Làm
đẹp tâm hồn bằng những
niềm tin sống động
Con người chính
là niềm tin của họ (Anton Tchekhov). Tất
cả mọi hành động của chúng
ta đều dựa trên những niềm
tin trong tâm hồn của chúng ta. Từ
việc phân định điều phải
điều trái đến việc quyết
định thái độ cũng như hành
động của mình, ai ai cũng dựa
trên niềm tin của bản thân mình.
Có những người luôn luôn
lấy trí thức, lấy khoa học làm
căn cứ cho mọi hành động
của mình; nhưng chẳng qua là họ
có niềm tin tuyệt đối vào
những kiến thức cũng như
phương pháp luận của họ và
chẳng may cho họ là những thứ
đó thông thường luôn luôn
tiến hóa. Có những người
luôn luôn lấy cái lợi làm
căn cứ, cái gì trái với
lợi ích của họ hay của những
người chung lợi ích với
họ thì không chấp nhận; nhưng chẳng
qua khi họ ủng hộ một việc gì là
do họ tin rằng việc ấy có lợi
cho họ, trong khi đó nhiều khi việc
đó lại gây ra những cái
hại lớn lao về sau cho bản thân
họ, chẳng hạn như những người
nghèo khổ đã ủng hộ cách
mạng vô sản vì tin tưởng rằng
có lợi cho họ, sau khi cách mạng
vô sản thành công thì họ lại
càng nghèo khổ hơn thì đã
quá muộn. Có những người
lý tưởng hóa niềm tin của
mình, cho rằng tất cả những
niềm tin khác đều là sai lầm,
tội lỗi chẳng hạn như người
khủng bố giết hại thường
dân vô tội vì họ tin tưởng
rằng họ đang thi hành ý của
Thượng đế và họ sẽ
trở thành "thánh tử vì
đạo" sau khi hoàn tất công tác.
Như vậy, niềm tin chính
là nội dung của tâm hồn, và
trong cuộc sống nếu thiếu niềm tin
thì không những tâm hồn sẽ
vô cùng nghèo nàn và trống
rỗng, mà sức khỏe vật chất
và tinh thần cũng dễ bị suy thoái.
Hơn thế nữa, người sống
thiếu niềm tin hay hoang mang dao động, dễ
rơi vào những cạm bẫy trong đường
đời, dễ trở thành kiêu
căng vô lối khi thành công, mê
tín dị đoan khi thất bại. Trái
lại, nhiều khi những niềm tin không
còn phù hợp với hoàn
cảnh thiên nhiên và xã hội chung
quanh thì lại trở thành những
bức tường vô hình giam hãm
tâm hồn con người, tạo ra những
đau đớn vô ích; những
hành động đi ngược lại
dòng tiến hóa của lịch sử;
chẳng hạn như niềm tin cố định
"phải áp dụng chuyên chính vô
sản thì mới xây dựng được
một xã hội nhân bản" đã
tạo ra hàng trăm triệu nạn nhân
vô tội. Khi niềm tin trở thành
những giáo điều bất biến,
những niềm tin cố định, không
có tính chất tiến hóa, thì
sẽ thúc đẩy con người
đi ngược lại với trào
lưu tiến hóa của nhân loại.
Nói một cách khác,
giá trị của cuộc sống chính
là giá trị của những niềm
tin, và nếu muốn luôn luôn sống
trong hạnh phúc, chúng ta cần xét
lại những niềm tin cố định,
phát triển và củng cố những
niềm tin sống động. Việc xét
lại những niềm tin cố định
phụ thuộc vào những niềm tin sẵn
có trong tâm hồn chúng ta, nhưng việc
phát triển và củng cố những
niềm tin sống động thì ai ai cũng
có thể tìm hiểu và thực
hành để cải thiện đời
sống của bản thân mình. Chúng
ta thử bàn đến một vài
niềm tin sống động sau đây:
1) Cảnh nào cũng
có cái hay.
Chúng ta thường nghe
nói:
Cảnh nào cảnh chẳng
đeo sầu
(trích Kiều)
Quan điểm đó không
giúp gì cho ta thoát cảnh khó khăn
mà có thể nhấn chìm ta trong những
cảm xúc tiêu cực một cách
vô ích. Thực ra hoàn cảnh nào
cũng có những mặt tích cực
và tiêu cực của nó, chỉ
cần thay đổi quan điểm là ta
có thể thay đổi tình trạng tâm
lý của mình, chẳng hạn trời
mưa làm cho người thành phố
không hoạt động ngoài trời
được nên cảm thấy buồn
bã nhưng lại làm cho nhà nông
vui mừng vì nghĩ đến sự
phát triển của cây cỏ (mưa lúc
nào mát mặt lúc đó). Trời
mưa là một hiện tượng thiên
nhiên, buồn hay vui là tùy quan điểm
cá nhân. Có người nêu
câu hỏi:
- Tôi sống ở thành
phố, phải chăng cảnh trời mưa
rõ ràng là đeo sầu phải ?
Sự thực ra dù sống
ở thành phố, cảnh trời
mưa vẫn có cái hay, chẳng hạn
như:
- Nhờ trời mưa
nên cỏ cây xanh tốt làm tăng
vẻ đẹp thiên nhiên khắp nơi.
- Trời mưa làm sạch
bầu không khí chung quanh ta.
- Trời mưa làm hộ
ta việc tưới nước sân
cỏ sau nhà.
- Trời mưa tạo dịp
gia đình sum họp đầm ấm.
- Trời mưa tạo dịp
cho ta sắp xếp nhà cửa gọn gàng
ngăn nắp hơn.
-V.v...
Cứ tiếp tục suy nghĩ
như vậy, ta sẽ quên mau những mặt
tiêu cực của cảnh trời mưa.
Tiếp tục nhận định các mặt
tích cực của mọi hiện tượng
xảy ra chung quanh, ta sẽ dần dần phát
triển được niềm tin sống
động "cảnh nào cũng có cái
hay" trong tâm hồn ta.
Ngay trong những hoàn cảnh
mà đa số loài người cho
là không chấp nhận được
chẳng hạn như chẳng may bị sống
trong "địa ngục của trần gian", nhiều
người vẫn giữ được
tự do tư tưởng, vẫn trui rèn
được sức mạnh tinh thần
v.v...
Lịch sử đã
để lại cho chúng ta hàng muôn
vàn gương sáng, biết bao nhiêu
người bị tật nguyền lại trở
thành những thiên tài, ích quốc,
lợi dân. Hoàn cảnh càng khó
khăn thì con người càng được
trưởng thành hơn. Những anh
hùng thực sự của nhân loại
thường xuất thân từ những
hoàn cảnh oái oăm.
Nói tóm lại dù
ở trong hoàn cảnh nào, chúng
ta cũng có thể tìm thấy những
mặt có lợi cho mình để vươn
lên. Từ quan điểm đó,
nếu chúng ta tiếp tục vận dụng
các mặt tích cực của mọi hoàn
cảnh để đạt được
những mục tiêu mà mình mong muốn,
dần dần quan điểm đó sẽ
biến thành một niềm tin. Nhưng đó
không phải là một niềm tin cố
định. Trái lại, chúng ta phải
luôn luôn vận dụng hoàn cảnh mới,
vì vậy niềm tin đó luôn luôn
sống động, luôn luôn thích ứng
với mọi hoàn cảnh chung quanh. Sự
củng cố niềm tin sống động
này sẽ đem lại cho chúng ta nhiều
cơ hội để thực hiện cuộc
sống của chính mình thành công
hơn, hạnh phúc hơn.
2) Thất bại là mẹ
thành công.
Chúng ta thường được
an ủi mỗi lần thất bại rằng
"thất bại là mẹ thành công",
nhưng sao mỗi lần thất bại thì
lại cảm thấy phải chăng đó
chỉ là một cách để an ủi
của thân nhân.
Thực ra nếu chúng
ta suy nghĩ kỹ hơn thì chúng ta thấy
rằng tất cả những thành công
lớn đều phải có sự
tích lũy kinh nghiệm của những
thất bại trong quá khứ. Không
có thất bại thì chúng ta không
học được những kinh nghiệm
quý báu. Nghe người khác kể
lại kinh nghiệm bản thân của họ,
câu chuyện vào tai này thường
sẽ đi ra ở tai kia ; nhưng nếu
là những kinh nghiệm, những đau
đớn của bản thân thì khó
mà chúng ta quên được. Chỉ
có sự khác biệt giữa người
này với kẻ khác là cùng
một thất bại, người này
để cho những cảm xúc tiêu
cực xói mòn tinh thần và thể
chất của mình, trong khi
kẻ khác lại biến
hóa được những cảm
giác đó thành kinh nghiệm, thành
vũ khí cho những sự đấu
tranh trong tương lai. Nói một cách khác,
đối với một số người
thì sự thất bại chỉ là một
sự thua thiệt đơn thuần, nhưng
đối với những người
khác thì đó lại là dịp
để học hỏi kinh nghiệm, để
trưởng thành hơn, để chuẩn
bị cho những thành công to lớn
hơn trong tương lai.
Như vậy chúng ta có
thể biến lời an ủi "thất bại
là mẹ thành công" thành một
quan niệm sống, để dần dần
trở thành một phương tiện hóa
giải hữu hiệu các cảm xúc
tiêu cực mỗi khi thất bại.
Phương tây, có người
cho rằng nên xóa bỏ hẳn phạm
trù "thất bại" bằng cách thay thế
bằng phạm trù "kết quả" (Anthony Robbins).
Mọi hành động của chúng ta đều
mang lại kết quả, có những kết
quả mang lại lợi ích trước
mắt mà chúng ta thường gọi
là thành công, có những kết
quả không mang lại lợi ích tức
thời nhưng về sau lại mang lại lợi
ích gấp bội lần vì những
kinh nghiệm ta rút tỉa được
từ những kết quả đó.
Cùng diễn tả một
ý tưởng giống nhau nhưng thành
ngữ phương đông "thất bại
là mẹ thành công" không cần
phủ định phạm trù "thất bại"
mà lại biến nó thành một tiêu
biểu sâu xa hơn "là mẹ thành
công".
Từ thành ngữ
của cha ông để lại, tiếp tục
quan sát mọi hiện tượng xảy
ra chung quanh, chúng ta có thể biến thành
ngữ đó thành một quan niệm
vững chắc về cuộc sống, rồi
dần dần trở thành một niềm
tin trong tâm hồn chúng ta. Nhưng đó
không phải là một niềm tin cố
định vì ta luôn luôn cần rút
tỉa những kinh nghiệm từ mọi
thất bại trong cuộc sống để biến
nó thành những thành công lớn
hơn. Vì vậy niềm tin đó là
một niềm tin sống động, luôn
luôn thúc đẩy ta tiến bộ hơn,
lão luyện hơn, thông thái hơn,
hạnh phúc hơn, v.v...
3) Tình yêu là nguồn
sống của tâm hồn.
Chúng ta thường lầm
lẫn tình yêu với sự mù
quáng, lầm lẫn cho rằng tình yêu
xuất phát tự con tim, lầm lẫn
tình yêu với sự ích kỷ,
rồi rên rỉ:
Nếu biết rằng yêu
là đau khổ !
Chúng ta cũng thường
lầm lẫn khi cho rằng khi sử dụng
lý trí nhiều thì con người
ít tình cảm, vì lý trí là
do não bộ điều khiển trong khi tình
cảm là do sự rung động của
trái tim.
Khoa học đã chế
tạo ra được tim nhân tạo từ
lâu, đã thành công trong việc
ghép tim, nhưng vì tập quán lâu
đời, đa số mọi nền văn
hóa đều dùng trái tim để
tiêu biểu cho tình yêu.
Tình yêu và lý
trí đều là kết quả của
sự vận động của não bộ
chúng ta. Tình yêu mù quáng thực
ra chỉ là một phản ứng tự
phát của những nhu cầu sinh lý
và tâm lý, một khi những nhu
cầu này không được đáp
ứng thì sẽ tạo ra trạng thái
tâm lý tuyệt vọng, đau khổ. Loại
tình yêu này cũng từng được
một số các tâm hồn nghệ sĩ
ca tụng và lãng mạng hóa. Trong loại
tình yêu này con người lại
thường hay lầm lẫn tình yêu
với lòng ích kỷ và sự
chiếm đoạt, nên khi tình yêu
không được đáp ứng
có thể trở thành thù hận.
Loại tình yêu này thường
mâu thuẫn với lý trí của
người trong cuộc, biết là lầm
vẫn cứ yêu, biết là sai vẫn
cứ yêu, càng yêu thì càng
xa rời thực tế;
Áo nàng vàng
anh về thương hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến
lá sân trường
(thơ Nguyên Sa)
Tình yêu nước cực
đoan (không phải tình yêu nước
giả hiệu của những người
đòi độc quyền yêu nước),
tình yêu dân tộc cực đoan
cũng có thể xếp chung vào loại
tình yêu này, nghĩa là người
đang yêu thường lẫn lộn
với lòng ích kỷ của bản
thân mình.
Vì chỉ là phản ứng
tự phát của những nhu cầu
sinh lý và tâm lý nên loại
tình yêu này tuy có thể làm
cho tâm hồn rung động, phấn khởi
hoặc tê liệt, nhưng không phải là
nguồn sống của tâm hồn.
Khi tình yêu là sản
phẩm của lý trí, là những
phản ứng tự giác trước
những nhu cầu sinh lý và tâm
lý thì tình yêu vẫn không mất
đi tính lãng mạng mà còn thêm
tính sáng tạo.
Sợ thơ tình
không đủ nghĩa yêu đương
Anh pha mực cho vừa
mầu áo tím
(thơ Nguyên Sa)
Hơn thế nữa, loại
tình yêu này không những không
có quan hệ gì đến tính ích
kỷ, mà lại liên quan mật thiết
với tính vị tha, lòng bác ái,
đức từ bi. Loại tình yêu
này mang lại sự rung động cho tâm
hồn nhưng không bao giờ làm tâm
hồn tê liệt, không bao giờ làm
tâm hồn đau khổ.
Với loại tình yêu
này, con người mong muốn cho người
mình yêu được hạnh phúc
mà không kèm theo bất cứ điều
kiện nào.
Loại tình yêu này
giúp cho tâm hồn ta mở rộng,
lớn lên gấp bội phần, giúp
ta có thể tha thứ được
kẻ thù, cảm hóa được
người tội lỗi cải tà quy
chánh.
Loại tình yêu này
còn giúp chúng ta có được
sự an lạc trong tâm hồn, sự
sáng suốt của trí tuệ, sự
can đảm trong việc thực hiện những
gì mình mong muốn.
Nói tóm lại tình
yêu thực sự không thể là
tình yêu mù quáng mà phải
là sản phẩm của lý trí, phải
hoàn toàn đối lập với
lòng ích kỷ, phải phù hợp
với lòng bác ái, đức
từ bi.
Như vậy, tình yêu không
những đem lại sự rung động,
tính lãng mạng cho tâm hồn mà
còn trở thành nguồn sống của
tâm hồn.
Quan niệm này giúp cho
chúng ta luôn luôn cố gắng dùng
lý trí để loại tính ích
kỷ ra khỏi tình yêu, để dần
dần tiến tới tình yêu vô
điều kiện, nguồn sống vô tận
của tâm hồn. Với thời
gian, dần dần quan niệm đó sẽ
biến thành một niềm tin. Nhưng đó
không phải là một niềm tin cố
định mà là một niềm tin sống
động, luôn luôn thúc đẩy
ta yêu cuộc đời, yêu đất
nước, yêu dân tộc, yêu nhân
loại, yêu thiên nhiên v.v...
4) Việc làm là một
trò chơi.
Những ảnh hưởng
lâu đời từ thời
chế độ nô lệ đến chế
độ phong kiến, của sự bóc
lột sức lao động của người
khác của giai đoạn đầu tiên
của sự phát triển tư bản chủ
nghĩa, của sự thiếu ăn, thiếu
mặc, sự nghèo nàn lạc hậu,
sự cưỡng bức lao động
khổ sai trong các cuộc cách mạng vô
sản v.v... làm cho đa số nhân loại
còn có nhiều thành kiến về
sự làm việc.
Ngay khi sống ở xã
hội kỹ nghệ hóa cao, đa số vẫn
còn gọi chuyện đi làm là "đi
cày", nghĩa là vô cùng nặng
nhọc và chẳng có gì hứng
thú.
Nhưng nếu chúng ta thử
so sánh giữa việc làm và trò
chơi thì chúng ta thấy có những
điểm giống nhau sau đây :
- sử dụng khả năng
thể chất và tinh thần để hoàn
thành một kết quả.
- phải tôn trọng một
số quy định thích ứng.
- phải kết hợp với
hành động của người khác.
- phải có những dụng
cụ thích hợp.
- v.v...
và những điểm
khác nhau:
- Làm việc thường
có thù lao, nhưng nhiều trò chơi
hiện nay chẳng hạn như đá banh
trong đội tuyển quốc tế thì
thù lao lại lớn hơn gấp bội.
- Trò chơi thường
có tính cách tự nguyện, nhưng
ngày nay số người tình nguyện
làm việc không công cũng càng
ngày càng tăng.
Sự so sánh chứng
tỏ rằng việc làm và trò chơi
cũng chẳng khác nhau gì về những
điều kiện vật chất để
thực hiện. Nhưng từ sự so
sánh đó đến quan niệm "làm
việc là một trò chơi" là một
quá trình tự đấu tranh để
có thể nhận thức được
những mặt tích cực của làm
việc:
- đem lại ấm no cho cá
nhân và gia đình;
- cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần;
- đóng góp cho sự
phát triển của xã hội loài
người;
- đem lại ý nghĩa
cho cuộc sống;
- đem lại sự sáng
tạo, một yếu tố quan trọng để
tạo nên hạnh phúc của con người;
- đem lại sự thỏa
mãn tâm lý;
- làm việc là thể
hiện cho sự sống của một người,
cho giá trị cá nhân của người
đó;
- làm việc là một
sự phối hợp của trí óc
và chân tay để hoạt động
một cách hữu hiệu; làm việc
là hoạt động cần thiết cho trí
não và tay chân để duy trì
và phát triển kỹ năng, để
tránh bị thoái hóa, đào thải
theo quy luật thiên nhiên;
- chỉ có sự làm
việc mới phản ảnh được
giá trị thực của một người.
Dù học thức uyên bác, dù
bác ái từ bi, nhưng nếu không
làm việc thì cũng chỉ là con
số không to lớn và có khi
còn là ký sinh trùng của xã
hội. Chỉ có làm việc thì học
thức uyên thâm mới có
giá trị, chỉ có làm việc thì
bác ái từ bi mới thật
là từ bi bác ái. Ngược
lại thì chẳng qua chỉ là đống
rác trí thức và đạo đức
giả. Làm sao ta từ bi bác ái
được nếu ta cứ muốn
"của người phúc ta", cướp
công lao động của người khác
để bố thí cho kẻ nghèo chẳng
qua chỉ là một sự lừa gạt;
- làm việc là một
yếu tố quan trọng nhất trong đời
sống con người. Chỉ trong làm
việc con người mới có sáng
tạo, mới thực sự sống
một cuộc sống cao hơn loài vật.
Từ sự so sánh
những điểm tương đồng
giữa làm việc và trò chơi,
đến nhận thức những mặt
tích cực lớn lao của sự
làm việc, một số lớn trong chúng
ta chưa chắc đã chấp nhận quan
niệm rằng làm việc là một trò
chơi. Lý do đơn giản là vì
chúng ta chưa tách rời được
những sự liên kết các sự
kiện trong não bộ của chúng ta:
- trò chơi đã được
liên kết chặt chẽ với khoái
lạc;
- làm việc đã được
liên kết chặt chẽ với đau
khổ.
Vì vậy chúng ta phải
tìm cách liên kết được
sự khoái lạc với sự làm
việc chẳng hạn như thấy thích thú
khi sáng tạo, vui tươi khi thấy thành
quả của việc mình làm v.v...; và
liên kết được sự đau
khổ với trò chơi chẳng hạn
như cảm thấy ê chề nhục nhã
khi trở về nhà sau khi thua bạc ở
Casino, cảm thấy tự khinh mình sau khi
ăn nhậu quá chén, ăn nói bậy
bạ, nôn mửa v.v...
Tiếp tục tạo những
liên kết đó, chúng ta sẽ
dần dần xóa bỏ được
những sự liên kết cũ trong
phần vô thức của não bộ
mình, và chỉ khi đó chúng ta
mới có thể quan niệm rằng "làm
việc là một trò chơi".
Vận dụng quan niệm đó
trong cuộc sống hàng ngày thì chúng
ta sẽ có cảm giác khoái lạc
mỗi khi làm việc, và dần dần
quan điểm đó sẽ biến thành
một niềm tin. Dĩ nhiên đó không
phải là một niềm tin cố định
mà là một niềm tin sống động
vì nó luôn luôn thúc đẩy
ta tìm tòi những khoái lạc do
sự làm việc mang lại.
5) Mọi thói hư tật
xấu là do sự phát triển tâm
lý thiếu lành mạnh.
Chúng ta thường nghe
nói đến tứ đổ tường,
những thói hư tật xấu làm
tan nát biết bao gia đình, hủy hoại
biết bao nhiêu tài năng, lãng phí
biết bao nhiêu cuộc sống.
Những thói hư tật
xấu đó thường có tính
cách tạo ra sự ghiền, nghĩa là
càng ngày nhu cầu càng tăng và
nếu nhu cầu không được thỏa
mãn thì người nghiện cảm
thấy tâm thần bấn loạn, chân
tay run rẩy, và trong những trường
hợp quá nặng có thể làm
chết kẻ ghiền!
Những thói hư đó
thực ra bắt nguồn từ những
nhu cầu tâm lý rất đơn giản:
- Một đứa trẻ
tập hút thuốc (kể cả xì ke ma
túy) để tỏ ra là mình trưởng
thành hơn bè bạn.
- Một người sau những
ngày tháng làm việc cặm cụi đi
Casino để tự cho phép mình "hưởng
thụ".
- Một người uống
rượu để tự cho phép mình
"hưởng thụ" hoặc để quên
đi những chuyện bực mình.
- Một người chơi
bời để thỏa mãn nhu cầu
tâm lý "hưởng thụ hơn người
khác".
- V.v...
Sự thỏa mãn những
nhu cầu tâm lý đó thường
dẫn đến sự gia tăng cường
độ của nhu cầu, nên kẻ trong
cuộc tiếp tục lún sâu, mất dần
sự tự chủ.
Những sự thỏa
mãn đó cũng như các hiện
tượng khác trong thiên nhiên và
xã hội, nghĩa là cũng tuân
theo quy luật "những sự biến đổi
về lượng sẽ dẫn đến
những sự biến đổi về
chất", nghĩa là khi số lần thỏa
mãn đạt đến một số lượng
bão hòa thì sự thỏa mãn
nhu cầu tâm lý đơn giản bị
biến chất thành "ghiền", nghĩa là
người trong cuộc hoàn toàn mất
tự chủ, nếu cưỡng lại
thì tâm hồn bấn loạn, tay chân
run rẩy v.v... Những lúc tỉnh, nhiều
người cũng mong muốn thoát khỏi
cái thòng lọng vô hình đó,
nhưng nếu không nhận định được
những nguyên nhân tâm lý thì
chỉ ít lâu sau lại trở về
đường cũ vì lầm lẫn
cho đó là bản chất của tâm
hồn mình !
Mọi loại ghiền đều
có thể chữa trị bằng cách
chữa tận gốc, nghĩa là bằng
cách nhận thức các nhu cầu tâm
lý đơn giản lúc đầu
và vận dụng quy luật "những sự
biến đổi về lượng sẽ
dẫn đến những sự biến
đổi về chất" một cách tự
giác để xây dựng một tình
trạng tâm lý lành mạnh. Dĩ nhiên
nếu bản thân người trong cuộc
tham dự tích cực vào sự
vận dụng quy luật thì sẽ lành
bịnh mau chóng; thông thường sự
giúp đỡ đúng cách của
những người thân thuộc và
của xã hội rất là cần thiết,
đôi khi người ta cũng cần
chữa trị bằng các chuyên viên
về tâm lý.
Nói tóm lại nguyên
nhân của những thói hư tật
xấu chính là sự phát triển
tâm lý thiếu lành mạnh. Quan điểm
này giúp ta dần dần bỏ được
những thói hư tật xấu của
bản thân mình, giúp ta bớt dần
thành kiến đối với những
kẻ lầm đường lạc lối,
giúp ta dần dần tạo được
những nhu cầu tâm lý lành mạnh
chẳng hạn như tìm được
khoái lạc trong sự giúp đỡ
những kẻ gặp khó khăn, tìm
được hứng thú trong sáng
tạo, tìm được sự an lạc
của tâm hồn trong những hành
động từ bi, bác ái.
Quan điểm này với
thời gian sẽ dần dần biến
thành một niềm tin. Nhưng đó
không phải là một niềm tin cố
định mà là một niềm tin sống
động luôn luôn thúc đẩy
chúng ta trưởng thành hơn về
phương diện tâm lý, luôn luôn
phát hiện được những
khoái lạc tuyệt vời trong sự
thỏa mãn những nhu cầu tâm lý
lành mạnh.
6) Sống là vận động.
Chúng ta thường lầm
lẫn cho rằng "sự nghỉ ngơi, sự
nhàn hạ" là những thứ bổ
ích cho cuộc sống và ai không thường
xuyên được hưởng "sự
nghỉ ngơi, sự nhàn hạ" là
người không được hưởng
phúc.
Dĩ nhiên sau những
giờ làm việc căng thẳng, ai
cũng cần nghỉ ngơi và khi đó
sự nghỉ ngơi đem lại cho ta những
cảm giác thoải mái, dễ chịu,
yêu đời. Nhưng nếu quan niệm
"sự nghỉ ngơi, sự nhàn hạ"
là mục đích của cuộc sống
thì đó là sự lầm lẫn
vô cùng tai hại.
Sự nghỉ ngơi chỉ
là nhu cầu ngắn hạn để lấy
lại sức sau khi cơ thể bị lạm
dụng, nghĩa là sau khi sử dụng quá
độ năng lực thể chất hay
tinh thần. Ngoài thời gian ngủ hàng
ngày khoảng từ 6 tới 9 giờ
tùy theo cơ thể từng người,
sự sống chính là sự vận
động của cơ thể con người,
bao gồm cả bộ óc. Sự vận
động quá độ cơ thể gây
nên mệt mỏi, cần nghỉ ngơi. Nhưng
sự thiếu vận động thì lại
gây nên những tai hại lớn
lao mà ít ai để ý đến
vì mang sẵn một quan niệm sai lầm cho
rằng sự nghỉ ngơi đem lại phúc
lợi cho cơ thể, là một hình
thức hưởng thụ cuộc đời.
Nếu vận động không
đủ, các bộ phận của cơ thể
chúng ta, kể cả bộ óc đều
bị thoái hóa, có ảnh hưởng
tai hại rất lớn tới sức
khỏe tinh thần và thể chất của
chúng ta. Chỉ có sự vận động
mới làm máu huyết lưu thông
tốt, trí não sáng suốt, cơ
thể lành mạnh. Sự sống của
cơ thể chính là sự vận động
không ngừng với một cường
độ nhanh hay chậm tùy theo điều
kiện của từng cá nhân. Sự
vận động với cường
độ phù hợp của mỗi cơ
thể, không những không làm cho
cơ thể mệt mỏi mà còn giúp
cho cơ thể lành mạnh, ít bệnh tật.
Các bộ phận của cơ thể cần
được vận động giống
như cây cần có nắng và nước
để sống, bắp thịt không vận
động sẽ teo dần, khối não
không vận động sẽ trở thành
ù lì, mất sáng suốt.
Càng thiếu vận động
thì con người càng có xu hướng
trở thành lười hơn, càng
sợ khó sợ khổ hơn, và
tệ hại nhất là càng cảm thấy
buồn chán, khổ sở hơn! Sau cảm
giác thoải mái trong lúc đầu,
người thiếu vận động xa dần
cuộc sống, thoái hóa và tiến
về cõi chết.
Nhận thức "sống là
vận động" lúc đầu có
thể trái với quan niệm hưởng
nhàn của một số người,
nhưng một khi trở thành một quan
niệm thì nó bắt đầu mang lại
những phúc lợi lớn lao cho
người trong cuộc. Càng vận động
tự giác thì càng cảm thấy
những cảm súc tích cực xuất
hiện và dần dần quan niệm đó
sẽ biến thành một niềm tin. Nhưng
đó không phải là một niềm
tin cố định mà là một niềm
tin sống động vì nó luôn luôn
thúc đẩy ta sống hòa nhịp
với sự vận động không
ngừng của thiên nhiên và xã
hội.
7) Cuộc sống là một
phép nhiệm mầu của thiên nhiên.
Nhu cầu được
thấy những phép nhiệm mầu là
một nhu cầu thơ mộng của con người,
vì vậy chúng ta thường thích
xem ảo thuật nhất là khi còn trẻ.
Nhưng nhu cầu này đôi khi cũng
bị biến chất để trở thành
mê tín dị đoan hoặc tệ nạn
thần thánh hóa lãnh tụ hoặc
bị những kẻ thiếu lương thiện
lạm dụng để lừa gạt những
người ngây thơ.
Nhưng nếu chúng ta quan
sát vạn vật chung quanh ta và nếu chúng
ta so sánh bản thân mình với
vạn vật, từ vật vô tri vô
giác đến muôn vàn loại cây
cỏ, đến muôn loài, thì chỉ
có con người là tự nhận
thức được bản thân mình,
lịch sử của mình, sự tiến
hóa của mình v.v... Phải chăng cuộc
sống của chính bản thân ta là
một phép nhiệm mầu của thiên
nhiên. So với trò ảo thuật mà
chúng ta ưa thích thì cuộc sống
của bản thân mình quả là phép
nhiệm mầu tuyệt diệu của thiên
nhiên. Tuyệt diệu đến mức
độ chúng ta có cả tự do
để khóc để cười,
để buồn, để vui, để tìm
cách xa lánh cuộc đời hay để
tiếp tay con tạo sáng tạo ra chính cuộc
đời mình bằng sự làm
việc bằng sự suy nghĩ, sự đấu
tranh.
Phép nhiệm mầu đó
tuyệt diệu đến mức cho phép
sản phẩm của nó có khả năng
tự hủy hoại và hủy hoại các
sản phẩm khác bằng chiến tranh, bằng
khủng bố v.v...
Và tất cả các
sản phẩm đó đều tuân
theo quy luật của thiên nhiên nghĩa làsinh
ra, lớn lên, già đi rồi mất
đi.
Phải chăng phép nhiệm
mầu này cho phép chúng ta sống
một cách tự giác để tiếp
tay cho con tạo sáng tác ra chính cuộc
đời mình.
Nhận thức "cuộc sống
là một phép nhiệm mầu của thiên
nhiên" thúc đẩy ta vươn lên
nắm lấy cơ hội để góp
phần tích cực vào phép nhiệm
mầu đó, để tạo "thiên
đường chốn trần gian".
Từ ý định
đóng góp đó, nhận thức
sẽ biến dần thành quan niệm cá
nhân. Với thời gian, quan niệm
cá nhân sẽ biến thành một
niềm tin, và đó là một niềm
tin sống động, luôn luôn thúc
đẩy ta sống vui với phép nhiệm
mầu của thiên nhiên đang thể
hiện trong tâm hồn ta.
Sự phát triển và
củng cố những niềm tin sống
động nói trên có thể giúp
ta tự tạo cho mình một cuộc sống
vô cùng tích cực và lạc
quan:
- hoàn cảnh nào cũng
có thể đem lại cho chúng ta những
điều thích thú, cũng có thể
đem lại cho chúng ta những kinh nghiệm
ít nhiều quý báu;
- yêu mình, yêu người,
yêu thiên nhiên để phong phú
hóa tâm hồn;
- tìm được lạc
thú trong công việc hàng ngày;
- loại bỏ được
mọi thói hư tật xấu để tâm
hồn phát triển lành mạnh;
- sống phù hợp với
sự vận động không ngừng
của thế giới chung quanh;
- sống tươi vui để
làm tăng sự huyền diệu của
thiên nhiên trong sự sáng tạo ra
bản thân mình.
Phó Thường Dân
Tháng 12 năm 2001
|