Quê
hương tôi, một thiên đường xã hội chủ nghĩa
Do Phó Thường Dân viết để
kính tặng nhân dân trong nước Việt Nam.
Sự phát triển của trí tuệ loài
người đã đưa dần tới kinh tế thị trường toàn cầu,
đã soi sáng những sự kiện lịch sử, đã đưa chúng ta thoát
dần ra khỏi những u mê về lòng ái quốc, về sự sùng tín
cá nhân, về sự thần thánh hoá kẻ cầm quyền, về những
khuôn vàng thước ngọc lỗi thời, về quê hương v.v...
Quê hương cũng lớn lên theo kiến
thức loài người, từ xóm làng trong lũy tre xanh, quê hương
bao trùm sông núi, rồi quê hương trải dài ra lục địa, ra
cả quả địa cầu.
Nhưng với đa số loài người hiện
tại thì quê hương vẫn là còn bé nhỏ, trong đó người ta
thường có chung một nền văn hoá, một tổ chức xã hội
với những luật lệ chung cho tất cả mọi người. Với tầm
nhìn đó thì quê tôi hiện tại là Québec, ở trong nước Canada;
và tôi là người Québec gốc Việt Nam.
Tôi được sinh ra giữa chiến tranh
thế giới thứ hai ở miền Bắc Việt Nam, lớn lên ở miền
Nam. Cũng với quan điểm nói trên thì quê thứ nhất của tôi
là một làng ở miền bắc nước Việt Nam, tôi có cảm giác
quê hương này xa dần theo thời gian, kỷ niệm cũng chẳng
có bao nhiêu vì khi ra đi mới có tám tuổi. Quê thứ hai là
Sàigòn với ít nhiều dấu vết của đế quốc Pháp, với
ít nhiều ảnh hưởng văn hoá phương tây. Quê thứ ba là Sàigòn
sau 1975, với giai cấp thống trị khác, với nền văn hoá khác,
luật lệ khác, quan hệ giữa người với người khác. Quê
thứ tư là Québec, Canada với đa văn hoá, đa ngôn ngữ, nhiều
chủng tộc.
Mấy chục năm trước, Québec còn
nghèo nàn và lạc hậu lắm, đàn bà không có quyền bầu phiếu,
còn có nhiệm vụ đẻ cả chục đứa con. Trải qua một cuộc
cách mạng hoà bình, không đổ máu, không có cả nước mắt,
Québec bây giờ đã có một hệ thống xã hội tiên tiến,
cuộc sống của từng người dân được bảo đảm, công
chức thực sự là người làm công cho nhân dân (không có nạn
tham nhũng, không cần khoác áo đạo đức giả như "đầy tớ
của nhân dân") chính quyền được nhân dân trực tiếp bầu
lại bốn năm một lần để giữ vai trò làm trung gian cho sự
cạnh tranh của kinh tế thị trường. Theo thiển ý của tôi
thì xã hội ở đây cũng giống như một thiên đàng xã hội
chủ nghĩa vì những lý do sau đây:
- quyền lợi của dân nghèo đã
vượt xa tất cả những đòi hỏi của bản tuyên ngôn cộng
sản quốc tế năm 1848.
- chính quyền ở đây là một chính
quyền tiêu vong, kẻ cầm quyền không được đứng trên luật
pháp, mà trái lại, luôn luôn dưới sự kiểm soát của nhân
dân, của pháp luật; chính quyền ở đây bị dân kiện cáo
thường xuyên, và phải bồi thường nếu làm không đúng luật
lệ; báo chí bêu xấu Thủ Tướng thường xuyên; gọi bằng
tên họ, chẳng hạn như Chrétien chứ không phải
ngài Chrétien.
- ai ai cũng say sưa làm việc, làm
hết năng lực, ăn mặc và ở theo nhu cầu,không cần phải
nhân danh xã hội hay đảng phái mà chỉ để cải thiện đời
sống của cá nhân mình, của gia đình mình; chưa bao giờ người
ta thấy những khẩu hiệu thi đua lao động, không có ai là
anh hùng lao động. Những người già yếu bệnh tật thì được
quỹ an ninh xã hội lo cho đầy đủ, được cấp nhà ở theo
nhu cầu. Người đi làm lương thấp thì không những được
miễn thuế, lại còn được trợ cấp thêm.
- đại đa số ddân chúng đều tôn
trọng luật pháp, sẵn sàng bảo vệ công bằng xã hội, tham
gia công tác từ thiện, bác ái v.v...
Chính quyền ở đây gồm ba cấp:
chính quyền liên bang (Canada), chính quyền tỉnh bang (Québec)
và chính quyền thị trấn. Mọi cấp chính quyền đều do
dân bầu ra, Thủ Tướng Canada không có quyền hành gì đối
với Thủ Tướng của Québec hoặc Thị Trưởng một thị trấn.
Mỗi cấp chính quyền lại có ngân sách hoàn toàn độc lập
do các thứ thuế khác nhau, chẳng hạn như ngân sách của mỗi
thị trấn là do thuế nhà cửa trong thị trấn ấy. Chính quyền
mỗi cấp chẳng qua chỉ là những người đại diện của
nhân dân được bầu ra, trong mỗi nhiệm kỳ bốn năm, để
quản lý ngân sách ấy để làm tròn nhiệm vụ do những người
đóng thuế giao phó, chứ không phải là để cai trị người
đóng thuế!!
Trước đây, Québec cũng là thuộc
địa của nước Ðế Quốc Anh. Trong mấy chục năm trời,
người dân ở đây từ tình trạng nghèo nàn lạc hậu tiến
lên thiên đường xã hội chủ nghĩa một cách hoà bình hạnh
phúc, không phải trải qua đấu tranh giai cấp bạo động,
không phải trải qua căm thù giai cấp, không phải trải qua
một hình thức chuyên chính nào.
Lịch sử cận đại của Québec
làm cho mọi người ngạc nhiên về cuộc cách mạng bất bạo
động; người dân ở đây tự hỏi tại sao ở nhiều nơi
trên trái đất con người lại xây dựng xã hội bằng bạo
động và căm thù? Hơn nửa thế kỷ trước, Gandhi không cần
tới bạo lực mà vẫn giành được độc lập cho Ấn Ðộ
khỏi tay đế quốc Anh, không biết tại sao có nơi lại phải
nồi da xáo thịt để xây dựng một xã hội mới. Bạo động
và căm thù có thể đem lại sức mạnh nhất thời, ngắn hạn,
nhưng sẽ đưa đến những tai hại lâu dài. Bạo lực và căm
thù có thể hữu hiệu khi chống ngoại xâm, nhưng đồng thời
có thể đưa cảdân tộc xuống vực thẳm trong chiến tranh
thế giới về ý thức hệ (chẳng hạn như thảm nạn của
dân tộc Kămpuchia).
Chúng ta thử tìm hiểu tại sao Québec
lại có thể từ nghèo nàn lạc hậu chuyển sang thiên đàng
xã hội chủ nghĩa chỉ trong vòng có mấy chục năm.
1) Xã hội chủ nghĩa là gì?
Hiện nay người ta thường hay phân
biệt chế độ nước này là dân chủ tư sản pháp trị, chế
độ nước kia là phong kiến lạc hậu hay xã hội chủ nghĩa.
Theo thiển ý của tôi thì từ khi có xã hội loài người,
mọi xã hội đều là theo xã hội chủ nghĩa, chỉ có khác
nhau là ở chỗ sản xuất, phân phối sản phẩm, là ở quan
hệ giữa người với người, chẳng hạn như quan hệ giữa
chủ với nô lệ, giữa vua với quần thần, giữa vợ với
chồng v.v...Nói một cách khác chỉ khác nhau ở hình thức
của xã hội chủ nghĩa. Ngay đối với chế độ độc tài
công khai, vua chúa hay kẻ lãnh đạo cũng luôn luôn phải mang
chiêu bài vì dân vì nước (nghĩa là mang chiêu bài xã hội
chủ nghĩa) để giảm sức chống đối của nhân dân, hoặc
để lừa gạt nhân dân.
Ngược dòng thời gian trở về thời
tiền sử, con người đã biết hợp quần để có sức mạnh.
Như một quy luật thiên nhiên, con người luôn luôn tìm cách
để cải thiện năng suất lao động để có nhiều của cải
hơn, để có cuộc sống an toàn hơn, hạnh phúc hơn. Ðể làm
việc đó, sự hình thành các bộ lạc (hình thức đầu tiên
của chủ nghĩa xã hội), rồi dần dần đến các quốc gia
(hình thức cao hơn của chủ nghĩa xã hội) là tất yếu.
Nhưng khi xã hội hình thành thì mọi hoạt động của các
thành viên phải phối hợp với nhau lao động mới có năng
suất, người lãnh đạo xã hội trở thành một nhu cầu căn
bản trong giai đoạn đầu của lịch sử xã hội loài người.
Vì nhu cầu cải thiện đời sống giống như một quy luật
thiên nhiên nên kẻ thống trị phải luôn luôn tìm cách tăng
năng suất. Khi trình độ xã hội còn sơ khai (bộ lạc) thì
chế độ nô lệ giúp cho người lãnh đạo dễ điều động
nhân lực. Về mặt năng suất lao động thì có lợi nhưng
quan hệ giữa người với người thì là sự bóc lột thô
thiển nhất. Từ sự đàn áp trong nội bộ những bộ lạc
đến sự cướp đoạt của bộ lạc này đối với bộ lạc
khác, tới sự đô hộ của quốc gia này đối với quốc gia
khác... Về hình thức thì sự đàn áp và sự cướp đoạt
đều mang tính cách làm tăng nhẩy vọt năng suất lao động,
nhưng về nội dung thì đó chỉ là sự tăng giả tạo (ở
đây chúng ta không bàn về thiện hay ác), vì sau khi chiếm
đoạt được tài sản, con người vẫn cần lao động trên
tài sản đó để sản suất, vẫn cần khả năng kỹ thuật,
tổ chức để sản xuất.
Sự đàn áp và sự cướp đoạt
tạo nên sự đấu tranh gay gắt, sống còn giữa người với
người trong suốt quá trình lịch sử, mang tính cách "lý của
kẻ mạnh luôn luôn đúng!" hoặc "được làm vua, thua làm giặc!".
Vì vậy có người đã than rằng "lịch sử của xã hội loài
người chẳng qua chỉ là chuyện của những kẻ lừa bịp
và những người bị bịp, kẻ bịp bợm thì thành vua chúa,
người bị bịp thì là quần chúng nhân dân!". Ðể tăng cường
sức mạnh trong việc đàn áp và cướp đoạt, con người đã
tạo ra nhiều hệ thống đạo đức luân lý khác nhau, chẳng
hạn như:
- Vua là con trời!
- Trai thì trung hiếu làm đầu!
- Gái thì tiết nghĩa làm câu sửa
mình! v.v...
Các hệ thống luân lý đạo đức
đó đã từng được dùng làm bình phong để che đậy những
hành động dã man, tàn bạo nhất của loài người, một nhà
tù vô hình hành hạ các tâm hồn ngây thơ vô tội:
- Ai đem lễ giáo giam em! (trích TTKH)
- Ai đem bạo lực nhấn chìm tài
hoa!
Nói như vậy, không phải là phủ
nhận hết mọi giá trị đạo đức trong quá khứ của con
người. Ðể hiểu rõ hơn về xã hội chủ nghĩa của loài
người, về giá trị của đạo đức của con người, chúng
ta có thể dựa trên những nhu cầu của con người, những
động lực thầm kín thúc đẩy con người tạo ra xã hội
chủ nghĩa, để phân tích và xét đoán.
2) Nhu cầu của con người.
Ðể đơn giản hoá vấn đề, chúng
ta có thể phân ra ba loại nhu cầu:
- nhu cầu sinh lý, chẳng hạn như
ăn no, mặc ấm.
- nhu cầu vật chất, chẳng hạn
như ăn ngon, mặc đẹp. Loại nhu cầu này thúc đẩy loài người
tiến lên, càng ngày càng xa loài vật, nhưng đồng thời cũng
đã tạo ra muôn vàn tội ác.
- nhu cầu tâm lý. Ðây là loại
nhu cầu phức tạp nhất, bao gồm cả văn hoá, tôn giáo, đạo
đức v.v..., bao gồm cả hỉ nộ, ái ố, tham sân si!
Ba loại nhu cầu này thường có
ảnh hưởng hỗ tương, làm cho chúng tathường rơi vào mê
hồn trận, thường cần có người khác chỉ đường dẫn
lối.
Nhu cầu hiểu rõ những gì xảy
ra chung quanh ta (một nhu cầu tâm lý) thúc đẩy con người
tìm cách giải thích các hiện tượng khách quan về thiên nhiên
và xã hội. Nhu cầu này đã thúc đẩy khoa học tiến lên,
nhưng khi nhu cầu vượt quá khả năng của con người thì nhiều
khi con người lại thay thế khả năng khoa học bằng phép lạ,
bằng thần thánh; chẳng hạn như:
- thần gió, thần mưa,
- thần tài,
- v.v...
Vì nhu cầu vượt quá khả năng,
thần thánh thì vô hình, lạy lục mãi không thấy ứng nghiệm,
con người tìm cách thần thánh hoá những gì cụ thể như
lãnh tụ chẳng hạn. Vì vậy người xưa đã có câu:
"Chim khôn tìm cành mà đậu
Người khôn chọn chúa mà thờ!!"
Ðứng trước khó khăn vô vàn của
thiên nhiên và xã hội, tìm được chúa để giao tấm thân
bọt bèo cũng giải quyết được những nhu cầu tâm lý thúc
bách vậy!! Ðược chúa dẫn đi ăn cướp thì cũng được
bữa cơm bữa cháo qua ngày!!
Cho đến ngày nay, ở những nơi
kinh tế chưa phát triển, ăn không đủ no, mặc không đủ
ấm, nhu cầu này cũng vẫn còn là nguyên nhân gây nên nạn
sùng tín cá nhân!
Nhưng đó là một nhu cầu tâm lý
của nhân dân chứ không phải của người lãnh đạo!
Nhiều người lãnh đạo đã lợi
dụng nạn sùng tín cá nhân để tạo huyền thoại, thần thánh
hoá bản thân mình, chẳng hạn như:
- con trời, thay trời trị nước
- cha già của dân tộc, suốt đời
hy sinh vì dân vì nước
- anh hùng dân tộc ((đôi khi là
thủ phạm chính trong việc cướp của, giết người của dân
tộc khác) v.v...!!!
Ðể tạo trật tự xã hội, tạo
điều kiện cho nhân dân sản suất, xã hội chủ nghĩa nào
cũng thường dùng hai phương tiện:
- pháp trị. Khi còn lạc hậu dã
man thì pháp trị là treo cổ, chặt tay chặt chân, gông cùm
v.v... Khi tiến bộ hơn thì dùng ghế điện, nhà cải huấn
v.v...
- đức trị. Sáng kiến để qua
mặt pháp trị của con người thì quá nhiều, nên trong nhiều
xã hội người ta phải dùng biện pháp đức trị để bổ
túc những thiếu sót của pháp trị. Chẳng hạn như việc
động viên để đưa dân ra chiến trường, nếu chỉ dùng
pháp trị thì không có đủ nhà tù. Ðức trị trong trường
hợp này, chẳng hạn như Hitler kích động tinh thần dân tộc
của người lính, thông thường có hiệu quả hơn nhiều. Biết
bao nhiêu người dân lương thiện đã bị hy sinh, nhiều người
lại bị cuồng hoá để từ nạn nhân trở thành kẻ phạm
tội trong chiến tranh, giết người vô tội mà lại tưởng
mình mang lại hạnh phúc cho dân tộc, cho nhân loại, chẳng
hạn như những tên lính Khờ Me đỏ đã tiêu diệt hàng triệu
dân Khờ Me.
Muốn tránh những hậu quả của
sự thỏa mãn sai lầm nhu cầu tâm lý nói trên, con người
có thể thay thế sự thần thánh hoá bằng khoa học. Trình
độ trí thức khoa học của đại đa số nhân dân rất cần
thiết cho sự thay thế này. Vấn đề xoá bỏ sự sùng tín
cá nhân, sự thần thánh hoá cá nhân của một xã hội tỷ
lệ thuận với trình độ trí thức khoa học của xã hội
đó. Québec là một thí dụ cụ thể. Nhân dân Québec, tuyệt
đại đa số là gốc Pháp theo đạo Thiên Chúa giáo. Từ mấy
thế kỷ, giáo hội Thiên Chúa giáo luôn luôn có uy quyền rất
lớn đối với nhân dân Québec. Ðể phản đối uy quyền,
để xoá bỏ sự sùng tín cá nhân, sự thần thánh hoá các
sự kiện thiên nhiên, nhân dân Québec đã sử dụng tất cả
các danh từ linh thiêng, thần thánh của nhà thờ để chửi
thề! và cuộc đấu tranh bất bạo động đã thành công rực
rỡ! mọi uy quyền thần thánh trở thành trò cười! Cũng nên
nhắc lại rằng trong quá khứ, nhiều bạo quyền đã cấm
đoán đạo Thiên Chúa giáo trong xứ sở của họ, nhưng càng
cấm đoán thì Thiên Chúa giáo càng mạnh hơn. Phải chăng đấu
tranh bất bạo động có sức mạnh gấp ngàn lần súng đạn,
tù đầy, giết chóc!!!
Một nhu cầu tâm lý khác quan trọng
cho xã hội là nhu cầu an lạc của tâm hồn. Nhu cầu này chỉ
được thỏa mãn khi nào con người làm việc thiện. Vì vậy
ngày xưa người ta cho rằng: "nhân chi sơ tính bản thiện,
tính tương cận tập tương viễn" nghĩa là con người sinh
ra bản chất là thiện nhưng vì tập thói xấu ở chung quanh
nên dần dần trở thành xấu. Nhưng nếu ai cũng tốt cả thì
lấy cái xấu ở đâu để bị lây! Thực ra khi những nhu cầu
sinh lý quá thúc bách thì làm gì còn nhu cầu tâm lý, làm gì
còn cần an lạc của tâm hồn, làm gì còn cái thiện!!!, ngoại
trừ một vài trường hợp đặc biệt.
Nói một cách khác, người thiện
là người có nhu cầu tâm lý ở trạng thái phát triển cao
(cũng nên phân biệt cái thiện với cái đạo đức giả, của
người phúc ta!). Những hệ thống đạo đức và luân lý trong
các xã hội đã xuất hiện vì những nhu cầu này, trên nguyên
tắc phải là khuôn vàng thước ngọc để chúng ta noi theo,
nhưng trên thực tế thường bị xuyên tạc bởi ảnh hưởng
của tình trạng xã hội mỗi thời đại, bởi những nhu cầu
sinh lý và vật chất cũng như bởi những quyền lợi của
giai cấp thống trị!!, và những người luôn luôn nhân danh
những hệ thống đó thường lại là những kẻ đạo đức
giả, ngụy biện!!
Vì vậy nhiều hệ thống đạo đức
luân lý đã trở thành lỗi thời. Hiện tượng đó đã làm
cho nhiều người hoang mang hoảng sợ, mất phương hướng,
khủng hoảng tinh thần v.v... Thực ra bất cứ hệ thống đạo
đức luân lý nào cũng có hai phần:
- phần đáp ứng được nhu cầu
an lạc của tâm hồn: phần này là bản chất văn minh của
loài người,
- phần đáp ứng quyền lợi của
giai cấp thống trị: phần này là nguồn gốc của tội ác,
nguồn gốc của sự tủi hổ của loài người!
Như vậy chối bỏ hoàn toàn các
hệ thống đạo đức luân lý là chối bỏ văn minh loài người.
Ngược lại, dùng các hệ thống đó để phục vụ cho quyền
lợi của mình, của giai cấp mình chẳng qua chỉ là tội ác!
Nói tóm lại, vì hai nhu cầu tâm
lý nói trên, trong nhiều xã hội đã xuất hiện sự sùng bái
cá nhân cùng với những hệ thống luân lý và đạo đức
phục vụ kẻ cầm quyền, và trở thành môi trường thuận
tiện cho sự độc tài và những hành vi đạo đức giả phát
triển!!
3) Người lãnh đạo và giai cấp
thống trị.
Theo dòng lịch sử, xã hội loài
người phát triển dần dần từ bộ lạc tới quốc gia. Trong
các bộ lạc người ta có tù trưởng, trong các quốc gia thời
phong kiến người ta có vua, nắm trọn quyền sinh sát trong
tay. Nhưng vì vua không thể điều hành được cả xã hội
nên giai cấp thống trị dần dần hình thành với mọi đặc
quyền đặc lợi.
Ðể đạt tới một xã hội thanh
bình thịnh vượng, mọi hành động của vua và giai cấp thống
trị phải nhân danh xã hội, bằng những biện pháp mang tính
cách pháp trị và đức trị như đã nói ở phần trên. Cả
hai loại biện pháp này luôn luôn thay đổi theo tình trạng
phát triển của từng xã hội.
Khi những biện pháp đó phù hợp
với tình trạng phát triển của xã hội đương thời thì
đất nước thanh bình thịnh vượng. Ngược lại thì loạn
lạc, giặc giã, cướp bóc, tệ nạn xã hội khắp nơi. Những
biện pháp đó lại do giai cấp thống trị quyết định và
thi hành nên số phận của đại đa số nhân dân lại nằm
trong tay giai cấp thống trị. Khi tình trạng xã hội suy thoái
đến một mức nào đó thì trong quần chúng nhân dân lại
xuất hiện những lãnh tụ mới, đứng lên hô hào nhân dân
lật đổ bạo quyền. Ðược làm vua, thua làm giặc, lịch
sử của nhân loại đã chứng minh điều đó.
Ngày nay, với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, con người đã dần dần thoát khỏi cảnh
ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Với ngành truyền thông
hiện đại, người ta có thể thăm dò ý kiến nhân dân thường
xuyên, để có thể thực hiện ao ước từ mấy ngàn năm trước:
"ý dân là ý trời". Nhiều quốc gia trên thế giới đã có
thể có một chính quyền tiêu vong, nghĩa là không có người
lãnh đạo và giai cấp thống trị nữa, toàn thể nhân dân
đóng thuế và bầu ra nhóm người đại diện để quản lý
tiền đóng thuế của mình trong vòng bốn năm một lần. Ðể
tránh nguy cơ người đại diện trở thành kẻ độc tài, dân
Mỹ đã cấm bất kỳ ai làm tổng thống quá hai nhiệm kỳ.
Nếu nhân dân Mỹ còn mắc bệnh sùng tín cá nhân thì làm
sao người ta đưa ra ánh sáng được
những vụ bê bối của Bill Clinton!
Nói tóm lại sự phát triển của
khoa học kỹ thuật đến một mức độ nào đó có thể giúp
cho một xã hội không cần người lãnh đạo cũng như giai
cấp thống trị nữa, mà chỉ cần người làm công đóng vai
trọng tài cho sự thi đua kinh tế thị trường. Vì không còn
giai cấp thống trị nữa nên nhà tù cũng biến chất, không
còn là công cụ của chính quyền, mà là tài sản của cả
xã hội dùng để bảo đảm an ninh xã hội mà thôi (một bằng
chứng cụ thể là để gia tăng năng suất, có nơi người
ta đã cho đấu thầu việc quản lý nhà tù).
4) Nền tảng của xã hội: năng
suất lao động.
Các tổ chức phức tạp trong xã
hội loài người thường làm cho chúng ta quên đi yếu tố
căn bản là "năng suất lao động". Ðể đơn giản hoá vấn
đề, chúng ta có thể dùng lợi tức bình quân để thay thế
"năng suất lao động trung bình" của một xã hội, chẳng hạn
như hiện nay lợi tức bình quân của dân một nước phát
triển cao có thể gấp trăm lần lợi tức bình quân của dân
một nước phát triển thấp.
Theo dòng lịch sử thì loài người
tách khỏi loài vật để đi lên nhờ sự phát triển trí tuệ
để gia tăng không ngừng năng suất lao động. Mỗi khi năng
suất lao động nhẩy vọt là xã hội thay hình đổi dạng.
Nói một cách khác: làm gì có cách mạng xã hội nếu không
có sự nhẩy vọt của năng suất lao động. Như vậy sự nghiệp
cách mạng xã hội là của nhân dân, là của trí tuệ loài
người chứ không thể là của bất cứ cá nhân, bất cứ
đảng phái nào. Những quan hệ trong gia đình như mối liên
hệ giữa cha con, vợ chồng, anh chị em luôn luôn thay đổi
theo những thay đổi của năng suất lao động. Theo những tài
liệu thống kê thì sự thay đổi của những mối liên hệ
đó tại Québec từ năm 1970 tới năm 1990 tương đương với
sự thay đổi trong 2000 năm trước. Không có một nhà lãnh
đạo nào, không có một đảng phái nào, không có một chính
quyền nào có thể làm được việc ấy; mà sự thay đổi
ấy, sự cách mạng thực sự ấy chỉ là kết qủa tất yếu
của sự gia tăng năng suất lao động. Lịch sử chính của
loài người là lịch sử của những tiến bộ về trí tuệ
để nâng cao năng suất lao động, chứ không phải chỉ là
những chuyện dài "được làm vua, thua làm giặc".
Lịch sử cận đại của Québec
là một bằng chứng về mối quan hệ nhân quả của năng suất
lao động và các mối liên hệ giữa người với người, kể
cả những người cùng sống trong một mái ấm gia đình. Sự
bình đẳng giữa người với người, sự liên hệ có tình
cảm trong sáng, có tương kính không thể tạo bằng bạo lực,
không thể tạo bằng chuyên chính; mà chỉ có thể tạo bằng
sự nâng cao năng suất lao động. Khi đời sống con người
còn luôn luôn bị đe dọa bởi cái đói, thì những mỹ từ
như tự do, hạnh phúc, bình đẳng còn mang nhiều tính chất
mỉa mai hoặc lừa gạt!
Nhu cầu cải thiện đời sống thúc
đẩy loài người luôn luôn tìm cách để tăng gia năng suất
lao động. Ở những thời đại khác nhau, chẳng hạn như thời
đại tiền sử, thời đại đồ đá v.v...năng suất lao động
hoàn toàn khác nhau và luôn luôn là nguyên nhân chính của sự
hiện hữu của mỗi thời đại. Ý niệm xã hội, luân lý,
đạo đức cũng thay đổi theo từng thời đại. Như vậy năng
suất lao động là bản chất của lịch sử loài người. Mỗi
trình độ của năng suất lao động đều cần có những công
cụ sản suất, những phương thức tổ chức, những lực lượng
sản suất, những liên hệ giữa những người sản suất.
Và đồng thời để đảm bảo an ninh xã hội để tăng gia
sản suất, con người đã sáng tạo ra những triết lý, những
luật lệ, những nền luân lý đạo đức, những chủ nghĩa
xã hội, chẳng hạn như nguyên tắc "tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ" là chủ nghĩa xã hội của hai ngàn năm trước.
Tất cả những sản phẩm tinh thần đó là phản ảnh của
mỗi trình độ của năng suất lao động, lại trở thành khuôn
vàng thước ngọc, nghĩa là mang tính cách vĩnh cửu! Vì vậy,
những sản phẩm đó dần dần trở thành lỗi thời, và cản
trở sự tiến bộ của năng suất lao động, cản trở sự
tiến hoá của loài người.
Quyền hành của giai cấp thống
trị luôn luôn tỷ lệ nghịch với tự do của người lao động;
ngược lại, năng suất lao động lại tỷ lệ thuận với
tự do của người lao động. Sự gia tăng năng suất lao động
sẽ dần dần mâu thuẫn với chính quyền hiện hữu để thai
nghén ra một giai cấp thống trị mới phù hợp với năng suất
lao động mới. Và lịch sử tiếp diễn cho đến khi sự biến
đổi về lượng của năng suất lao động dẫn đến sự biến
đổi về chất của xã hội, nghĩa là xã hội không còn cần
giai cấp thống trị để lãnh đạo nữa. Hiện nay, tại những
nước có năng suất lao động cao, của cải vật chất dư
thừa, con người không còn lo âu về những nhu cầu tối thiểu
như ăn no, mặc ấm, thì tất cả đặc quyền của giai cấp
thống trị đã được bãi bỏ và chính quyền đang tiêu
vong dần để chỉ giữ vai trò trọng tài trong sự cạnh tranh
của kinh tế thị trường.
Trong quá khứ, những mơ ước cách
mạng xã hội của các lãnh tụ, của các đảng phái chỉ
là những phản ảnh của nhu cầu gia tăng năng suất lao động
của nhân loại. Cách mạng xã hội thực sự tùy thuộc ở
năng suất lao động, tùy thuộc vào việc làm hàng ngày của
từng thành viên trong xã hội, chứ không tùy thuộc vào ý
chí chủ quan của bất cứ lãnh tụ nào, đảng phái nào. Dĩ
nhiên, tập đoàn thống trị nào cũng có thể phá hoại năng
suất lao động, nhưng lịch sử nhân loại luôn luôn theo chiều
hướng gia tăng năng suất lao động và tập đoàn nào đi ngược
dòng lịch sử thì luôn luôn bị đào thải mau hơn.
Quyền hạn là sản phẩm của con
người tạo ra để người này phải tuân hành quyết định
của người khác. Ngày xưa để đảm bảo giá trị lâu dài
của sản phẩm đó, người ta phải tạo ra một hệ thống
luân lý đạo đức chẳng hạn như "trai thì trung hiếu làm
đầu", "vua là con trời, quan là cha mẹ nhân dân". Hệ thống
luân lý đạo đức đó có thể phù hợp với một nền sản
xuất nông nghiệp lạc hậu, lúc nào con người cũng nơm nớp
lo đói. Trong hoàn cảnh đó, không những giai cấp thống trị
cần quyền hạn mà ngay cả trong gia đình, người gia trưởng
cũng cần quyền hạn!
Nhưng một khi người ta không còn
lo nghĩ về vấn đề ăn no, mặc ấm; mà chỉ còn thi đua lao
động để ăn ngon mặc đẹp thì xã hội không cần một giai
cấp thống trị để cưỡi đầu cưỡi cổ mình nữa, gia
đình cũng chẳng cần một gia trưởng, chẳng cần cả lễ
giáo lỗi thời để giam cầm bất cứ tâm hồn thơ dại nào!!
Những người được ưu đãi trong xã hội có thể xuất thân
từ bất cứ thành phần nào với một điều kiện xã hội
duy nhất là đáp ứng nhu cầu của xã hội; chẳng hạn như
một đứa trẻ con nhà nghèo vì đá banh giỏi kiếm được
hàng triệu đô la mỗi năm.
Québec đã thành công trong cuộc
cách mạng xã hội hoà bình, đã xoá bỏ được sự thần
thánh hoá các hiện tượng thiên nhiên, đã xoá bỏ được
sự sùng tín cá nhân, đã xoá bỏ được giai cấp thống trị,
đã thực sự đạt được sự bình đẳng giữa người với
người, không những ngoài xã hội mà cả trong những gia đình
(cha mẹ dậy con bằng roi vọt có thể bị nhốt tù!). Năng
suất lao động trung bình ở Québec đã nhẩy vọt, nhờ tài
nguyên thiên nhiên, nhờ đầu tư của nước ngoài, nhờ sự
lao động của nhân dân, nhờ thành quả của sự phát triển
vượt bực của khoa học kỹ thuật hiện đại, nhờ không
có căm thù và bạo động!!! Québec trở thành thiên đường
xã hội chủ nghĩa vì sự nhẩy vọt của năng suất lao động,
chứ không phải vì những hệ thống chính trị, luân lý, đạo
đức, không phải vì những đảng phái cách mạng v.v...
Sung sướng thay những người dân
Québec, không cần có giai cấp thống trị để cưỡi đầu
cưỡi cổ mình, không cần những lý tưởng vì dân vì nước,
không cần những hệ thống luân lý đạo đức lỗi thời,
không cần cả người gia trưởng nghiêm khắc trong mỗi gia
đình nữa!! Ðó là quan điểm của tác giả, nhưng cũng có
người lại nghĩ rằng:
Thiên đường lạnh lắm anh ơi
Nên em chỉ muốn làm người
trần gian
Ðể còn trở lại Việt Nam
Khoe làng khoe xóm, giầu sang xứ
người!
Phó Thường Dân
Viết tháng 2 năm 2001 |