Sự
thật mất lòng
"Thành
là một gã nông dân thật thà
chất phác, chăm chỉ làm ăn,
có niềm tin sắt đá là ‘ở
hiền sẽ gặp lành’, luôn luôn
thành thật với mọi người.
Thành không hiểu sao có người
lại nói dối, không hiểu mọi người
nghĩ gì mà lại nói dối. Một
hôm mới đi cày về đến
nhà thì Thành thấy hào quang sáng
rực, Phật hiện ra với gương
mặt từ bi. Thành quỳ sụp xuống:
- Lạy Phật, con thật có
hồng phúc lớn nên mới
được gặp Phật.
- Thấy con chăm chỉ làm
ăn, ta ban cho con một điều ước,
bây giờ con nghĩ kỹ đi, con
ước gì thì con sẽ được
điều đó.
- Lạy Phật, con không dám
tham lam, con chỉ mong sao nhìn thấy được
ý nghĩ của người khác
để tránh bị người khác
lừa gạt.
- Ta ban cho con điều mà
con ước nguyện, nói xong Phật biến
mất.
Thành như chợt tỉnh
thấy mình còn đang quỳ dưới
đất,
không biết là mình có đang
trong mơ hay không. Thành chạy ra ngoài
vườn tìm vợ.
- Em ơi, anh vừa được
gặp Phật.
- Quý hóa quá, anh đã
tài giỏi bây giờ lại được
gặp Phật chắc sẽ tài giỏi hơn
nhiều nữa, vợ Thành trả
lời.
Nhưng nhìn vào mắt
vợ thì Thành lại thấy được
ý nghĩ của vợ: "Cái thằng
khờ này hôm nay lại giở
trò khùng, thật khổ cho thân tôi,
không biết kiếp trước tôi
làm gì mà kiếp này tôi lại
lấy phải thằng khùng này".
Thấy được ý
nghĩ của vợ, Thành nghĩ là
ước nguyện của mình đã
được Phật độ. Thành
chạy sang nhà hàng xóm, gặp Thật
cũng mới đi cày về.
- Anh Thật ơi, hôm nay anh
mạnh khỏe không.
- Cám ơn anh, hôm nay tôi
thấy trong người mạnh khỏe lắm.
Nhưng nhìn vào mắt
Thật thì Thành lại thấy được
ý nghĩ của Thật: "Cái thằng
ngốc này sao hôm nay lại học đòi
lịch sự, không biết nó sang đây
định nhờ vả mình việc gì,
mình thật xui, đang mệt mỏi mà
lại còn bị thằng ngốc sang quấy
rầy".
Thành đi thăm tất
cả bè bạn, bà con, đâu đâu
người ta cũng niềm nở ngoài
mặt với Thành, nhưng khi nhìn vào
đôi mắt người đối
diện thì Thành lại thấy được
toàn những ý nghĩ dối trá,
ghen tỵ, xấu xa. Quá thất vọng, Thành
đi tới chùa, vào lễ Phật
và cầu nguyện xin Phật lấy lại
phép lạ để Thành khỏi phải
nhìn thấy sự gian dối của người
đời".
Bình cười lớn,
cảm thấy vô cùng thích thú
sau khi đọc xong câu chuyện vui. Bình
là một sinh viên thông minh, mới
vừa vào học ở đại
học ở Sàigòn khoảng đầu
thập niên 1960. Câu chuyện kích thích
trí tò mò của Bình và từ
đó Bình luôn luôn cố gắng
đoán ý nghĩ của người
khác, dựa trên nét mặt, giọng
nói, thái độ của người
đối diện. Mặc dầu không thể
nào kiểm chứng kết quả dự
đoán của mình nhưng Bình tự
cho rằng mình đoán cũng không
sai nhiều lắm.
Bốn mươi năm sau, sống
qua nhiều chế độ, qua nhiều nền
văn hóa, qua nhiều cuộc bể dâu,
Bình thấy câu ca dao ngày xưa:
Dò sông dò
biển dễ dò
Ðố ai lấy thước
mà đo lòng người
Có thể diễn tả phần
nào sự phức tạp của con người.
Nhưng chuyện suy nghĩ về tâm lý
con người vẫn là một nguồn
vui của Bình. Có lần nhân đọc
báo địa phương trong đó
có tin tức:
"Agnette (một nữ bác
sĩ tâm lý) nộp đơn để
kiện Thomas (một nam bác sĩ tâm lý)
vì mười năm trước,
khi chưa là bác sĩ tâm lý, sau
khi ly dị người chồng cũ Agnette
bị khủng hoảng tinh thần và lúc
đó có nhờ Thomas chữa
trị. Khi đó Thomas đã lợi
dụng hoàn cảnh cô đơn của
Agnette để hoán chuyển tình yêu
(love transfer) của Agnette và vì vậy Agnette
đã trở thành người
yêu của Thomas".
Bình rất thích thú
khi biết rằng các bác sĩ tâm
lý có thể hoán chuyển được
tình yêu. Bình tự nhủ việc
tìm hiểu tâm lý con người
chẳng phải là chuyện dành riêng
cho các chuyên viên tâm lý. Ai ai
cũng cần biết các quy luật tâm
lý để hiểu được chính
mình, để hóa giải được
những cảm xúc tiêu cực có
hại cho sức khỏe tinh thần và
vật chất của bản thân mình. Nhiệm
vụ của các chuyên viên tâm lý
là tìm kiếm ra những quy luật
đó và giúp đỡ những
bệnh nhân nhận thức những
quy luật đó để có thể
tự hóa giải được.
Bình rất thích thú
khi tìm hiểu các quy luật:
- Hành động tạo ra
cảm xúc.
- Niềm tin tạo ra sự
lệ thuộc. Khi đã tin vào một chủ
thuyết nào, con người dễ trở
thành cuồng tín.
- Thay đổi diễn biến
trong tư duy (inside movie) là một biện pháp
hữu hiệu để xóa bỏ các
cảm xúc tiêu cực.
- v.v...
Tâm lý của một cá
nhân không những là nguồn gốc
của sự sung sướng và đau
khổ của người đó mà
còn là một yếu tố quyết định
cho sự suy nghĩ của người đó
nữa.
Thương nhau củ ấu cũng
tròn. Lãng mạng thay, khi con người
yêu nhau thì cái gì dở cũng
thành hay, méo cũng thành tròn
v.v... để rồi đôi khi lại "Thương
nhau thì lại bằng mười phụ
nhau".
Hết thương lại đến
ghét nên đôi khi "Thương nhau lắm,
cắn nhau đau".
Bình tự nhủ rằng:
tình cảm con người đôi khi
che mờ cả lý trí, không còn
biết tới phải trái. Cái gì
của mình, của gia đình mình,
của phe mình, của dân tộc mình
v.v... đều cho là đúng là
hay hơn của người khác. Ðó
là một trong những nguồn gốc
của sự bất đồng ý kiến,
sự chia rẽ trong gia đình, trong xã
hội, giữa các đảng phái,
giữa các quốc gia, giữa các
ý thức hệ, giữa các tôn
giáo v.v...
Sự chia rẽ trong dân
tộc Việt Nam làm cho rất nhiều người
rất bi quan, có người than rằng
"nơi nào có dân Việt Nam là
có chia rẽ". Thực ra, sự bất
đồng ý kiến cũng rất cần
thiết cho sự tiến bộ và trong
dân tộc nào mà không có chia
rẽ. Riêng dân tộc Việt Nam, sự
chia rẽ có thể trầm trọng hơn
các dân tộc khác vì những
lý do khách quan sau đây:
- Một ngàn năm đô
hộ của giặc Tầu.
- Một trăm năm đô
hộ của giặc Tây. Muốn dễ cai
trị thì kẻ xâm lược luôn
luôn phải "chia để trị", kích
thích người miền nam đòi
tách khỏi Việt Nam, ra sức bảo
tồn phong kiến ở miền bắc
để kìm hãm sự phát triển
của nhân dân Việt Nam v.v...
- Ba mươi năm nội chiến
từng ngày vì đất nước
Việt Nam trở thành bãi chiến
trường quốc tế của chiến
tranh ý thức hệ.
- Năm mươi năm "trồng
con người mới xã hội chủ
nghĩa" ở miền bắc và ba mươi
năm "trồng người" ở miền
nam. Thay vì phát huy nền văn hóa
sẵn có, người ta lại đòi
xóa bỏ nó, nên đã tạo
ra những hậu quả vô cùng tai hại:
cái hay cũ thì mất gần hết,
cái dở cũ thì lại phục
hồi quá mau để giữ vai trò
quan trọng trong xã hội; cái hay mới
thì chưa xuất hiện đã sụp
đổ với sự sụp đổ
của ý thức hệ "chủ nghĩa
cộng sản" trên thế giới, cái
dở của cái mới chẳng
hạn như lấy bạo lực để
chuyên chính thì giữ vai trò
thống trị trong xã hội.
- Phong thổ, khí hậu thay
đổi rất nhanh từ bắc vô
nam tạo ra sự khác biệt về giọng
nói ngay đối với những
vùng lân cận chẳng hạn như giọng
Huế khác hẳn giọng Quảng Nam, Quảng
Ngãi.
Những cộng đồng
người Việt ở các nước
trên thế giới cũng được
"thừa kế gia tài chia rẽ đó"
nên càng kêu gọi đoàn kết
thì lại càng chia rẽ hơn!
Sự bất đồng
ý kiến rồi tới sự chia
rẽ có thể xẩy ra trong mọi tầng
lớp của xã hội, trong các mối
liên hệ gia đình, xã hội, đảng
phái, quốc gia, tôn giáo v.v... Từ
sự cãi cọ, tranh luận đến
sự thù hằn, sự trả đũa
những đòn tấn công của
đối phương rồi tới chiến
tranh, con người thường luôn
luôn nghĩ là chính nghĩa ở
phe mình.
Khi sự bất đồng
ý kiến vượt qua một giới
hạn nào đó thì xẩy ra vợ
chồng ly dị, gia đình tan rã, chia
rẽ trong xã hội, sự tàn sát
lẫn nhau giữa các đảng phái,
giữa các quốc gia, giữa các
ý thức hệ, giữa các tôn
giáo v.v...
Bình tự nhủ muốn
tránh những sự đổ vỡ
đó thì chúng ta cần tìm hiểu
nguyên do của những sự bất
đồng ý kiến. Một khi ai ai cũng
hiểu rõ nguyên do thật sự của
sự bất đồng ý kiến thì
sự đoàn kết, sự hòa
giải để xây dựng hạnh phúc
của cá nhân, của gia đình, của
xã hội sẽ muôn phần dễ dàng
hơn.
Sự bất đồng
ý kiến giữa mọi người
đa số là do sự khác biệt:
- Về học vấn, chẳng
hạn như một người không được
đi học nghĩ rằng cơn gió lốc
lớn là do rồng hút nước.
- Về văn hóa, chẳng
hạn như người phương đông
thường nghĩ rằng người
phương tây ít tình cảm hơn.
- Về nhiệm vụ, chẳng
hạn như người bác sĩ dễ
bị ám ảnh bởi vi trùng.
- Về tổ chức, chẳng
hạn như đảng viên của một
đảng phái chính trị cho rằng
quyền lợi của đảng chính
là quyền lợi của dân tộc.
- Về tôn giáo, chẳng
hạn như những người theo Hồi
giáo hiện nay cho là chính sách của
chính phủ Mỹ là sai lầm, là
tàn bạo.
- Về quyền lợi cá
nhân, đây là sự bất đồng
ý kiến thông dụng nhất vì để
bảo vệ quyền lợi con người
có thể gây ra mọi chuyện kể cả
chiến tranh.
Bình nghĩ rằng nếu
chúng ta quan niệm rằng những suy nghĩ
của bản thân mình và của những
người bất đồng ý kiến
với mình bị các yếu tố
trên chi phối nặng nề thì chúng
ta đã tiến được một
bước dài trong vấn đề
tìm kiếm các biện pháp hòa
bình để giải quyết mọi bất
đồng.
Nhưng nghĩ sâu xa hơn,
Bình thấy với kiến thức
nông cạn của mình mà mình đã
thấy rõ thì tại sao nhân loại
còn đầy dẫy chia rẽ, còn
đầy hiểm họa chiến tranh. Do tình
cờ đọc cuốn sách "Psychology
of Intelligence Analysis" của Richards J.Heuer, Jr., (1999), một
tài liệu để huấn luyện các
chuyên viên tình báo Hoa Kỳ, đặc
trách phân tích tình hình các
quốc gia trên thế giới, Bình
mới hiểu thêm quá trình hoạt
động của não bộ của chính
bản thân mình.
Hoạt động của não
bộ:
Theo kết quả của các
công trình nghiên cứu về tâm
lý học thì con người ít
khi nào nhận thức được
những gì xẩy ra trong não bộ của
mình. Nhiều chức năng liên hệ
tới sự nhận thức, trí
nhớ và sự phân tích các
dữ kiện được tiến hành
độc lập đối với ý
thức của con người. Vì sự
giới hạn của khả năng trí
tuệ nên con người không thể
thích ứng trực tiếp với
thế giới phức tạp ở
chung quanh nên bộ não thường tạo
ra những mối liên kết đơn
giản hóa đối với thực
tế và hoạt động bằng những
mối liên kết đó. Chính những
sự đơn giản hóa đã
tạo ra những sự lệch hướng
trong quá trình nhận thức của
con người.
Tại sao chúng ta không thấy
được sự thật:
Sự nhận thức của
con người về một hiện tượng
thiên nhiên hay xã hội luôn luôn
bị ảnh hưởng lớn lao của
kinh nghiệm trong quá khứ, học vấn,
văn hóa, nhiệm vụ, tổ chức
và quyền lợi của cá nhân
đó cũng như những đặc
tính riêng biệt của các hiện tượng
đó. Vì vậy con người nhận
thức thế giới chung quanh qua "lăng
kính nhận thức" của bản thân
mình. Quá trình nhận thức bằng
ngũ giác của con người không
phải là một quá trình thụ động
(ghi nhận các hiện tượng) mà
là một quá trình chủ động
xây dựng hình ảnh của các
hiện tượng khách quan bằng "lăng
kính nhận thức" của bản thân
mình. Vì vậy các hình ảnh đó
luôn luôn khác biệt ít nhiều
với sự thực. Dù chúng
ta ý thức được sự
hiện hữu của "lăng kính nhận
thức" của chính bản thân mình
thì chúng ta vẫn có thể không
nhìn thấy sự thật vì các
quy luật khách quan sau đây:
- Xu hướng thấy những
gì "mình dự trù sẽ thấy":
thí nghiệm chứng minh rằng những
gì "mình dự trù sẽ thấy"
bám sâu trong "lăng kính nhận thức"
đến nỗi chúng có thể ảnh
hưởng trên nhận thức của
mình kể cả khi mình đã cảnh
giác. Lý do chính là vì "lăng
kính nhận thức" ẩn tàng trong
phần vô thức chứ không
phải trong phần ý thức của não
bộ. Sự "dự trù sẽ thấy"
tạo ra bởi kinh nhiệm trong quá khứ,
sự huấn luyện, văn hóa và
tổ chức của từng cá nhân.
- Ấn tượng dễ
hình thành nhưng khó thay đổi:
thí nghiệm chứng minh rằng ấn
tượng lúc đầu rất dễ
hình thành, nhưng một khi đã hình
thành rồi thì bộ não của chúng
ta luôn luôn dùng ấn tượng
đó để nhận thức những
cái mới. Do đó nhận thức
mới thường bị biến dạng
bởi những ấn tượng mà
chúng ta đã có sẵn.
- Cái mới bị đồng
hóa vào cái hiện hữu: thí
nghiệm chứng minh rằng nhận thức
do ngũ giác mang lại một khi đã
hiện hữu trong não bộ sẽ có
khả năng đồng hóa những
nhận thức mới, sự kiện
đó làm cho nhận thức những
cái mới của chúng ta bị sai
lạc.
- Sự tiếp xúc ban
đầu với những nguồn tin
thiếu chính xác có ảnh hưởng
trên sự nhận thức chính xác
ngay sau khi sự thật đã rõ ràng:
thí nghiệm chứng minh rằng sau khi tiếp
xúc với những nguồn tin sai
lạc, trí não con người trở
thành thiếu bén nhậy đối với
những nguồn tin chính xác.
Bình suy xét lại bản
thân mình, suy xét lại nhận thức
của chính mình, suy xét về "lăng
kính nhận thức" của mình để
có thể nhận thức sự việc
một cách chính xác hơn, để
có thể điều chỉnh những
sự thiếu sót do "lăng kính nhận
thức" của bản thân. Bình nhận
thấy quả thật những quy luật khách
quan nêu trên đã làm cho suy nghĩ
của Bình bị lệch hướng trong
quá khứ. Vì lệch hướng
nên con người đánh giá
sai lầm hành động của người
chung quanh, đánh giá sai lầm về
bản thân mình, sa lầy vào những
cảm xúc tiêu cực, sức mạnh
tinh thần và vật chất bị hao mòn
v.v...
Lệch hướng do tri giác:
Chúng ta nên phân biệt
lệch hướng do tri giác với
các loại lệch hướng do kinh nghiệm
trong quá khứ, học vấn, văn hóa,
nhiệm vụ, tổ chức, quyền lợi.
Ðể đối phó với mọi
sự kiện phức tạp trong đời
sống hàng ngày, thường vượt
khỏi khả năng suy luận của mình,
con người thường đơn
giản hóa mọi sự việc (quy nạp
phóng đại), nghĩa là tạo ra những
quy luật riêng cho sự suy luận của
bản thân mình, dựa trên một
số ít sự kiện mà bản thân
đã trừng trải, chẳng hạn
như sau khi nhận xét :
Anh A giầu có và không
ăn gian
Anh B giầu có và không
ăn gian
Anh C giầu có và không
ăn gian
Thì đưa ra quy luật:
Mọi người giầu có đều
không ăn gian.
Dùng những quy luật
tương tự như vậy để xét
đoán mọi người thì thông
thường cũng giúp cho con người
đối phó được với
sự phức tạp của đời
sống, nhưng sẽ dẫn đến những
sự suy xét lệch lạc, gọi là
sự lệch lạc do tri giác (cognitive biases).
Sự lệch lạc này
không do tình cảm hoặc cảm xúc
hoặc thành kiến mà do quá trình
nhận thức trong phần vô thức.
Chẳng hạn như:
Chúng ta thường có
cảm giác rằng vật nào ở
gần thì rõ nét hơn. Thấy một
vật không rõ nét, chúng ta thường
nghĩ rằng vật đó ở xa
hơn khoảng cách thật sự giữa
ta và vật đó; ngược lại,
thấy một vật rõ nét thì chúng
ta lại nghĩ rằng vật đó ở
gần hơn khoảng cách thực sự.
Như vậy dựa trên "sự rõ
nét" để ước lượng
"khoảng cách" đưa đến sự
lệch lạc.
"Lệch lạc do tri giác" cũng
tương tự như ảo giác, dù
có cảnh giác cũng vẫn bị
lệch lạc. Cảnh giác về sự
lệch lạc không đem lại cho ta nhận
thức chính xác. Vì vậy "sự
lệch lạc do tri giác" rất khó bị
loại bỏ.
- Lệch hướng khi lượng
giá các bằng cớ
Con người thường
ít đánh giá cao các kết quả
thống kê, mặc dầu đó là
những bằng cớ có giá
trị cao; trong suy luận ít chú ý đến
sự thiếu bằng cớ; quá
nhậy cảm đối với sự
hợp lý của bằng cớ; thiếu
nhậy cảm đối với giá
trị thật của bằng cớ, chẳng
hạn như ý kiến hợp lý của
một thiểu số dễ bị lầm lẫn
cho là dư luận của quần chúng.
- Lệch hướng trong quan
niệm nhân quả
Nhận định dựa
trên sự liên hệ nhân quả cần
thiết cho sự giải thích các hiện
tượng trong quá khứ, hiểu
biết các hiện tượng đương
thời, và dự đoán các
hiện tượng tương lai. Những
nhận định đó thường
bị lệch hướng vì những
yếu tố mà con người ít
có ý thức. Con người thường
tìm những nguyên nhân của các
hiện tượng ngẫu nhiên, thường
lượng giá thiếu chính xác
về người khác. Con người
cũng thường cho rằng hậu quả
càng lớn thì nguyên nhân càng
lớn. Khi nhận định về thái
độ của người khác, con người
thường nghiêng về tính chất
và hoàn cảnh cá nhân mà ít
chú ý đến hoàn cảnh khách
quan. Con người cũng thường
lượng giá quá cao sự quan trọng
cá nhân mình trong nguyên nhân và
mục tiêu của thái độ của
người khác. Con người cũng
hay có những ảo giác về những
mối liên hệ chỉ vì không hiểu
một cách trực giác các dữ
kiện cần thiết cho sự hiện thực
của các mối liên hệ đó.
- Lệch hướng trong sự
lượng giá xác suất
Khi ta nghe dự báo thời
tiết: xác suất của mưa ngày
hôm nay là 80%, khi đi ra ngoài, chắc
chắn chúng ta nên mang theo dù che mưa.
Xác suất đó thường được
tính toán dựa trên các dữ
kiện khoa học chính xác. Nhưng đối
với các hiện tượng hàng
ngày xẩy ra chung quanh chúng ta thì khi
lượng giá xác suất của
một hiện tượng, con người
thường dùng các dữ kiện
không quan hệ gì đến xác suất,
chẳng hạn như: giả thuyết có
sẵn, hiện tượng mới xẩy
ra, hiện tượng có liên hệ tới
cá nhân mình, hiện tượng có
những chi tiết đáng nhớ,
tầm quan trọng của hiện tượng.
- Lệch hướng do bản
chất của quá trình suy tư (hindsight
biases).
Con người thường
lượng giá quá cao sự chính
xác của dự đoán trong quá
khứ của bản thân mình.
Con người thường
đánh giá quá thấp những
điều mà họ biết được
nhờ dự đoán của người
khác.
Ðứng trước
một hiện tượng đã xẩy
ra, con người thường nghĩ
rằng hiện tượng đó là
chuyện tất yếu xẩy ra và có
thể dự đoán trước được.
Sự lệch hướng
của cả ba trường hợp đó
là do sự sử dụng kiến thức
hiện tại để xét đoán việc
xẩy ra khi kiến thức đó chưa
hình thành. Khi những dữ kiện
mới được thu nhận, đầu
óc con người đồng hóa
ngay một cách vô thức vào những
kiến thức có sẵn, hoặc những
tư duy được tái cấu trúc
để bao gồm được những
dữ kiện đó.
Sau khi đã tái cấu
trúc, chúng ta không thể trở
lại trạng thái tư duy lúc trước,
cũng giống như con chó của Pavlov sau
khi nghe tiếng chuông bị nhỏ dãi không
thể trở lại trạng thái tư
duy trước khi nghe tiếng chuông.
Sự lệch hướng
do chính quá trình suy tư là một
sự lệch hướng rất khó
điều chỉnh, mặc dù chúng ta
đã cảnh giác cao.
Trả lời những
câu hỏi sau đây có thể giúp
chúng ta điều chỉnh sự lệch
hướng đó:
Nếu là người
dự đoán hiện tượng:
Giả thử hiện tượng
đối nghịch đã xẩy ra thì
ta có ngạc nhiên không?
Nếu là người
đã nghe người khác dự
đoán:
Nếu người khác
dự đoán chuyện đối nghịch
thì lúc đó mình có tin không?
Nếu là người
khác:
Nếu chuyện đối nghịch
đã xẩy ra, phải chăng là có
thể dự đoán trước được?
Bình xét lại những
suy nghĩ trong quá khứ của mình,
những ảnh hưởng của "kinh
nghiệm, học vấn, văn hóa, tôn
giáo, nhiệm vụ, tổ chức, quyền
lợi" đã làm cho Bình sai lạc
biết bao nhiêu trong các quyết định
trên đường đời, chẳng
hạn như:
- Học tập với mục
đích để làm quan: mục đích
đó đã làm mất hẳn
ý nghĩa của sự học tập, mất
đi rất nhiều những phúc lợi
của sự học tập, mất cả đi
một số ngày tháng tươi đẹp
của tuổi trẻ.
- Thích ngồi nhà mát,
ăn bát vàng: quan niệm này đun
đẩy Bình luôn luôn tìm cách
trốn tránh lao động chân tay.
- Thích nhàn: quan điểm
này tạo nên những giờ phút
trống rỗng, buồn chán trong cuộc
đời Bình.
- Thích làm người
hùng: quan điểm này làm cho Bình
háo thắng, thiếu khiêm tốn.
- Thiếu tinh thần cởi
mở đối với người
khác văn hóa, khác tôn giáo.
- v.v...
Nhưng ngoài những ảnh
hưởng đó thì ngay cả quá
trình suy nghĩ của Bình lại cũng
đưa tới những sự lệch
hướng khó tránh khỏi nhất
là khi nhận định về người
khác. Thế mà đã từ
lâu Bình tự cho là mình có
thể đọc được ý nghĩ
của người khác giống như
trong câu chuyện "Thành đã được
Phật ban cho phép lạ để nhìn thấy
ý nghĩ của người khác".
Càng suy nghĩ Bình càng thấy trước
kia mình đã phạm biết bao nhiêu
sai lầm.
Và Bình chợt hiểu
ra rằng những sự bất đồng
ý kiến trong các thành viên của
một gia đình, trong các thành phần
giai cấp của xã hội, giữa các
ý thức hệ, giữa các tôn
giáo, giữa các đảng phái,
giữa các quốc gia v.v... là kết
quả tất yếu của những sự
lệch hướng đó. Bình cảm
thấy tương lai của nhân loại rực
rỡ, sự hiểu biết về những
sự lệch hướng đó sẽ
giúp mọi người có thể dễ
tha thứ cho nhau hơn, sẽ giúp mọi
người giải quyết mọi bất
đồng ý kiến, mọi mối bất
hòa một cách hòa bình hơn. Bình
hy vọng mình sẽ được chứng
kiến ngày mà nhân loại xóa
bỏ được bạo lực trong quan
hệ giữa người với người.
Phó Thường Dân
Tháng ba năm 2002
|