hoảng tinh thần và lúc đó có nhờ Thomas chữa trị. Khi đó Thomas đã lợi dụng hoàn cảnh cô đơn của Agnette để hoán chuyển tình yêu (love transfer) của Agnette và vì vậy Agnette đã trở thành người yêu của Thomas".

Bình rất thích thú khi biết rằng các bác sĩ tâm lý có thể hoán chuyển được tình yêu. Bình tự nhủ việc tìm hiểu tâm lý con người chẳng phải là chuyện dành riêng cho các chuyên viên tâm lý. Ai ai cũng cần biết các quy luật tâm lý để hiểu được chính mình, để hóa giải được những cảm xúc tiêu cực có hại cho sức khỏe tinh thần và vật chất của bản thân mình. Nhiệm vụ của các chuyên viên tâm lý là tìm kiếm ra những quy luật đó và giúp đỡ những bệnh nhân nhận thức những quy luật đó để có thể tự hóa giải được.

Bình rất thích thú khi tìm hiểu các quy luật:

- Hành động tạo ra cảm xúc.

- Niềm tin tạo ra sự lệ thuộc. Khi đã tin vào một chủ thuyết nào, con người dễ trở thành cuồng tín.

- Thay đổi diễn biến trong tư duy (inside movie) là một biện pháp hữu hiệu để xóa bỏ các cảm xúc tiêu cực.

- v.v...

Tâm lý của một cá nhân không những là nguồn gốc của sự sung sướng và đau khổ của người đó mà còn là một yếu tố quyết định cho sự suy nghĩ của người đó nữa.

Thương nhau củ ấu cũng tròn. Lãng mạng thay, khi con người yêu nhau thì cái gì dở cũng thành hay, méo cũng thành tròn v.v... để rồi đôi khi lại "Thương nhau thì lại bằng mười phụ nhau".

Hết thương lại đến ghét nên đôi khi "Thương nhau lắm, cắn nhau đau".

Bình tự nhủ rằng: tình cảm con người đôi khi che mờ cả lý trí, không còn biết tới phải trái. Cái gì của mình, của gia đình mình, của phe mình, của dân tộc mình v.v... đều cho là đúng là hay hơn của người khác. Ðó là một trong những nguồn gốc của sự bất đồng ý kiến, sự chia rẽ trong gia đình, trong xã hội, giữa các đảng phái, giữa các quốc gia, giữa các ý thức hệ, giữa các tôn giáo v.v...

Sự chia rẽ trong dân tộc Việt Nam làm cho rất nhiều người rất bi quan, có người than rằng "nơi nào có dân Việt Nam là có chia rẽ". Thực ra, sự bất đồng ý kiến cũng rất cần thiết cho sự tiến bộ và trong dân tộc nào mà không có chia rẽ. Riêng dân tộc Việt Nam, sự chia rẽ có thể trầm trọng hơn các dân tộc khác vì những lý do khách quan sau đây:

- Một ngàn năm đô hộ của giặc Tầu.

- Một trăm năm đô hộ của giặc Tây. Muốn dễ cai trị thì kẻ xâm lược luôn luôn phải "chia để trị", kích thích người miền nam đòi tách khỏi Việt Nam, ra sức bảo tồn phong kiến ở miền bắc để kìm hãm sự phát triển của nhân dân Việt Nam v.v...

- Ba mươi năm nội chiến từng ngày vì đất nước Việt Nam trở thành bãi chiến trường quốc tế của chiến tranh ý thức hệ.

- Năm mươi năm "trồng con người mới xã hội chủ nghĩa" ở miền bắc và ba mươi năm "trồng người" ở miền nam. Thay vì phát huy nền văn hóa sẵn có, người ta lại đòi xóa bỏ nó, nên đã tạo ra những hậu quả vô cùng tai hại: cái hay cũ thì mất gần hết, cái dở cũ thì lại phục hồi quá mau để giữ vai trò quan trọng trong xã hội; cái hay mới thì chưa xuất hiện đã sụp đổ với sự sụp đổ của ý thức hệ "chủ nghĩa cộng sản" trên thế giới, cái dở của cái mới chẳng hạn như lấy bạo lực để chuyên chính thì giữ vai trò thống trị trong xã hội.

- Phong thổ, khí hậu thay đổi rất nhanh từ bắc vô nam tạo ra sự khác biệt về giọng nói ngay đối với những vùng lân cận chẳng hạn như giọng Huế khác hẳn giọng Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Những cộng đồng người Việt ở các nước trên thế giới cũng được "thừa kế gia tài chia rẽ đó" nên càng kêu gọi đoàn kết thì lại càng chia rẽ hơn!

Sự bất đồng ý kiến rồi tới sự chia rẽ có thể xẩy ra trong mọi tầng lớp của xã hội, trong các mối liên hệ gia đình, xã hội, đảng phái, quốc gia, tôn giáo v.v... Từ sự cãi cọ, tranh luận đến sự thù hằn, sự trả đũa những đòn tấn công của đối phương rồi tới chiến tranh, con người thường luôn luôn nghĩ là chính nghĩa ở phe mình.

Khi sự bất đồng ý kiến vượt qua một giới hạn nào đó thì xẩy ra vợ chồng ly dị, gia đình tan rã, chia rẽ trong xã hội, sự tàn sát lẫn nhau giữa các đảng phái, giữa các quốc gia, giữa các ý thức hệ, giữa các tôn giáo v.v...

Bình tự nhủ muốn tránh những sự đổ vỡ đó thì chúng ta cần tìm hiểu nguyên do của những sự bất đồng ý kiến. Một khi ai ai cũng hiểu rõ nguyên do thật sự của sự bất đồng ý kiến thì sự đoàn kết, sự hòa giải để xây dựng hạnh phúc của cá nhân, của gia đình, của xã hội sẽ muôn phần dễ dàng hơn.

Sự bất đồng ý kiến giữa mọi người đa số là do sự khác biệt:

- Về học vấn, chẳng hạn như một người không được đi học nghĩ rằng cơn gió lốc lớn là do rồng hút nước.

- Về văn hóa, chẳng hạn như người phương đông thường nghĩ rằng người phương tây ít tình cảm hơn.

- Về nhiệm vụ, chẳng hạn như người bác sĩ dễ bị ám ảnh bởi vi trùng.

- Về tổ chức, chẳng hạn như đảng viên của một đảng phái chính trị cho rằng quyền lợi của đảng chính là quyền lợi của dân tộc.

- Về tôn giáo, chẳng hạn như những người theo Hồi giáo hiện nay cho là chính sách của chính phủ Mỹ là sai lầm, là tàn bạo.

- Về quyền lợi cá nhân, đây là sự bất đồng ý kiến thông dụng nhất vì để bảo vệ quyền lợi con người có thể gây ra mọi chuyện kể cả chiến tranh.

Bình nghĩ rằng nếu chúng ta quan niệm rằng những suy nghĩ của bản thân mình và của những người bất đồng ý kiến với mình bị các yếu tố trên chi phối nặng nề thì chúng ta đã tiến được một bước dài trong vấn đề tìm kiếm các biện pháp hòa bình để giải quyết mọi bất đồng.

Nhưng nghĩ sâu xa hơn, Bình thấy với kiến thức nông cạn của mình mà mình đã thấy rõ thì tại sao nhân loại còn đầy dẫy chia rẽ, còn đầy hiểm họa chiến tranh. Do tình cờ đọc cuốn sách "Psychology of Intelligence Analysis" của Richards J.Heuer, Jr., (1999), một tài liệu để huấn luyện các chuyên viên tình báo Hoa Kỳ, đặc trách phân tích tình hình các quốc gia trên thế giới, Bình mới hiểu thêm quá trình hoạt động của não bộ của chính bản thân mình.

Hoạt động của não bộ:

Theo kết quả của các công trình nghiên cứu về tâm lý học thì con người ít khi nào nhận thức được những gì xẩy ra trong não bộ của mình. Nhiều chức năng liên hệ tới sự nhận thức, trí nhớ và sự phân tích các dữ kiện được tiến hành độc lập đối với ý thức của con người. Vì sự giới hạn của khả năng trí tuệ nên con người không thể thích ứng trực tiếp với thế giới phức tạp ở chung quanh nên bộ não thường tạo ra những mối liên kết đơn giản hóa đối với thực tế và hoạt động bằng những mối liên kết đó. Chính những sự đơn giản hóa đã tạo ra những sự lệch hướng trong quá trình nhận thức của con người.

Tại sao chúng ta không thấy được sự thật:

Sự nhận thức của con người về một hiện tượng thiên nhiên hay xã hội luôn luôn bị ảnh hưởng lớn lao của kinh nghiệm trong quá khứ, học vấn, văn hóa, nhiệm vụ, tổ chức và quyền lợi của cá nhân đó cũng như những đặc tính riêng biệt của các hiện tượng đó. Vì vậy con người nhận thức thế giới chung quanh qua "lăng kính nhận thức" của bản thân mình. Quá trình nhận thức bằng ngũ giác của con người không phải là một quá trình thụ động (ghi nhận các hiện tượng) mà là một quá trình chủ động xây dựng hình ảnh của các hiện tượng khách quan bằng "lăng kính nhận thức" của bản thân mình. Vì vậy các hình ảnh đó luôn luôn khác biệt ít nhiều với sự thực. Dù chúng ta ý thức được sự hiện hữu của "lăng kính nhận thức" của chính bản thân mình thì chúng ta vẫn có thể không nhìn thấy sự thật vì các quy luật khách quan sau đây:

- Xu hướng thấy những gì "mình dự trù sẽ thấy": thí nghiệm chứng minh rằng những gì "mình dự trù sẽ thấy" bám sâu trong "lăng kính nhận thức" đến nỗi chúng có thể ảnh hưởng trên nhận thức của mình kể cả khi mình đã cảnh giác. Lý do chính là vì "lăng kính nhận thức" ẩn tàng trong phần vô thức chứ không phải trong phần ý thức của não bộ. Sự "dự trù sẽ thấy" tạo ra bởi kinh nhiệm trong quá khứ, sự huấn luyện, văn hóa và tổ chức của từng cá nhân.

- Ấn tượng dễ hình thành nhưng khó thay đổi: thí nghiệm chứng minh rằng ấn tượng lúc đầu rất dễ hình thành, nhưng một khi đã hình thành rồi thì bộ não của chúng ta luôn luôn dùng ấn tượng đó để nhận thức những cái mới. Do đó nhận thức mới thường bị biến dạng bởi những ấn tượng mà chúng ta đã có sẵn.

- Cái mới bị đồng hóa vào cái hiện hữu: thí nghiệm chứng minh rằng nhận thức do ngũ giác mang lại một khi đã hiện hữu trong não bộ sẽ có khả năng đồng hóa những nhận thức mới, sự kiện đó làm cho nhận thức những cái mới của chúng ta bị sai lạc.

- Sự tiếp xúc ban đầu với những nguồn tin thiếu chính xác có ảnh hưởng trên sự nhận thức chính xác ngay sau khi sự thật đã rõ ràng: thí nghiệm chứng minh rằng sau khi tiếp xúc với những nguồn tin sai lạc, trí não con người trở thành thiếu bén nhậy đối với những nguồn tin chính xác.

Bình suy xét lại bản thân mình, suy xét lại nhận thức của chính mình, suy xét về "lăng kính nhận thức" của mình để có thể nhận thức sự việc một cách chính xác hơn, để có thể điều chỉnh những sự thiếu sót do "lăng kính nhận thức" của bản thân. Bình nhận thấy quả thật những quy luật khách quan nêu trên đã làm cho suy nghĩ của Bình bị lệch hướng trong quá khứ. Vì lệch hướng nên con người đánh giá sai lầm hành động của người chung quanh, đánh giá sai lầm về bản thân mình, sa lầy vào những cảm xúc tiêu cực, sức mạnh tinh thần và vật chất bị hao mòn v.v...

Lệch hướng do tri giác:

Chúng ta nên phân biệt lệch hướng do tri giác với các loại lệch hướng do kinh nghiệm trong quá khứ, học vấn, văn hóa, nhiệm vụ, tổ chức, quyền lợi. Ðể đối phó với mọi sự kiện phức tạp trong đời sống hàng ngày, thường vượt khỏi khả năng suy luận của mình, con người thường đơn giản hóa mọi sự việc (quy nạp phóng đại), nghĩa là tạo ra những quy luật riêng cho sự suy luận của bản thân mình, dựa trên một số ít sự kiện mà bản thân đã trừng trải, chẳng hạn như sau khi nhận xét :

Anh A giầu có và không ăn gian

Anh B giầu có và không ăn gian

Anh C giầu có và không ăn gian

Thì đưa ra quy luật: Mọi người giầu có đều không ăn gian.

Dùng những quy luật tương tự như vậy để xét đoán mọi người thì thông thường cũng giúp cho con người đối phó được với sự phức tạp của đời sống, nhưng sẽ dẫn đến những sự suy xét lệch lạc, gọi là sự lệch lạc do tri giác (cognitive biases).

Sự lệch lạc này không do tình cảm hoặc cảm xúc hoặc thành kiến mà do quá trình nhận thức trong phần vô thức. Chẳng hạn như:

Chúng ta thường có cảm giác rằng vật nào ở gần thì rõ nét hơn. Thấy một vật không rõ nét, chúng ta thường nghĩ rằng vật đó ở xa hơn khoảng cách thật sự giữa ta và vật đó; ngược lại, thấy một vật rõ nét thì chúng ta lại nghĩ rằng vật đó ở gần hơn khoảng cách thực sự. Như vậy dựa trên "sự rõ nét" để ước lượng "khoảng cách" đưa đến sự lệch lạc.

"Lệch lạc do tri giác" cũng tương tự như ảo giác, dù có cảnh giác cũng vẫn bị lệch lạc. Cảnh giác về sự lệch lạc không đem lại cho ta nhận thức chính xác. Vì vậy "sự lệch lạc do tri giác" rất khó bị loại bỏ.

- Lệch hướng khi lượng giá các bằng cớ

Con người thường ít đánh giá cao các kết quả thống kê, mặc dầu đó là những bằng cớ có giá trị cao; trong suy luận ít chú ý đến sự thiếu bằng cớ; quá nhậy cảm đối với sự hợp lý của bằng cớ; thiếu nhậy cảm đối với giá trị thật của bằng cớ, chẳng hạn như ý kiến hợp lý của một thiểu số dễ bị lầm lẫn cho là dư luận của quần chúng.

- Lệch hướng trong quan niệm nhân quả

Nhận định dựa trên sự liên hệ nhân quả cần thiết cho sự giải thích các hiện tượng trong quá khứ, hiểu biết các hiện tượng đương thời, và dự đoán các hiện tượng tương lai. Những nhận định đó thường bị lệch hướng vì những yếu tố mà con người ít có ý thức. Con người thường tìm những nguyên nhân của các hiện tượng ngẫu nhiên, thường lượng giá thiếu chính xác về người khác. Con người cũng thường cho rằng hậu quả càng lớn thì nguyên nhân càng lớn. Khi nhận định về thái độ của người khác, con người thường nghiêng về tính chất và hoàn cảnh cá nhân mà ít chú ý đến hoàn cảnh khách quan. Con người cũng thường lượng giá quá cao sự quan trọng cá nhân mình trong nguyên nhân và mục tiêu của thái độ của người khác. Con người cũng hay có những ảo giác về những mối liên hệ chỉ vì không hiểu một cách trực giác các dữ kiện cần thiết cho sự hiện thực của các mối liên hệ đó.

- Lệch hướng trong sự lượng giá xác suất

Khi ta nghe dự báo thời tiết: xác suất của mưa ngày hôm nay là 80%, khi đi ra ngoài, chắc chắn chúng ta nên mang theo dù che mưa. Xác suất đó thường được tính toán dựa trên các dữ kiện khoa học chính xác. Nhưng đối với các hiện tượng hàng ngày xẩy ra chung quanh chúng ta thì khi lượng giá xác suất của một hiện tượng, con người thường dùng các dữ kiện không quan hệ gì đến xác suất, chẳng hạn như: giả thuyết có sẵn, hiện tượng mới xẩy ra, hiện tượng có liên hệ tới cá nhân mình, hiện tượng có những chi tiết đáng nhớ, tầm quan trọng của hiện tượng.

- Lệch hướng do bản chất của quá trình suy tư (hindsight biases).

Con người thường lượng giá quá cao sự chính xác của dự đoán trong quá khứ của bản thân mình.

Con người thường đánh giá quá thấp những điều mà họ biết được nhờ dự đoán của người khác.

Ðứng trước một hiện tượng đã xẩy ra, con người thường nghĩ rằng hiện tượng đó là chuyện tất yếu xẩy ra và có thể dự đoán trước được.

Sự lệch hướng của cả ba trường hợp đó là do sự sử dụng kiến thức hiện tại để xét đoán việc xẩy ra khi kiến thức đó chưa hình thành. Khi những dữ kiện mới được thu nhận, đầu óc con người đồng hóa ngay một cách vô thức vào những kiến thức có sẵn, hoặc những tư duy được tái cấu trúc để bao gồm được những dữ kiện đó.

Sau khi đã tái cấu trúc, chúng ta không thể trở lại trạng thái tư duy lúc trước, cũng giống như con chó của Pavlov sau khi nghe tiếng chuông bị nhỏ dãi không thể trở lại trạng thái tư duy trước khi nghe tiếng chuông.

Sự lệch hướng do chính quá trình suy tư là một sự lệch hướng rất khó điều chỉnh, mặc dù chúng ta đã cảnh giác cao.

Trả lời những câu hỏi sau đây có thể giúp chúng ta điều chỉnh sự lệch hướng đó:

Nếu là người dự đoán hiện tượng:

Giả thử hiện tượng đối nghịch đã xẩy ra thì ta có ngạc nhiên không?

Nếu là người đã nghe người khác dự đoán:

Nếu người khác dự đoán chuyện đối nghịch thì lúc đó mình có tin không?

Nếu là người khác:

Nếu chuyện đối nghịch đã xẩy ra, phải chăng là có thể dự đoán trước được?

Bình xét lại những suy nghĩ trong quá khứ của mình, những ảnh hưởng của "kinh nghiệm, học vấn, văn hóa, tôn giáo, nhiệm vụ, tổ chức, quyền lợi" đã làm cho Bình sai lạc biết bao nhiêu trong các quyết định trên đường đời, chẳng hạn như:

- Học tập với mục đích để làm quan: mục đích đó đã làm mất hẳn ý nghĩa của sự học tập, mất đi rất nhiều những phúc lợi của sự học tập, mất cả đi một số ngày tháng tươi đẹp của tuổi trẻ.

- Thích ngồi nhà mát, ăn bát vàng: quan niệm này đun đẩy Bình luôn luôn tìm cách trốn tránh lao động chân tay.

- Thích nhàn: quan điểm này tạo nên những giờ phút trống rỗng, buồn chán trong cuộc đời Bình.

- Thích làm người hùng: quan điểm này làm cho Bình háo thắng, thiếu khiêm tốn.

- Thiếu tinh thần cởi mở đối với người khác văn hóa, khác tôn giáo.

- v.v...

Nhưng ngoài những ảnh hưởng đó thì ngay cả quá trình suy nghĩ của Bình lại cũng đưa tới những sự lệch hướng khó tránh khỏi nhất là khi nhận định về người khác. Thế mà đã từ lâu Bình tự cho là mình có thể đọc được ý nghĩ của người khác giống như trong câu chuyện "Thành đã được Phật ban cho phép lạ để nhìn thấy ý nghĩ của người khác". Càng suy nghĩ Bình càng thấy trước kia mình đã phạm biết bao nhiêu sai lầm.

Và Bình chợt hiểu ra rằng những sự bất đồng ý kiến trong các thành viên của một gia đình, trong các thành phần giai cấp của xã hội, giữa các ý thức hệ, giữa các tôn giáo, giữa các đảng phái, giữa các quốc gia v.v... là kết quả tất yếu của những sự lệch hướng đó. Bình cảm thấy tương lai của nhân loại rực rỡ, sự hiểu biết về những sự lệch hướng đó sẽ giúp mọi người có thể dễ tha thứ cho nhau hơn, sẽ giúp mọi người giải quyết mọi bất đồng ý kiến, mọi mối bất hòa một cách hòa bình hơn. Bình hy vọng mình sẽ được chứng kiến ngày mà nhân loại xóa bỏ được bạo lực trong quan hệ giữa người với người.

Phó Thường Dân
Tháng ba năm 2002


Trang bìa 
Ðầu trang