Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

  Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Quà giáng sinh

Tuyết vẫn rơi đều, như những đóa hoa trắng phủ kín bầu trời. Minh đã quen dần với khí hậu Canada, quen với bầu không khí tinh khiết mùa đông, quen với sự yên tịnh bình an của thiên nhiên miền đất lạnh. Cây cối đã trụi lá từ mấy tuần trước, những cành cây có tuyết phủ lên, giống như những nhánh san hô khổng lồ tuyệt đẹp, làm cho phong cảnh giống như thiên đàng trong chốn trần gian. 

Những mùa đông đầu tiên nơi đất khách quê người Minh nhớ quê mẹ khôn nguôi, nhớ nắng ấm Sàigòn, nhớ cây xanh, nhớ những ngày thơ ấu, nhớ tất cả v.v... Từ "đất khách quê người", Canada dần dần trở thành miền đất tạm dung, rồi quê hương của con Minh, rồi những ân tình tăng dần với thời gian Minh thấy Canada chính là quê hương của những di dân, của những người bị ngược đãi tại quê cha đất tổ. Khoảng mười ngàn năm trước, những người di dân đầu tiên tới Canada từ Châu Á lập thành những bộ lạc đầu tiên ở Châu Mỹ. Khoảng vài trăm năm trước, những di dân đến từ Châu Âu, đem nền văn minh công nghiệp tới Canada. Tại Québéc, những người lính Pháp bị gởi sang đây mấy trăm năm trước để phục vụ cho quyền lợi của vua Pháp. Ðể biến Québéc thành thuộc địa của Pháp, vua Pháp thời đó đã đem các cô gái Pháp mồ côi sang đây để gả cho những lính viễn chinh, để biến Québéc thành quê hương mới của họ và con cháu họ. 

Mùa giáng sinh ở xứ lạnh không tưng bừng nhộn nhịp như ở Sàigòn năm xưa, đường sá vắng tanh, thành phố phủ mầu tuyết trắng, mọi gia đình sum họp đầm ấm bên lò sưởi. Dù không theo công giáo nhưng nếu không ăn mừng giáng sinh thì mùa đông xứ lạnh lại càng lạnh hơn, nên năm nào gia đình Minh cũng ăn mừng giáng sinh như những người dân bản xứ. 

Nhìn cây thông tươi mới mua hồi chiều qua, đã được trang hoàng với đủ mầu sắc rực rỡ; dưới chân cây thông đầy dẫy những món quà giáng sinh, Minh đang vui cảnh gia đình đầm ấm, bỗng mơ màng nhớ về những mùa giáng sinh xưa. 

Những mùa giáng sinh trước năm 1975, thành phố Sàigòn tưng bừng nhộn nhịp, đã gần nửa đêm mà đường phố còn đông nghẹt, đi bộ mà còn bị kẹt đường, dạ vũ khắp nơi dù có lệnh cấm nhẩy đầm. 

Ðêm 24 tháng 12 năm 1975, dù dưới chế độ mới, đường phố Sàigòn cũng vẫn đông nghẹt người đi lại, mừng lễ giáng sinh, nhưng ngày 25 tháng 12 không được coi là ngày nghỉ lễ. Sáng ngày 25, ra đón xe buýt để đi tới sở làm, Minh gặp cô Hiền, thư ký làm chung sở là người theo đạo công giáo, Ủa sao hôm nay cô đi làm, tôi nghe nói những người theo đạo công giáo được nghỉ ngày lễ giáng sinh mà, chẳng lẽ cô không chịu nhận quà giáng sinh đó của nhà nước. 

- Lễ giáng sinh là ngày lễ quốc tế mà họ cũng không cho người lao động nghỉ ngơi, cô Hiền giận dữ trả lời. 

- Nhưng cô là người công giáo mà, Minh thắc mắc. 

- Tôi chưa kịp đăng ký là người công giáo ông ạ, bây giờ nghỉ họ lại ghép mình vào thành phần phản động để trù yếm thì nguy hiểm quá; tôi biết nhiều người trong họ đạo của tôi cũng ngại đăng ký vì sợ bị theo dõi, khó làm ăn, sinh sống. Người ta có bạo lực trong tay, ai mà chẳng sợ, ông có biết là mấy cô thư ký chân yếu tay mềm làm việc ở Sàigòn đã bị thuyên chuyển xuống hầm đá Châu Thới để đập đá chưa, chắc là để được cái "tiếng" bình đẳng với đàn ông và cái "miếng" là sự "vinh quang" của lao động khổ sai! 

Cuộc sống càng ngày càng khó khăn hơn, tất cả những quyền tự do căn bản của con người mà trước kia nhân dân miền Nam được hưởng thì nay bị vi phạm trầm trọng, ăn nói không biết giữ gìn là cũng có thể bị đi tù. Thỉnh thoảng Minh lại được tin bạn bè hay bà con thân thuộc đã vượt biên, kể cả những người trước ngày 30 tháng tư năm 1975 còn ở ngoại quốc, khi nghe tin đất nước độc lập thống nhất, đã quyết tâm trở về phục vụ quê hương. Sau khi tìm hiểu chế độ, Minh hiểu rõ hơn về cuộc chiến ý thức hệ thế giới, hiểu rõ hơn về những sự tàn bạo, sự xâm phạm thô bạo nhân phẩm con người của chủ nghĩa cộng sản, Minh đã quyết định chấp nhận tất cả để ra đi. Không may cho Minh, sau nhiều lần bị lừa gạt, Minh lại bị rơi vào "địa ngục của trần gian". 

Mùa giáng sinh năm 1980, Minh bị giam ở nhà tù tỉnh Bến Tre vì tội vượt biên. Nhà nước thông báo cho các tù nhân về quà giáng sinh: "ai đã ở tù hơn 18 tháng thì sẽ được viết thơ về gia đình". Dĩ nhiên là thơ sẽ bị kiểm duyệt nghiêm ngặt và chỉ được viết những điều mà cai tù đã gợi ý trước. Ðể đón mừng lễ giáng sinh, một số tù nhân trong đó có Minh đóng góp mỗi người "của cải" của mình để chung vui. "Của cải" của Minh là vài viên kẹo dừa còn lại trong lần tiếp tế hồi đầu tháng, có người còn được một nhúm trà, có người còn để dành được vài điếu thuốc rê, vài bi thuốc lào v.v... Mặc dù

ở "địa ngục chốn trần gian" nhưng mọi người vẫn quên đi thực tại để vui với những gì còn lại trong tay, vẫn nói, vẫn cười; có người kể chuyện chưởng cho mọi người thưởng thức, và đêm giáng sinh cũng qua mau. 

Sáng hôm sau, cai tù tập họp tất cả để thông báo: 

"Tối hôm qua một số trại viên thiếu ý thức đã tụ tập lại để ăn mừng lễ của bọn phản động (lễ giáng sinh!), ban quản lý đã nắm vững tình hình với danh sách tất cả những người đã tham gia. Những người này sẽ bị trừng phạt không được viết thơ về gia đình, dù đã ở tù hơn 18 tháng". 

Minh chưa ở tù tới 18 tháng nên không đủ tiêu chuẩn để nhận quà giáng sinh "gởi thơ về gia đình"! Nhìn các đồng cảnh bị trừng phạt vì chuyện vớ vẩn, Minh thấy xót xa nhưng đồng thời cũng thấy chuyện mình dứt khoát ra đi vĩnh biệt quê hương là hoàn toàn đúng. Văng vẳng Minh như nghe thấy tiếng quát của tiền nhân: 

"Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất bắc" và Minh tự nhủ: 

"Thà chết ở đại dương còn hơn sống trong chế độ man rợ" 

Sau cơn mưa trời lại sáng, chuyến vượt biên cuối tháng sáu năm 1981 từ Vũng Tầu, trong đó có gia đình Minh, đã được tầu chở hàng của Á Căn Ðình vớt và đưa vào Singapore. Trong thời gian bị tù vượt biên, thân nhân của Minh ở Canada đã làm giấy bảo lãnh cho gia đình Minh, nên khi vào Singapore, phái đoàn Canada đã nhận gia đình đi định cư ở Canada ngay. 

Nhưng trong cái may nào mà không có cái rủi, được đi định cư sớm hơn mọi người, nhưng gia đình Minh từ trại tỵ nạn Singapore đến Canada với diện bảo lãnh nên không được hưởng một sự giúp đỡ nào của chính quyền Canada (ngoại trừ mỗi người một chiếc áo khoác mùa thu và 5 đô la tiền mặt). Lúc đó gia đình Minh gồm có hai vợ chồng và một đứa con hơn hai tuổi. Ðến Canada với hai bàn tay trắng, Minh cương quyết vươn lên vượt mọi khó khăn. 

Canada là một xứ lạnh, mùa đông dài gần sáu tháng, mùa hè ngắn hơn hai tháng; khí hậu mùa hè đôi khi còn lạnh hơn mùa đông ở miền nam Việt Nam rất nhiều. Trước kia khi khoa học chưa phát triển cao, khí hậu ở Canada không phù hợp với cuộc sống của con người nên dân cư ở đây vô cùng thưa thớt. Ngày nay, nhờ khoa học phát triển cao, cuộc sống ở Canada lại được đánh giá là một trong những cuộc sống cao nhất thế giới. Nhưng đối với gia đình Minh, mới đến từ miền nhiệt đới thì cuộc sống ở Canada thật là muôn vàn khó khăn, nhất là không được chính phủ trợ cấp cho những tháng đầu tiên: nửa câm, nửa điếc (vì chưa nói chưa nghe tiếng địa phương quen), nửa mù (vì luật lệ, phong tục, tập quán hoàn toàn khác lạ). 

Vì ảnh hưởng của nền văn hóa trọng bằng cấp, nên ngay hôm sau khi đến Canada Minh đã ra trường đại học xin ghi tên học. Vợ Minh cũng nhờ bà con dẫn đi xin việc tại một hãng may vì chưa quen với ngôn ngữ địa phương; sau hai giờ thử việc thì bị cho nghỉ việc vì chưa có kinh nghiệm. Con Minh mới hai tuổi, nói tiếng Việt khá sõi, nhưng chưa biết một tiếng Pháp, vì nhu cầu sống trước mắt cùng với tinh thần cương quyết vươn lên của Minh, nên cháu bé được đem gởi tại nhà trẻ do các bà Xơ đảm trách. Sau một ngày sống với những người chung quanh hoàn toàn xa lạ, không cùng ngôn ngữ, đến chiều, khi Minh đến đón con, cháu bé chạy tới ôm cha, vừa khóc vừa nói: 

- Bố ơi, đừng bỏ con 

- Không, không, không bao giờ bố bỏ con, Minh vừa ôm con vừa vỗ về an ủi. 

Vì không biết tiếng Pháp, lại thấy toàn người lạ chung quanh, cháu bé khóc hoài, nên bị mấy bà xơ coi trẻ đánh đập, nhưng đến khi Minh đón, cháu bé mừng quá nên quên không nói cho bố biết. Một năm sau, khi đã đổi sang nhà trẻ khác, nhân lúc nói chuyện về các bà xơ, cháu bé nói: 

- Phải dữ lắm mới làm bà xơ được bố ạ. 

- Tại sao con nói vậy. 

- Hồi bố gởi con ở nhà trẻ của mấy bà xơ, ngày nào họ cũng đánh con. 

- Trời ơi, Minh kêu to, sao hồi đó con không nói cho bố biết, đời nào bố chấp nhận họ đánh con. 

Sau khi ở nhà bà con được ba tháng thì gia đình Minh dọn ra ở riêng. Vì không được sự giúp đỡ nào của chính quyền nên gia đình Minh vô cùng thiếu thốn, thuê được căn nhà nhỏ có sẵn bếp và một cái tủ lạnh cũ là Minh đã thấy mừng. Trong cảnh thiếu thốn, Minh đi xin việc, người ta vừa từ chối vừa cười: 

- Gần lễ giáng sinh rồi sao ông còn đi xin việc, bây giờ ai ai cũng chuẩn bị nghỉ lễ, không ai thuê ông đâu ! 

Lễ giáng sinh đầu tiên ở xứ tự do, tài sản gia đình Minh chỉ có hai cái giường xin được của nhà thờ để ngủ, chưa có cả cái bàn để ăn cơm, nhưng vì đã quen sống ở trại tỵ nạn nên gia đình Minh cũng vẫn vui tươi đón mùa giáng sinh nơi đất lạnh. Có người đồng hương, lấy cảnh túng thiếu của những người tỵ nạn làm nguồn hạnh phúc, lại quen thói ác khẩu, bình luận một cách ác ý để gây phiền não thêm cho những người đang gặp cảnh khó khăn: 

- Giường của nhà thờ cho là giường của người chết! 

Ðể trả lời, Minh chỉ còn cách im lặng, chấp nhận tất cả để vươn lên. 

Nhìn tờ báo kêu gọi mọi người đóng góp để đem quà cho đến các gia đình hưởng trợ cấp xã hội với mục đích thay thế "nước mắt giáng sinh (Christmas tears) thành "niềm vui giáng sinh" (Christmas cheers), Minh tự nhủ thầm: 

- Rõ bọn rởm đời! Mấy gia đình hưởng trợ cấp xã hội ở chung quanh chỗ Minh ở họ đi làm lấy tiền mặt, ăn xài vung vít, chứ nào thiếu thốn gì để những kẻ "khéo dư nước mắt" phải rên rỉ, trong khi đó những người đón giáng sinh mà không có cả cái bàn để ngồi ăn như gia đình Minh thì nào ai biết đến! 

Mùa giáng sinh đầu tiên ở xứ tự do, tuy vật chất muôn vàn thiếu thốn, nhưng gia đình Minh cũng vẫn thấy tràn trề hạnh phúc, được sống trong tự do, không còn lo sợ công an khu vực xét hộ khẩu (sau khi được tạm tha vì tội vượt biên, Minh trở về sống ở thành phố, không có tên trong hộ khẩu). 

Tuyết vẫn rơi ngoài trời, đêm đã về khuya, gia đình Minh chuẩn bị đi ngủ sớm thì bỗng có tiếng bấm chuông, Minh ra mở cửa. 

- Chào thầy, nhân dịp giáng sinh em đến thăm thầy, Hưng, một người Việt gốc Hoa, học trò cũ của Minh, vừa nói vừa bưng một món quà gói giấy hoa để biếu Minh. 

- Lại chơi là quý hóa lắm rồi, sao em còn bày vẽ quà cáp làm gì. 

Minh vô cùng xúc động, dĩ nhiên không vì món quà, mà vì tình cảm chan chứa của người học trò cũ, mới gặp lại Minh ở trường học Pháp văn mấy tuần trước. Món quà tuy nhỏ nhưng tình nghĩa thật quý hóa chắc suốt đời Minh chả thể nào quên được. 

Mùa giáng sinh thứ hai ở xứ lạnh, sau một năm cố gắng để vươn lên, gia đình Minh đã khá giả hơn nhưng vẫn có thể còn xếp vào giai cấp nghèo nhất trong xã hội tạm dung. Chiều ngày 24 tháng 12, Minh đi học về, thấy trên bàn có món quà lớn, gồm mấy chai rượu, được gói kỹ bằng giấy hoa đẹp, Minh hỏi vợ: 

- Rượu ở đâu vậy em?

- Em thấy có người ăn mặc lịch sự đến giao rượu, có gắn cạc chúc mừng giáng sinh, anh xem lại đi. 

Minh ngạc nhiên khi đọc cạc chúc giáng sinh của một hãng "cố vấn kỹ thuật" mà Minh không hề quen biết, Minh nói với vợ: 

- Sao em lại nhận quà, anh đâu có quen biết gì họ.

- Thì thấy rõ ràng tên anh và đúng địa chỉ nên em mới nhận.

- Lạ thật, mình xin đi làm cu li, chẳng ai chịu nhận, tự nhiên lại có quà biếu của một hãng "cố vấn kỹ thuật" thì làm sao hiểu nổi! 

Tiếng cười giòn của đứa con gái út làm Minh trở về với hiện tại. 

- Bố ơi, con mới đếm số quà giáng sinh, có mười món quà của con rồi bố ạ, Linh vừa nói vừa nâng từng gói quà để đoán xem bên trong là quà gì. 

- Con được chiều quá, coi chừng lại hư thôi con ạ. 

- Không, con không hư đâu, càng được chiều con càng giỏi, hồi chị Xuân còn nhỏ, chị Xuân có được nhiều quà không hả bố ?

- Giáng sinh đầu tiên ở Canada, nhà mình không có cả cái bàn để ăn cơm thì làm gì có quà. 

- Trời ơi, sao nhà mình hồi đó nghèo thế. 

- Dân tỵ nạn bằng vượt biên mà con, còn sống là may mắn lắm rồi; con sinh ra và lớn lên ở Canada nên con không hiểu nổi hoàn cảnh của người tỵ nạn. 

- Thì con cũng tưởng nghèo như những người hưởng trợ cấp xã hội ở đây chứ đâu ngờ nghèo đến nỗi cả cái bàn ăn cơm cũng không có! 

- Nhưng càng khó khăn thì người ta càng dễ thấu hiểu cuộc đời và con người hơn con ạ. 

Linh không hiểu được lời cha dậy, tại sao càng khó khăn lại càng giỏi hơn được, nhưng im lặng không hỏi nữa. Linh chỉ thấy bố mình tội nghiệp quá và Linh tự nhủ phải kiếm một món quà giáng sinh thật đặc biệt cho bố. 

Phó Thường Dân,
Mùa giáng sinh 2001

 
Trang bìa
Ðầu trang