Phong
kiến và độc tài
Chế
độ độc tài phong kiến đã
kéo dài hàng mấy ngàn năm
và hiện còn tiếp tục trên hầu
hết các nước trên thế
giới ở mức độ khác
nhau tùy theo tình trạng tri thức và
sự phát triển nền kinh tế thị
trường.
Một trong những nước
độc tài phong kiến nhất là
Bắc Hàn, trong khi hàng triệu dân
còn phải sống nhờ vào sự
cứu đói của Liên Hiệp Quốc,
bọn cầm quyền vẫn hung hăng chế
tạo vũ khí giết người,
huênh hoang là chế độ xã hội
chủ nghĩa, huênh hoang là dân chủ
gấp triệu lần dân chủ tư sản!
Thực ra danh từ "xã hội chủ
nghĩa" chỉ là một cụm từ
để lừa gạt nhân dân, sự
thực chỉ là sự kéo dài
của chủ nghĩa phong kiến một cách
đạo đức giả hơn, huyền
bí hóa đảng thống trị, thần
thánh hóa lãnh tụ v.v… Chúng sử
dụng "duy vật biện chứng" của chủ
nghĩa Mác để ngụy biện, để
bảo vệ quyền thống trị của chúng,
chứ không phải để phục vụ
nhân dân như niềm mơ ước
của Mác.
Có người thắc
mắc:
Tại sao nói là tuyệt
đại đa số dân chúng chống
đối sự thống trị của bọn
chúng mà chúng vẫn tồn tại?
Và như vậy có thật là tuyệt
đại đa số chống đối
hay chỉ là sự tuyên truyền của
phe đối lập?
Tại sao ở Cuba mới
đây hàng triệu người đi
biểu tình ủng hộ xã hội chủ
nghĩa? Bọn độc tài phong kiến
có thể huy động nổi hàng triệu
người đi biểu tình ủng hộ
chúng không?
Trước khi trả lời
mấy câu hỏi trên, chúng ta thử
bàn luận về các đặc điểm
của các chế độ phong kiến.
Trong chế độ phong kiến
kiểu cũ, với sự trị vì
của vua chúa, với sự cha truyền
con nối, giai cấp thống trị cần
một hệ thống đạo đức
để dân thần phục: vua là con
trời, thay trời để trị
dân; bổn phận cao nhất của người
dân là trung thành với vua. Muốn
áp đặt tư tưởng đó
trên toàn dân, giai cấp thống trị
thường ban phát cho giai cấp trí
thức một số đặc quyền đặc
lợi, vì vậy xã hội ngày
trước thường chia làm bốn
giai cấp: sĩ, nông, công, thương.
Giai cấp trí thức được
đặc quyền đặc lợi vì
có khả năng giúp cho kẻ thống
trị nắm vững được quyền
hạn (bằng cách đào tạo một
ý thức hệ có lợi cho kẻ
cầm quyền); vì kinh tế chưa phát
triển cao nên công nghiệp và thương
nghiệp chưa có vai trò quan trọng trong
xã hội.
Trong chế độ phong kiến
kiểu mới, vì sự phát triển
kinh tế của thế giới, khi những
lý luận của chế độ phong kiến
kiểu cũ không còn đủ sức
giúp cho giai cấp thống trị giữ
vững quyền hạn, nhiều nơi người
ta đã dùng thánh kinh của tôn
giáo để làm giáo điều
cai trị nhân dân. Các thánh kinh lại
thường vắn tắt, có tính
cách huyền bí và khó hiểu,
nên bọn thống trị dễ giải thích
để phù hợp với quyền
lợi của chúng, người dân
ai phản đối thì họ nhân danh
tôn giáo, nhân danh thượng đế
để trừng trị. Những nơi
khác, với ảnh hưởng của
chủ nghĩa Mác, sau khi vận động
được nhân dân đánh
đuổi bọn đế quốc, người
ta thiết lập chế độ phong kiến
kiểu mới, dùng "duy vật lịch
sử" của chủ nghĩa Mác làm
giáo điều cho nhân dân đi theo,
dùng "duy vật biện chứng pháp"
làm phương tiện để ngụy biện,
để tranh thủ lòng dân; người
dân ai phản đối thì họ nhân
danh xã hội để trừng trị
bằng bạo lực, bằng những
mưu mô xảo quyệt được
che đậy bằng quyền lợi của
giai cấp, của nhân dân v.v…..
Trong các chế độ
phong kiến kiểu mới, nhà cầm
quyền rất sợ tri thức tiến
bộ của nhân loại cũng như kinh tế
thị trường. Tri thức tiến
bộ làm cho những giáo điều
mất quyền lực thần thánh, kinh
tế thị trường làm mất
những giá trị phong kiến, sự
phân biệt đối xử phong kiến.
Vì vậy trong chế độ phong kiến
kiểu mới, bọn cầm quyền phải
can thiệp thô bạo vào hệ thống
giáo dục để hệ thống này
phù hợp với giáo điều
của họ, chẳng hạn như sự đào
tạo con người xã hội chủ
nghĩa ở một số nước
hay sự cấm đàn bà đi học
của bọn Taliban; cũng như sự ngăn
chặn nền kinh tế thị trường.
Sự phát triển nền kinh tế thị
trường, không phải là do một
lý thuyết chính trị hay kinh tế nào
cả, mà thực ra chỉ là sự
phát triển tất yếu của nền
kinh tế thế giới. Vì muốn
bảo đảm những giá trị
phong kiến, bọn cầm quyền dùng bạo
lực để ngăn sông cấm chợ,
để tạo đặc quyền đặc
lợi riêng cho những kẻ trung thành
với chế độ.
Trong khi nền tảng của
chủ nghĩa Mác dựa trên năng
suất lao động, những chế độ
phong kiến kiểu mới với giáo
điều "duy vật lịch sử" của
chủ nghĩa Mác, vì muốn bảo
vệ quyền thống trị, phải dùng
bạo lực để ngăn sông cấm
chợ, đã trở thành những
chính quyền phá hoại năng suất
lao động mạnh nhất. Sự mâu
thuẫn nội bộ của những chính
quyền đó không xuất hiện rõ
trong thời gian chiến tranh vì sự
tuyên truyền khéo léo về sự
phá hoại của "tư bản quốc tế",
"giai cấp phản động", v.v…; nhưng trong
thời gian phát triển hòa bình
thì sự mâu thuẫn càng ngày
càng rõ rệt và đưa tới
sự sụp đổ toàn diện của
chủ nghĩa cộng sản trên thế giới.
Sự diễn tiến tất yếu của
lịch sử đã xảy ra hơn mười
năm, nhưng cho đến ngày hôm nay
vẫn còn có người cho rằng
sự sụp đổ đó là do
sự phản bội (!) của Gorbachev, một
bằng chứng của sự khó khăn
để giải độc những người
đã lỡ tôn thờ một
chủ thuyết.
Theo chủ nghĩa Mác thì
sự tiến hóa của nhân loại
là do sự đấu tranh giai cấp.
Chủ trương này đã giúp
cho các nhà lãnh đạo cách
mạng vô sản vận dụng được
giai cấp đi làm công đứng
lên lật đổ giai cấp thống trị.
Nhưng một khi đã nắm được
chính quyền thì họ lại tạo ra một
giai cấp phong kiến mới, và lúc
bây giờ Chủ nghĩa Mác lại
đẩy họ vào chỗ phá hoại
sản xuất, bằng chuyên chính, bằng
ngăn sông cấm chợ, bằng xóa
bỏ quyền tư hữu, bằng sự
tiêu diệt các thành phần trí
thức, doanh nghiệp, chủ nhân v.v… trong
xã hội cũ.
Trong bài "dắt tay nhau, đi
dưới tấm biển chỉ đường
của trí tuệ" năm 1988, ông Hà
Sĩ Phu phủ nhận giáo điều căn
bản của chủ nghĩa Mác "sự
tiến hóa của nhân loại là do
sự đấu tranh giai cấp". Theo ông
ta:
"Do biết sử dụng công
cụ nên khác với mọi sinh vật,
con người không tiến hóa bằng
cách biến đổi những cấu
tạo của cơ thể mà bằng hoàn
thiện không ngừng công cụ lao động.
Cùng với sự cải tiến công
cụ là sự cải tiến quy trình
sản xuất, hoàn thiện kỹ năng…
dẫn đến tăng năng suất lao
động và chất lượng sản
phẩm. Tất cả những biến đổi
cơ bản ấy đều là biểu
hiện sự gia tăng tri thức của
con người về các quy luật tự
nhiên và quy luật quản lý, tổ
chức xã hội. Vậy thì, cái
lõi bên trong của dòng tiến hóa
là dòng phát triển của trí
thức của nhân loại, còn sự
đấu tranh của tập đoàn người
này với tập đoàn người
khác, tức là sự đấu
tranh giai cấp chỉ là cái vỏ, là
những hiện tượng xã hội
kèm theo mà thôi".
Phủ nhận sự đấu
tranh giai cấp là phủ nhận tất cả
những công trạng của những
người cộng sản, phủ nhận tất
cả những lý tưởng cộng
sản, chẳng qua chỉ là "thiên đường
mù" mà thôi. Những chiến thắng
trong cuộc chiến tranh ý thức hệ
vừa qua chẳng qua chỉ là kết
qủa của sự bịp bợm quần
chúng nhân dân làm cho họ tưởng
lầm là cuộc chiến tranh "giải phóng
dân tộc khỏi chế độ thuộc
địa". Dám nói lên sự thật
trong chế độ phong kiến kiểu mới
thì dĩ nhiên tác giả sẽ bị
đầy đọa, tù đầy. Trong
chế độ phong kiến kiểu cũ,
nhiều người đã bị xử
chém đầu ba họ vì chống đối
lại nhà vua, nhân danh "con trời" cai
trị nhân dân.
Ðứng trước
sự phá sản của chủ nghĩa
Mác, Trung Quốc đã mở cửa
cho kinh tế thị trường để
gia tăng năng suất lao động, đồng
thời giữ vững nền phong
kiến kiểu mới bằng vũ lực,
dùng vũ khí lý luận để
ngụy biện cho nền dân chủ giả
tạo dưới danh nghĩa dân chủ
tập trung. Sự tiến bộ về kinh tế
làm cho nhiều người nghĩ rằng
chính quyền Trung Quốc đã có
một hướng đi phù hợp
với sự phát triển tất yếu
của nền kinh tế của họ. Người
dân đen không cần biết gì đến
lý thuyết tràng giang đại hải,
những lý luận cách mạng, những
chuyện nhân quyền, dân chủ, những
thiên đường mù hay sáng
khi cơm ăn chưa đủ no, áo mặc
chưa đủ ấm. Trong những nước
mà kỹ nghệ chưa phát triển cao,
dù mang danh dân chủ tư sản hay xã
hội chủ nghĩa, hoặc tôn giáo chủ
nghĩa thì chúng ta thấy luôn luôn
đầy dẫy những bất công,
luôn luôn tham nhũng khắp nơi, luôn
luôn độc tài tàn bạo. Phải
chăng vấn đề phát triển kinh
tế mới là nguyên nhân chính
của các bệnh xã hội đó?
Phải chăng chỉ khi nào kỹ nghệ
hóa cao thì mới có thể có
dân chủ được?
Nhưng tại sao ngày xưa,
nền kinh tế còn thấp hơn nhiều
mà vẫn có những cảnh thanh
bình thịnh trị?
Thời phong kiến cũ,
vì nhu cầu phát triển kinh tế, một
chính quyền tập trung vào triều đình
là cần thiết. Do đó nếu
vua là người tốt, lấy ý
dân làm ý trời thì đất
nước sẽ được thanh bình
thịnh trị. Nhưng quyền hạn lại là
một thứ độc dược của
tâm hồn nên sự thoái hóa
của nhà vua là tất yếu. Vì
vậy chỉ sau vài đời, các
triều đại ngày xưa đều
tiến hóa từ thịnh trị tới
loạn lạc, chiến tranh; rồi khi một triều
đại mới bắt đầu, chu
kỳ đó lại luôn luôn lập
lại. Ðặc tính quan trọng nhất của
thời đại phong kiến cũ là
quyền hành tập trung trong tay một người.
Kinh tế là hạ tầng
cơ sở của mọi xã hội nên
tại các nước mà kỹ nghệ
chưa phát triển thì những vấn
đề dân chủ, nhân quyền thường
chỉ có hình thức mà ít
có nội dung, nhà nước luôn
luôn tuyên bố dân chủ nhưng thực
tế thì chỉ là độc tài,
tham nhũng, phe cánh v.v… Ngày xưa người
ta cướp quyền bằng bạo lực,
mạnh được yếu thua thì ngày
nay người ta cũng cướp quyền
bằng quân đội rồi giữ
quyền bằng những mánh khóe
chính trị, bằng những nền dân
chủ giả hiệu, bằng những lừa
gạt nhân dân. Ai cũng có thể
biết được là khi ăn chưa
đủ no, mặc chưa đủ ấm thì
nhân quyền và dân chủ chỉ là
những thứ xa xỉ phẩm, nhưng
một khi con người bị tuyên truyền
xuyên tạc ngày đêm năm này
sang năm nọ, thập niên này qua thập
niên khác thì nhiều người
trí thức còn lầm tưởng
là mình là chủ đất nước
thật, đến khi phát biểu không
vừa ý kẻ cầm quyền và
bị nhốt vào ngục tối mới
ngã ngửa ra là mấy chục năm
nay mình là ông chủ giả, thì
đã quá muộn !
Trong các chế độ
phong kiến kiểu mới ngày nay, các
nhà lãnh đạo luôn luôn tìm
mọi cách để giữ được
đặc tính quan trọng của chế độ
phong kiến kiểu cũ: tập trung quyền
hành trong tay một người. Nhưng vì
trình độ tri thức nhân dân
đã phát triển hơn nên phải
dùng những lý luận ngụy biện
để che giấu ý đồ đó,
chẳng hạn như dùng danh từ "xã
hội chủ nghĩa" để cho nhân dân
hiểu lầm là chính quyền do dân,
vì dân, dùng danh từ "dân chủ
tập trung" để nắm quyền trong tay mình
mà vẫn cứ ngụy biện là
dân chủ gấp triệu lần những
nền dân chủ thực sự, dùng
mánh khóe tàn bạo thanh toán mọi
đối thủ để bảo đảm
địa vị lãnh đạo tối cao
của cá nhân, chẳng hạn như Stalin.
Danh từ "xã hội chủ
nghĩa" không những lừa gạt
được thành phần nhân dân
chấp nhận bất cứ chế độ
nào miễn có cơm ăn áo mặc
mà còn đánh lạc hướng
được nhiều phe phái chống
đối. Muốn nắm được
chính quyền thì phe nào chẳng phải
lo cho xã hội, nghĩa là sự thực
phe nào chẳng phải là xã hội
chủ nghĩa, đáng nhẽ chống
những cái độc tài, cái
tham nhũng, cái phong kiến, cái phân
biệt đối xử, nhiều phe lại
bị dị ứng với danh từ
"xã hội chủ nghĩa", vô tình rơi
vào bẫy của bọn phong kiến kiểu
mới, nên gặp rất nhiều khó
khăn trong sự vận động quần
chúng tham gia. Nhân dân nhiều nước
thế giới đã từng bị
bọn phong kiến kiểu mới lừa
gạt nên thường lo ngại ủng
hộ những phe chống đối, sợ
rằng khi phe nào lên thì cũng trở
thành phong kiến kiểu mới mà
thôi, thôi thì cứ mũ ni che tai,
lo việc sinh sống hàng ngày; dính
dáng vào dân chủ, nhân quyền
có khi mang vạ tù đầy vào
thân. Nhiều người quá nôn
nóng về việc loại trừ bọn
phong kiến kiểu mới đã quên
đi sự việc có vẻ hiển nhiên
đó.
Trong bài "đôi điều
suy nghĩ" viết năm 1993, ông Hà Sĩ
Phu đã nhận định về nhân
dân Việt Nam: "mạnh về hợp quần,
yếu về ý thức xã hội
; 'đạo trung dung' bị hạ xuống thành
phương châm yên thân, nhẫn nhục".
Thực ra, đó là tính chất
chung của nhân loại, của bất cứ
ai sau khi đã hơn một lần bị
những người, mà họ đã
lầm tưởng là lãnh tụ anh
minh, lừa gạt họ. Ðối với
người dân đen, tìm mọi cách
để có đủ cơm ăn áo
mặc, tìm mọi cách để tránh
những đòn thù của bọn
bạo quyền, là những thứ
cần thiết hơn những thứ
"dân chủ, nhân quyền" rất nhiều.
Ai muốn động viên nhân dân tham
gia mà không nghĩ đến những
điều căn bản đó thì
khó thể nào nắm vững được
phản ứng của quần chúng nhân
dân.
Chính những điều
căn bản đó là câu trả
lời câu hỏi nêu ra ở phần
đầu:
"Tại sao nói là tuyệt
đại đa số dân chúng chống
đối sự thống trị của bọn
chúng mà chúng vẫn tồn tại?
Và như vậy có thật là tuyệt
đại đa số chống đối
hay chỉ là sự tuyên truyền của
phe đối lập?"
Nói một cách khác,
dân càng đói khổ thì càng
dễ cai trị, nhà nước kiểm
soát 100% kinh tế thì nhân dân khó
thể nào nổi dậy, và nếu có
nổi dậy thì dễ dàng bị dập
tắt bằng bạo lực.
Theo sự nghiên cứu
của những chuyên viên về tâm
lý thì con người có thể
thích hợp với mọi hoàn cảnh
sau một thời gian chuyển tiếp. Vì
vậy sau một thời gian bị thống
trị bởi phong kiến độc tài,
người dân cũng quen dần và
quên đi những mặt tiêu cực
của bọn phong kiến độc tài để
vui sống. Hơn nữa, với hệ
thống giáo dục và bộ máy tuyên
truyền, với sự bưng bít tin
tức của thế giới bên ngoài,
với những mánh khóe đạo
đức giả, vì xã hội, vì
dân vì nước, chúng có
thể đánh lạc hướng dư
luận quần chúng bằng cách tạo
sự căm thù những kẻ khác,
chẳng hạn như căm thù "chủ nghĩa
tư bản", căm thù "nhân dân Mỹ".
Vì vậy thế giới đã được
chứng kiến: "hàng triệu người
đi biểu tình ủng hộ xã hội
chủ nghĩa ở Cuba mới đây".
Nhân dân Cuba bị nhồi sọ mấy
chục năm nay, bị bưng bít tin tức
ở thế giới bên ngoài,
quá bận rộn với miếng cơm
manh áo, kinh tế còn thấp kém phản
ảnh vào ý thức hệ của
nhân dân: "phe nào cầm quyền thì
cũng vậy thôi, dân đen đằng
nào thì cũng bị bóc lột; cứ
quan sát các nước láng giềng
chung quanh, có cộng sản đâu mà
vẫn nghèo đói, tham nhũng như
rươi v.v… . Ði biểu tình ủng hộ
chế độ đem lại nhiều lợi
ích cho người dân trong chế độ
độc tài:
- không bị nghi ngờ,
theo dõi
- dễ làm ăn, dễ
lấy lòng kẻ có quyền hành
- vui với đám đông
- hòa mình với mọi
người chung quanh
- v.v…
Nước Anh và nhiều
nước Bắc Âu, nhờ kỹ
nghệ hóa từ lâu nên đã
đạt được nền dân chủ
thật, đã bảo vệ được
nhân quyền, mặc dầu vẫn còn
vua chúa về hình thức nhưng nội
dung là dân chủ vì quyền hành
thực sự thuộc về nhân dân.
Nói một cách khác chế độ
vua chúa hay bất kỳ chế độ
nào khác mang tên xã hội chủ
nghĩa hay dân chủ v.v… chẳng qua chỉ
là cái tên gọi, không đáng
để chống đối, để nguyền
rủa v.v… Những kẻ cầm quyền
thực sự, dù là vua thời
phong kiến cũ hay tổng thống hoặc
thủ tướng có thực quyền,
hễ có chính sách cai trị vì
phù hợp với sự phát
triển của đất nước thì
có thể làm cho đất nước
được thanh bình thịnh vượng.
Ngược lại thì làn sóng ngầm
chống đối trong nhân dân sẽ
lớn dần để đến một
lúc sẽ thay thế nhà cầm quyền
bằng bạo lực hay bằng biện pháp
hòa bình bất bạo động.
Chủ nghĩa Mác cũng
như cuộc cách mạng vô sản thế
giới chẳng qua chỉ là công cụ
cho một số người vận dụng
được quần chúng, cướp
được chính quyền, thực
hiện chế độ phong kiến kiểu mới,
với ao ước thầm kín muôn
năm trường trị, thống nhất
giang hồ, với mánh lới mưu
mẹo khôn ngoan hơn các vua chúa thời
phong kiến kiểu cũ. Họ luôn luôn
trui rèn khả năng sách động
quần chúng để vận động
nhân dân tham gia tích cực trong mọi
công việc dưới danh nghĩa "xã
hội chủ nghĩa" mà sự thực
chỉ là để thực hiện những
ao ước thầm kín cá nhân
của họ. Khi thấy khó lừa được
nhân dân với chiêu bài "xã
hội chủ nghĩa" thì họ phải sử
dụng bộ máy tuyên truyền để
nhân dân lẫn lộn khi bị đập
vào mắt khắp nơi khẩu hiệu "yêu
nước là yêu chủ nghĩa xã
hội". Chế độ phong kiến kiểu
mới luôn luôn cần một ban lý
luận để năm vững tình hình,
để tìm cách sách động
quần chúng khi cần, để ngụy
biện chống lại mọi nguồn tư tưởng
có hại cho chế độ, để
khoác cho sự sử dụng bạo lực
một cái áo "chính nghĩa".
Chủ nghĩa Mác còn
cho họ có thể nhân danh "xã hội
chủ nghĩa" để tước đoạt
của người dân những quyền
mà ngay thời phong kiến kiểu cũ
nhân dân còn được hưởng,
chẳng hạn như làm chủ thực
sự mảnh ruộng mà mình cầy
cấy. Họ còn có thể nhân danh
"xã hội chủ nghĩa" để làm
những việc mà nhân loại đã,
đang và sẽ mãi mãi coi là
tội phạm: cướp của, giết
người, chẳng hạn như việc đấu
tố các địa chủ, các nhà
tư sản.
Từ công cụ để
tìm hiểu những ý muốn thầm
kín của nhân dân để sách
động quần chúng đứng lên
lật đổ chính quyền, chủ nghĩa
Mác lại trở thành công cụ
cho chính quyền chuyên chính nắm vững
tư tưởng của những thành
phần chống đối để tiêu
diệt từ trong trứng nước
những mầm mống nổi dậy chống
phong kiến độc tài đội lốt
"chủ nghĩa xã hội", "đạo đức
cách mạng", "vì dân, do dân" v.v…
Ðối với kiến
thức hiện tại của nhân loại
thì chủ nghĩa Mác đã lỗi
thời, nhưng đối với chế
độ phong kiến kiểu cũ thì chủ
nghĩa Mác là một vũ khí lý
luận vô cùng lợi hại, là
một hệ thống lý luận ở trình
độ cao hơn.
Kinh tế là cấu trúc
hạ tầng của một xã hội, nền
kinh tế luôn luôn có xu hướng
tạo ra một cấu trúc thượng
tầng (hệ thống chính trị) thích
hợp với nó, luôn luôn phản
ảnh vào ý thức hệ của
mọi người dân. Khi kinh tế quốc
gia chủ yếu là nông nghiệp thì
cần một chế độ phong kiến kiểu
cũ để dễ phát triển; nhưng
khi nền kinh tế chuyển sang công nghiệp
và thương nghiệp thì chế độ
phong kiến kiểu cũ không còn đáp
ứng được nhu cầu phát
triển nữa và mâu thuẫn bắt
đầu nẩy sinh thúc đẩy nhân
dân nổi dậy lật đổ chính
quyền. Sự phát triển tư bản
chủ nghĩa là sự phát triển
tất yếu của nền kinh tế dựa
trên công nghiệp và thương nghiệp.
Ða số các quốc gia chưa kỹ
nghệ hóa cao trên thế giới,
vừa bị ảnh hưởng của
các tư tưởng dân chủ, vừa
bị trói buộc bởi điều
kiện kinh tế lạc hậu, thường
rơi vào chủ nghĩa phong kiến kiểu
mới với chính quyền tham nhũng,
với bầu cử gian lận, với
giáo điều tôn giáo hay giáo
điều cộng sản v.v… Chính quyền
nào thì cũng nói vì dân do
dân, nhưng làm thì là cai trị,
nhiều khi tàn bạo hơn phong kiến ngày
xưa, tàn bạo hơn sự cai trị
của ngoại bang thời chủ nghĩa
đế quốc. Có những chính
quyền dùng giáo điều tôn
giáo để cai trị dân, để
sử dụng niềm tin của nhân dân
làm công cụ cai trị!
Các chế độ phong
kiến kiểu mới (giáo điều
cộng sản hay tôn giáo) luôn luôn
nêu cao đạo đức để
trị dân nhưng bản chất lại mất
đạo đức nên mâu thuẫn
triền miên. Chính quyền nào cũng
độc tài, tham nhũng và luôn
luôn hô hào chống độc tài,
chống tham nhũng. Khi chính sách của
chính quyền phù hợp với
sự phát triển kinh tế của quốc
gia thì dù có "độc tài, tham
nhũng", nhân dân cũng vui vẻ chấp
nhận để được sống trong
hòa bình hạnh phúc (dù là
thứ hạnh phúc rất tương đối),
dù dân chủ, nhân quyền còn
là chuyện xa vời. Có nhà lãnh
đạo đã từng than "nếu
diệt hết tham nhũng thì không có
người để làm việc nữa".
Sự thanh liêm, đạo đức
của các nhà lãnh đạo tuy cần
thiết nhưng cũng hoàn toàn vô
ích nếu chính sách không phù
hợp với sự phát triển
kinh tế của nhân dân, và khi đó
chỉ có vũ lực mới đảm
bảo được sự tồn tại
của chính quyền.
Muốn chữa khỏi bệnh
thì phải chẩn bệnh đúng và
dùng đúng thuốc. Bệnh "độc
tài, phong kiến, tham nhũng" cũng giống
như các bệnh khác. Người
ta thường chẩn bệnh sai và dùng
thuốc sai vì bị che mờ bởi
quyền lực và lợi ích cá
nhân. Sự thực là do sự
mâu thuẫn giữa nền kinh tế
với chính sách kinh tế của
chính quyền cũng như với thể
chế chính trị của xã hội. Những
kẻ cầm quyền càng kêu gọi chống
tham nhũng thông thường lại là
những kẻ tham nhũng nhất. Nhiệm
vụ của kẻ cầm quyền không phải
là để kêu gọi chống tham nhũng
mà là để hoạch định và
thi hành một chính sách kinh tế phù
hợp với sự phát triển
của nền kinh tế hiện hữu, thực
hiện sự bình đẳng của nhân
dân trước pháp luật.
Trong các nước kỹ
nghệ hóa cao, tình trạng kinh tế phát
triển cao đã phản ánh vào
tư tưởng nhân dân nên không
có chính quyền nào có thể
đi ngược lại quyền lợi
của nhân dân được. Thực
hiện một chính sách kinh tế phù
hợp với sự phát triển
và thực hiện sự bình đẳng
của nhân dân trước pháp
luật trở thành chuyện dĩ nhiên
và không một chính quyền nào
dám vi phạm.
Ngược lại trong các
nước kỹ nghệ hóa còn trong
thời kỳ phôi thai, tình trạng
kinh tế thấp kém, thiếu ăn thiếu
mặc đã phản ảnh vào tư
tưởng đa số nhân dân nên
thông thường chính quyền nào
cũng có xu hướng độc tài
phong kiến dù đội lốt "xã
hội chủ nghĩa" hay "tôn giáo chủ
nghĩa". Chính quyền nào cũng dùng
đủ mọi mánh khóe thủ đoạn,
mọi biện pháp ngụy biện, đạo
đức giả để giữ vững
quyền hành cho đến khi họ bị
lật đổ mà thôi. Sự đấu
tranh của những phần tử tích
cực dĩ nhiên đóng vai trò
quyết định trong sự lật đổ
ấy. Nhưng hoạt động của các
phần tử ấy chỉ thành công
một khi họ vận động được
quần chúng nhân dân tham gia. Sự
tham gia sôi sục hay thái độ lạnh
nhạt của nhân dân là do:
- Sự thúc đẩy
ngấm ngầm của nhu cầu phát triển
về kinh tế của nhân dân. Chính
quyền dù độc tài phong kiến
đến mấy, nếu hóa giải được
sự thúc đẩy này, cũng
khó thể nào bị lật đổ.
- Các nhà hoạt động
hiểu được những đau
khổ và ước vọng của nhân
dân và có những hành động
để làm dịu bớt những
đau khổ đó cũng như để
đáp ứng những ước
vọng chính đáng của nhân dân.
Tháng 6, năm 2002
Phó Thường Dân
|